Bác bỏ các luận điệu xuyên tạc về chính sách dân tộc ở Việt Nam hiện nay

Refuting distorted claims regarding current ethnic policies in Vietnam

TS. Lâm Văn Đồng
Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định

(Quanlynhauoc.vn) – Chính sách dân tộc có ý nghĩa đối với bảo đảm bình đẳng, củng cố đại đoàn kết toàn dân tộc, phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số, góp phần giữ vững ổn định chính trị – xã hội. Tuy nhiên, trong điều kiện còn những khó khăn về kinh tế – xã hội, chênh lệch phát triển, hạn chế trong thực thi công vụ của một bộ phận cán bộ, công chức… các thế lực thù địch đã lợi dụng cắt xén, tách khỏi bối cảnh và khái quát hóa sai lệch, làm méo mó nhận thức về chính sách dân tộc và ảnh hưởng không nhỏ đến niềm tin xã hội. Do đó, việc nhận diện các nhóm luận điệu xuyên tạc, phân tích thủ đoạn bóp méo thông tin và kiểm chứng bằng cơ sở chính trị, pháp lý cũng như những bằng chứng thực tiễn là việc làm cần thiết trong bối cảnh hiện nay.

Từ khóa: Chính sách dân tộc; dân tộc thiểu số; luận điệu xuyên tạc; đấu tranh phản bác.

Abstract: Ethnic policy plays a significant role in ensuring equality, strengthening national unity, promoting the development of ethnic minority areas, and contributing to the maintenance of political and social stability. However, amid persistent socio-economic challenges, development disparities, and certain limitations in the performance of public duties by a segment of cadres and civil servants, hostile forces have exploited these issues by selectively quoting, decontextualizing, and misrepresenting information. Such practices distort public perceptions of ethnic policy and exert a considerable negative impact on social trust. Consequently, identifying groups of distorted narratives, analyzing the techniques of information manipulation, and verifying them against political and legal foundations as well as empirical evidence constitute a necessary endeavor in the current context.

Keywords: Ethnic policy; ethnic minorities; distorting rhetoric; counter-argument.

1. Đặt vấn đề

Chính sách dân tộc giữ vị trí then chốt trong hệ thống chính sách công Việt Nam, nhằm bảo đảm bình đẳng giữa các dân tộc, củng cố đại đoàn kết toàn dân tộc và thúc đẩy phát triển bền vững vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Trong bối cảnh vẫn còn khoảng cách phát triển kinh tế – xã hội và hạn chế trong thực thi chính sách ở một số địa bàn, vấn đề dân tộc dễ bị các thế lực thù địch lợi dụng để cắt xén thông tin, tách rời bối cảnh và khái quát hóa sai lệch.

Các luận điệu xuyên tạc thường tập trung vào việc phủ nhận nguyên tắc bình đẳng, quy kết Nhà nước “bỏ mặc” đồng bào, phủ nhận quyền tiếp cận dịch vụ cơ bản hoặc gán chính sách bảo tồn văn hóa – ngôn ngữ là “đồng hóa”. Những luận điệu này làm méo mó nhận thức về bản chất chính sách và ảnh hưởng đến niềm tin xã hội. Do đó, việc nhận diện có hệ thống các nhóm luận điệu, phân tích thủ pháp bóp méo và kiểm chứng bằng cơ sở chính trị, pháp lý cùng bằng chứng thực tiễn là yêu cầu cấp thiết. Bài viết tập trung làm rõ các luận điệu chủ yếu, đối chiếu với khuôn khổ pháp lý và số liệu thực tiễn; đồng thời, đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh, phản bác, góp phần củng cố khối đại đoàn kết dân tộc.

2. Luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch về chính sách dân tộc ở Việt Nam

Thứ nhất, xuyên tạc quan điểm, chủ trương và nguyên tắc bình đẳng giữa các dân tộc ở Việt Nam.

Một trong số các nhóm luận điệu xuyên tác về chính sách dân tộc ở Việt Nam là tập trung phủ nhận nguyên tắc bình đẳng giữa các dân tộc. Chúng cho rằng, người dân tộc thiểu số bị phân biệt đối xử hoặc bị loại trừ khỏi đời sống chính trị. Điểm đáng lưu ý trong cách lập luận này là việc lấy những khoảng cách còn tồn tại về thu nhập, giáo dục hay khả năng tiếp cận nguồn lực để suy ngược thành sự phân biệt về địa vị pháp lý và chủ đích thể chế. Đây là sự đánh đồng hai cấp độ khác nhau: bất bình đẳng về kết quả phát triển không tự động đồng nghĩa với tồn tại một cơ chế pháp lý phân biệt đối xử.

Về phương diện hiến định, Điều 5 Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) đã quy định “Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc… Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước”. Định hướng này được tiếp tục cụ thể hóa trong Kết luận số 65-KL/TW của Bộ Chính trị ngày 30/10/2019 về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) về công tác dân tộc trong tình hình mới và Nghị quyết số 10/NQ-CP ngày 28/01/2022 của Chính phủ ban hành Chiến lược công tác dân tộc giai đoạn 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Đặc biệt, Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đã tiếp tục đặt phát triển bền vững và nâng cao đời sống Nhân dân, trong đó có vùng đồng bào dân tộc thiểu số, trong chương trình hành động cho giai đoạn mới, thể hiện rõ nét về tính nhất quán và quyết tâm chính trị, chính sách của Đảng và Nhà nước ta.

Bên cạnh đó, bình đẳng về thể chế cũng được thể ở sự tham gia trong các cơ quan đại diện. Quốc hội khóa XVI có 76/500 đại biểu là người dân tộc thiểu số, chiếm 15,2%. Hội đồng Dân tộc khóa XVI có 49 thành viên, đại diện 25 thành phần dân tộc và đến từ 29/34 tỉnh, thành phố (Cổng Thông tin điện tử Quốc hội, 31/3/2026).

Thứ hai, lợi dụng những khó khăn kinh tế – xã hội để xuyên tạc rằng Nhà nước “bỏ mặc”, không quan tâm đến đồng bào dân tộc thiểu số.

Một cách xuyên tạc phổ biến khác là lấy tình trạng nghèo, điều kiện kinh tế khó khăn hoặc khoảng cách phát triển ở một số vùng dân tộc thiểu số làm bằng chứng cho nhận định Nhà nước không quan tâm hoặc chủ ý duy trì bất bình đẳng. Song cần phải thừa nhận thực tế rằng, đây là khu vực còn nhiều khó khăn khách quan về địa hình chia cắt, nhiều địa bàn biên giới và vùng sâu, chất lượng nguồn nhân lực thấp, khả năng tiếp cận thị trường hạn chế. Đến năm 2026, Chính phủ đã xác định ba nhóm mục tiêu của Chương trình giai đoạn trước chưa hoàn thành, gồm: hạ tầng kỹ thuật – xã hội, giảm số xã/thôn đặc biệt khó khăn và định canh, định cư (Gia Huy, 06/7/2026). Tuy nhiên, sự tồn tại của những khó khăn này không đủ để suy luận về một chủ đích “bỏ mặc”.

Trong khi trên thực tế, Đảng và Nhà nước đã ban hành các chính sách, như: Nghị quyết số 88/2019/QH14 ngày 18/11/2019 của Quốc hội phê duyệt Đề án tổng thể phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030; Nghị quyết số 120/2020/QH14 ngày 19/6/2020 phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 – 2030; Quyết định số 1719/QĐ-TTg ngày 14/10/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 – 2030, giai đoạn I: từ năm 2021 đến năm 2025… Tổng mức vốn thực hiện giai đoạn I trên 137.000 tỷ đồng. Sang giai đoạn mới, Quốc hội tiếp tục phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia tích hợp giai đoạn 2026 – 2035 tại Nghị quyết số 257/2025/QH15 phê duyệt chủ trương đầu tư chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 – 2035. Chính phủ ban hành Nghị quyết số 424/NQ-CP về Kế hoạch triển khai thực hiện Nghị quyết số 257/2025/QH15 ngày 11/12/2025 của Quốc hội phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 – 2035. Điều này cho thấy, chính sách không dừng lại sau một chu kỳ mà tiếp tục được điều chỉnh trên cơ sở những vấn đề phát sinh trong thực thi.

Đến tháng 8/2025, các chương trình này đã hỗ trợ đất ở cho 10.549 hộ, nhà ở cho 42.567 hộ, đất sản xuất cho 13.387 hộ; 54.899 hộ được hỗ trợ chuyển đổi nghề, 479.358 hộ được hỗ trợ nước sinh hoạt phân tán và 809 công trình nước sinh hoạt tập trung được xây dựng (Xuân Thường & Thuần Linh, 13/8/2025). Về kết cấu hạ tầng, 6.018 công trình giao thông nông thôn được đầu tư, khoảng 8.673 km đường được cứng hóa và 442 công trình điện được triển khai (Hoàng Thị Phương Liên, 10/6/2026).

Tại Hội nghị toàn quốc tổng kết Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 – 2025 và định hướng nội dung giai đoạn 2026 – 2030, ghi nhận Chương trình cơ bản đạt hoặc vượt 6/9 nhóm mục tiêu. Tỷ lệ giảm nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số được dự kiến đạt gần 3,2%/năm vào cuối giai đoạn. Với những kết quả này, không thể quy kết rằng, Nhà nước không có chính sách hoặc chủ ý duy trì khoảng cách đó như các thế lực thù địch đã và đang rêu rao.

Thứ ba, xuyên tạc việc bảo đảm quyền tiếp cận giáo dục, y tế và các dịch vụ xã hội cơ bản của đồng bào dân tộc thiểu số.

Các dịch vụ cơ bản đã được minh chứng bằng kết quả thụ hưởng chứ không chỉ bằng sự tồn tại của chính sách. Kết quả Điều tra 53 dân tộc thiểu số năm 2024 cho thấy, 99,7% hộ có nhà ở, 90,6% sống trong nhà kiên cố hoặc bán kiên cố. 93,6% hộ sử dụng nguồn nước hợp vệ sinh (Xuân Thường & Thuần Linh, 13/8/2025). Ở cấp cộng đồng, 99,1% xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi có trạm y tế, nhưng tỷ lệ trạm đạt chuẩn quốc gia là 81,5% (Trần Thị Hồng Anh, 28/4/2026).

Về giáo dục, năm học 2023 – 2024 có hơn 3,1 triệu học sinh dân tộc thiểu số ở ba cấp phổ thông. Tỷ lệ đi học đúng tuổi đạt 96,3% ở tiểu học, 86,6% ở trung học cơ sở, mặc dù mới chỉ có 51,1% ở trung học phổ thông (Lý Thị Thu & Hoàng Thị Phương Liên, 13/3/2026). Như vậy, khó có thể khái quát rằng, trẻ em dân tộc thiểu số bị loại trừ khỏi giáo dục cơ bản.

Thứ tư, xuyên tạc chính sách bảo tồn và phát huy tiếng nói, chữ viết, văn hóa và bản sắc của các dân tộc thiểu số.

Một số luận điệu cho rằng, các dân tộc thiểu số bị “đồng hóa” khi thấy hiện tượng một số ngôn ngữ thiểu số suy giảm phạm vi sử dụng rồi suy rộng thành chủ trương xóa bỏ bản sắc. Tuy nhiên thực tế, Điều 5 Hiến pháp đã ghi nhận “Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt. Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình”. Nghị định số 82/2010/NĐ-CP ngày 15/7/2010 của Chính phủ quy định việc dạy và học tiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu số trong các cơ sở giáo dục phổ thông và trung tâm giáo dục thường xuyên tiếp tục được sửa đổi, bổ sung bằng Nghị định số 96/2025/NĐ-CP ngày 29/4/2025 của Chính phủ. Việc tiếp tục hoàn thiện cơ chế in ấn, phát hành sách giáo khoa và tài liệu dạy tiếng dân tộc là bằng chứng bác bỏ luận điệu về một chính sách xóa bỏ ngôn ngữ có hệ thống.

Bên cạnh đó, theo dữ liệu Điều tra năm 2024 được công bố và phân tích năm 2026, 74,8% hộ dân tộc thiểu số chủ yếu sử dụng tiếng dân tộc của mình trong giao tiếp gia đình; 83,76% người dân tộc thiểu số từ 5 tuổi trở lên trong tập dữ liệu có khả năng nghe, hiểu tiếng dân tộc mình. Cả nước có 535 trường tổ chức dạy tiếng dân tộc thiểu số (Trần Trí Dũng, 24/4/2026). Mặc dù mức độ duy trì cũng còn có sự khác nhau: có cộng đồng đạt trên 90%, trong khi một số dân tộc rất ít người có tỷ lệ thấp hơn, song không vì vậy mà nhận định “đồng hóa có hệ thống”. Tuy nhiên, khách quan nhìn nhận cũng cần phải lưu ý tới nguy cơ mai một ngôn ngữ ở một số cộng đồng dưới tác động của đô thị hóa, di cư, giao lưu xã hội và thay đổi môi trường sử dụng để có giải pháp chính sách kịp thời và phù hợp.

Thứ năm, lợi dụng những hạn chế trong thực thi chính sách hoặc vụ việc cá biệt để phủ nhận bản chất của chính sách dân tộc.

Một thủ pháp tinh vi hơn mà các thế lực thù địch sử dụng là lấy những hạn chế trong thực thi để phủ nhận toàn bộ chính sách. Từ một chương trình chậm tiến độ suy thành chính sách không thực chất. Từ một địa bàn còn nghèo khái quát thành tình trạng chung. Hoặc từ một vụ việc riêng lẻ suy ra bản chất quan hệ giữa Nhà nước với các dân tộc thiểu số. Về logic, đây là sự chuyển đổi không có đủ bước chứng minh. Muốn đánh giá đúng phải xác định điểm nghẽn xuất phát từ thiết kế chính sách, nguồn lực, tổ chức thực hiện, năng lực cơ sở hay điều kiện khách quan, thay vì gán ngay một kết quả chưa đạt cho chủ ý phân biệt.

Trên thực tế, với các chương trình, chính sách được triển khai, bên cạnh những kết quả tích cực, Nhà nước cũng thẳng thắn thừa nhận và công khai những hạn chế và các kết quả chưa đạt được như kỳ vọng, chẳng hạn: Chương trình 2021 – 2025 chỉ đạt hoặc vượt 6/9 nhóm mục tiêu; ba nhóm còn lại liên quan đến hạ tầng kỹ thuật – xã hội, giảm số xã/thôn đặc biệt khó khăn và định canh, định cư (Nguyễn Hoàng & Đình Nam, 15/10/2025). Quá trình tổng kết cũng chỉ ra sự trùng lặp về phạm vi, đối tượng và nội dung giữa các chương trình mục tiêu quốc gia, nhất là đầu tư hạ tầng, hỗ trợ sinh kế và đào tạo nghề. Đây là một trong những căn cứ để chuyển sang mô hình tích hợp trong giai đoạn 2026 – 2035.

3. Một số giải pháp

Một là, tiếp tục nâng cao hiệu quả thực thi chính sách dân tộc, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng miền và các dân tộc thiểu số.

Trước hết, cần tiếp tục nâng cao hiệu quả thực thi chính sách dân tộc và coi những chuyển biến thực chất trong đời sống đồng bào là cơ sở phản bác có sức thuyết phục nhất. Thực tế Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2021 – 2025 cho thấy, nhiều mục tiêu, công trình và chính sách hỗ trợ đã tạo kết quả rõ rệt, nhưng vẫn còn những điểm nghẽn về hạ tầng, định canh, định cư, khả năng thoát nghèo bền vững và sự không đồng đều trong năng lực thực thi. Bước sang giai đoạn 2026 – 2035, Quốc hội đã phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 – 2035 (theo Nghị quyết 257/2025/QH15); Chính phủ ban hành Nghị quyết số 424/NQ-CP ngày 30/12/2025 để tổ chức triển khai Nghị quyết này. Bộ Dân tộc và Tôn giáo đã ban hành Quyết định số 209/QĐ-BDTTG ngày 09/4/2026 cụ thể hóa nhiệm vụ thuộc phạm vi quản lý của Bộ.

Trọng tâm của giai đoạn mới cần chuyển mạnh từ phân bổ nguồn lực chủ yếu theo chương trình, dự án sang phân bổ theo mức độ thiếu hụt và kết quả phát triển cần đạt. Những dân tộc, địa bàn có chỉ báo thấp về nước sinh hoạt, giáo dục sau trung học cơ sở, y tế, việc làm, đất ở, đất sản xuất, hạ tầng giao thông và khả năng tiếp cận số cần được xác định thành nhóm ưu tiên. Cùng với đó, quản lý chương trình cần chuyển từ đánh giá “đã chi bao nhiêu, xây bao nhiêu công trình” sang “đời sống của nhóm thụ hưởng đã thay đổi như thế nào”. Chính sách dân tộc cũng đã được định hướng chuyển từ đo đầu vào sang đo kết quả cuối cùng cũng đã được đặt ra trong chính sách dân tộc giai đoạn 2026 – 2030 (Sơn Hào, 22/4/2026).

Thời gian tới, cần thiết lập bộ chỉ báo kết quả theo từng dân tộc và địa bàn, tăng đánh giá giữa kỳ, hậu kiểm và giám sát cộng đồng; đồng thời, quy định rõ trách nhiệm của cơ quan chủ trì khi chỉ tiêu không đạt. Khi những vấn đề thực tế được xử lý và khoảng cách phát triển được thu hẹp bằng các kết quả có thể quan sát, những luận điệu dựa trên việc tuyệt đối hóa nghèo đói hoặc khó khăn sẽ mất dần cơ sở thực tiễn để tạo sức thuyết phục. Chính những kết quả chính sách sẽ là lớp phòng vệ đầu tiên song cũng đồng thời là giải pháp căn cơ nhất.

Hai là, nâng cao chất lượng công khai dữ liệu và truyền thông chính sách dựa trên dữ liệu và bằng chứng.

Hiệu quả thực thi chỉ trở thành nguồn lực cho đấu tranh phản bác khi kết quả được đo lường, chuẩn hóa và có khả năng truy xuất. Một hạn chế cần khắc phục là truyền thông chính sách thường nhấn mạnh số văn bản, kinh phí hoặc công trình, trong khi công chúng và giới nghiên cứu cần biết rõ hơn nguồn lực đó đã làm thay đổi chỉ báo nào, ở nhóm dân cư nào, trong khoảng thời gian nào và vấn đề nào vẫn chưa được giải quyết. Điều tra thu thập thông tin về thực trạng kinh tế – xã hội của 53 dân tộc thiểu số năm 2024 đã cung cấp dữ liệu nền tảng quan trọng để phân tích theo dân tộc, địa bàn và nhiều chiều phát triển. Bộ Dân tộc và Tôn giáo cũng đã công khai kết quả rà soát để các cơ quan, tổ chức và người dân khai thác.

Trên cơ sở đó, Bộ Dân tộc và Tôn giáo, cơ quan thống kê, các bộ quản lý ngành và địa phương cần từng bước hình thành một hệ thống bằng chứng về chính sách dân tộc theo chuỗi: chính sách => nguồn lực => đầu ra => kết quả => khoảng cách còn lại. Dữ liệu cần được tổ chức thành chuỗi thời gian, phân tổ theo dân tộc, giới và địa bàn, đi kèm dữ liệu và phương pháp thu thập để tránh sử dụng sai bối cảnh. Việc Bộ đang hợp nhất các cơ sở dữ liệu hiện có thành cơ sở dữ liệu dân tộc thống nhất, với yêu cầu dữ liệu “đúng – đủ – sạch – sống” là điều kiện thuận lợi để phát triển cơ chế này.

Bên cạnh đó, truyền thông dựa trên bằng chứng phải công khai cả thành tựu lẫn các mục tiêu chưa đạt. Việc chủ động thừa nhận những khoảng cách còn tồn tại không làm suy yếu thông tin chính thống mà trái lại còn giúp tăng khả năng kiểm chứng, giảm cảm giác lựa chọn dữ liệu có lợi và giúp phân biệt rõ vấn đề thực tế cần hoàn thiện với những suy diễn xuyên tạc.

Ba là, đổi mới phương thức nhận diện và phản bác thông tin xuyên tạc trên môi trường số theo hướng kiểm chứng bằng chứng.

Thông tin xuyên tạc hiện nay có thể không hoàn toàn giả, mà nhiều trường hợp sử dụng số liệu thật nhưng tách khỏi thời điểm và bối cảnh, hoặc lấy một trường hợp cụ thể để khái quát hóa. Vì vậy, phản bác phải bắt đầu từ việc xác định chính xác mệnh đề cần kiểm chứng, sau đó truy xuất nguồn, đối chiếu văn bản và dữ liệu gốc, giải thích điều kiện phát sinh rồi mới đưa ra kết luận tương xứng với bằng chứng.

Một quy trình nghiệp vụ có thể gồm: phát hiện sớm => phân loại nội dung => xác định mệnh đề kiểm chứng được => truy xuất nguồn => đối chiếu dữ liệu chính thức và nguồn độc lập phù hợp => giải thích bối cảnh => xác định mức độ sai lệch => lựa chọn hình thức phản hồi => theo dõi tác động. Không phải mọi thông tin sai lệch đều cần phản hồi với cùng mức độ. Việc lặp lại quá chi tiết một nội dung ít ảnh hưởng đôi khi có thể làm tăng khả năng khuếch tán. Do đó, cần kết hợp đánh giá mức độ lan truyền, nhóm đối tượng chịu tác động và mức độ nguy hại trước khi lựa chọn phương thức phản bác.

Bốn là, phát huy vai trò chủ thể của đồng bào dân tộc thiểu số và các chủ thể tại cơ sở trong đấu tranh, phản bác.

Đồng bào dân tộc thiểu số không nên chỉ được đặt ở vị trí “đối tượng thụ hưởng” hoặc “đối tượng tuyên truyền” mà cần trở thành chủ thể tham gia phản ánh, giám sát và kiểm chứng chính sách. Người có uy tín, cán bộ người dân tộc thiểu số, đại biểu dân cử, trí thức, giáo viên, già làng, trưởng bản, thanh niên, phụ nữ và chức sắc tôn giáo am hiểu cộng đồng có lợi thế về ngôn ngữ, văn hóa và mức độ tin cậy xã hội có thể giải thích chính sách trong bối cảnh địa phương, đồng thời phản ánh những vướng mắc mà thông tin hành chính ở cấp trên khó nhận diện.

Các chính sách hiện hành đang tạo thêm cơ sở cho hướng tiếp cận này. Chẳng hạn, Nghị định số 307/2026/NĐ-CP ngày 04/8/2026 (có hiệu lực từ ngày 20/9/2026) quy định về lựa chọn, công nhận, chính sách đối với người có uy tín trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số và chính sách thăm hỏi, chúc mừng, tặng quà, động viên, gặp mặt, biểu dương, tôn vinh đối với một số tổ chức, cá nhân người dân tộc thiểu số. Nghị định quy định người có uy tín được tập huấn, cung cấp thông tin và bồi dưỡng cả kỹ năng khai thác, sử dụng, xử lý thông tin trên Internet và mạng xã hội. Do đó, sau khi Nghị định có hiệu lực, có thể gắn hoạt động bồi dưỡng người có uy tín với năng lực kiểm chứng thông tin, nhận diện thao túng dữ liệu và truyền thông số tại cộng đồng.

Tuy nhiên, phát huy vai trò cộng đồng không nên đồng nghĩa với chỉ lựa chọn những “câu chuyện thành công”. Đối thoại phải tạo điều kiện để người dân nêu cả kết quả tích cực lẫn kiến nghị về đất ở, sinh kế, giáo dục, nước sinh hoạt hay việc làm. Tiếng nói từ cơ sở có độ tin cậy cao hơn; đồng thời, cung cấp dữ liệu phản hồi để cơ quan quản lý tiếp tục hoàn thiện chính sách.

4. Kết luận

Nhận diện và phản bác các luận điệu xuyên tạc về chính sách dân tộc ở Việt Nam có ý nghĩa không chỉ trên phương diện đấu tranh tư tưởng mà còn trực tiếp liên quan đến yêu cầu củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, bảo đảm bình đẳng giữa các dân tộc, nâng cao hiệu quả quản trị quốc gia và thúc đẩy phát triển bền vững vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Trong bối cảnh môi trường truyền thông số làm gia tăng tốc độ lan truyền của những thông tin bị cắt xén, tách khỏi bối cảnh hoặc khái quát hóa sai lệch, việc nhận diện và kiểm chứng các luận điệu bằng hệ thống bằng chứng chính trị, pháp lý và thực tiễn càng trở nên đặc biệt cần thiết. Trên thực tế, nhiều luận điệu về phân biệt đối xử, “bỏ mặc” phát triển, hạn chế tiếp cận dịch vụ hay “đồng hóa” văn hóa đang làm sai lệch bản chất nhân văn, tốt đẹp của chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước ta. Do đó, việc kịp thời nhận diện, đánh giá đúng thực chất vấn đề và đề xuất các giải pháp đấu tranh, phản bác các luận điệu xuyên tạc về chính sách dân tộc ở Việt Nam có ý nghĩa thiết thực, góp phần trực tiếp vào việc củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và tạo điều kiện cho phát triển kinh tế – xã hội bền vững của đất nước.

Tài liệu tham khảo:
Cổng Thông tin điện tử Quốc hội (31/03/2026). Toàn văn Tổng Bí thư Tô Lâm phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị trực tuyến toàn quốc tổng kết công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 – 2031. https://quochoi.vn/tintuc/Pages/tin-hoat-dong-cua-quoc-hoi.aspx?ItemID=99086
Chính phủ (2010). Nghị định số 82/2010/NĐ-CP ngày 15/7/2010 quy định việc dạy và học tiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu số trong các cơ sở giáo dục phổ thông và trung tâm giáo dục thường xuyên.
Chính phủ  (2025). Nghị quyết số 424/NQ-CP ngày 30/12/2025 ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Nghị quyết số 257/2025/QH15 ngày 11/12/2025 của Quốc hội phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 – 2035.
Chính phủ  (2025). Nghị định số 96/2025/NĐ-CP ngày 29/4/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 82/2010/NĐ-CP ngày 15/7/2010 của Chính phủ quy định việc dạy và học tiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu số trong các cơ sở giáo dục phổ thông và trung tâm giáo dục thường xuyên.
Gia Huy (06/7/2026). Năm 2026 phải giải ngân 100% vốn Trung ương giao cho Chương trình mục tiêu quốc gia. https://baochinhphu.vn/nam-2026-phai-giai-ngan-100-von-trung-uong-giao-cho-chuong-trinh-muc-tieu-quoc-gia-102260706183519375.htm
Hoàng Thị Phương Liên (10/6/2026). Đảm bảo quyền sống cho người dân tộc thiểu số – Nghiên cứu từ một số chính sách của Nhà nước. https://dantoctongiao.vn/dam-bao-quyen-song-cho-nguoi-dan-toc-thieu-so-nghien-cuu-tu-mot-so-chinh-sach-cua-nha-nuoc-1781022635455.htm
Lý Thị Thu & Hoàng Thị Phương Liên (13/3/2026). Bảo đảm công bằng trong giáo dục với trẻ em, học sinh người dân tộc thiểu số tiếp cận từ một số chính sách. https://dantoctongiao.vn/bao-dam-cong-bang-trong-giao-duc-voi-tre-em-hoc-sinh-nguoi-dan-toc-thieu-so-tiep-can-tu-mot-so-chinh-sach-1773112560159.htm
Nguyễn Hoàng & Đình Nam (15/10/2025). Thống nhất với đề xuất tích hợp 3 chương trình mục tiêu quốc gia. https://baochinhphu.vn/thong-nhat-voi-de-xuat-tich-hop-3-chuong-trinh-muc-tieu-quoc-gia-102251015145137612.htm
Quốc hội (2019). Nghị quyết số 88/2019/QH14 ngày 18/11/2019 phê duyệt Đề án tổng thể phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 – 2030.
Quốc hội (2020). Nghị quyết số 120/2020/QH14 ngày 19/6/2020 phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 – 2030.
Sơn Hào (22/4/2026). Chính sách dân tộc: Đo hiệu quả bằng mức độ “chạm” đời sống. https://baochinhphu.vn/chinh-sach-dan-toc-do-hieu-qua-bang-muc-do-cham-doi-song-102260421091455305.htm
Thủ tướng Chính phủ (2021). Quyết định số 1719/QĐ-TTg ngày 14/10/2021 phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 – 2030, giai đoạn I: từ năm 2021 đến năm 2025.
Trần Thị Hồng Anh (28/4/2026). Kết quả thực hiện Kết luận số 65-KL/TW về ưu tiên đầu tư kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi. https://dantoctongiao.vn/ket-qua-thuc-hien-ket-luan-so-65-kltw-ve-uu-tien-dau-tu-ket-cau-ha-tang-kinh-te-xa-hoi-vung-dan-toc-thieu-so-va-mien-nui-1777340005553.htm
Trần Trí Dũng (24/4/2026). Bảo tồn và phát triển tiếng dân tộc thiểu số – Tiếp cận từ kết quả thực hiện các chính sách. https://dantoctongiao.vn/bao-ton-va-phat-trien-tieng-dan-toc-thieu-so-tiep-can-tu-ket-qua-thuc-hien-cac-chinh-sach-1776828073452.htm
Xuân Thường & Thuần Linh (13/8/2025). Bộ trưởng Đào Ngọc Dung: Chương trình 1719 giai đoạn I đạt những thành tựu quan trọng, tạo nền tảng cho sự phát triển “cách mạng” ở giai đoạn II. https://bdttg.gov.vn/tin-tuc/tin-hoat-dong/hoat-dong-cua-uy-ban/bo-truong-dao-ngoc-dung-chuong-trinh-1719-giai-doan-i-dat-nhung-thanh-tuu-quan-trong-tao-nen-tang-cho-su-phat-trien-cach-mang-o-giai-doan-ii.htm