Quality of political communication for commune-level officials in two-tier local government
NCS.ThS. Đặng Trần Hưng
Phòng Cảnh sát giao thông, Công an Thành phố Hà Nội
Email: Hungbeo2509@gmail.com
(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết đề xuất tiêu chí đánh giá chất lượng truyền thông chính trị cho cán bộ cấp xã trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Bằng tổng hợp lý thuyết, nghiên cứu xác định cán bộ cấp xã là công chúng chính trị đặc thù, tiếp nhận, tổ chức, giải thích và phản hồi chính sách. Chất lượng được tiếp cận theo các tầng đầu vào – quá trình – đầu ra – kết quả – tác động, thay vì đồng nhất với độ phủ. Sáu nhóm tiêu chí bao quát lãnh đạo và mục tiêu; chủ thể và nguồn lực; nội dung – thông điệp; kênh và tương tác; quy trình, dữ liệu và an toàn; đầu ra, kết quả và tác động. Khung này hỗ trợ phát triển thang đo và cải tiến truyền thông ở cấp xã.
Từ khóa: Truyền thông chính trị; cán bộ cấp xã; chính quyền hai cấp; chất lượng truyền thông; tiêu chí đánh giá.
Abstract: This article clarifies the concept and proposes criteria for assessing the quality of political communication for commune-level officials under Vietnam’s two-tier local government model. Drawing on systems analysis, strategic communication, quality management and current legal documents, it treats commune-level officials as a distinctive political audience who receive information, organise implementation, explain policy and transmit feedback. Communication quality is therefore examined through an input-process-output-outcome-impact chain rather than reduced to reach or product counts. Six groups of criteria are proposed: leadership and objectives; communicators and resources; content and messages; channels and interaction; processes, data and safety; and outputs, outcomes and impact. The framework distinguishes quality from efficiency, legal effectiveness and long-term impact, and links message accuracy with actionability, dialogue, data governance and organisational learning. It provides a basis for developing measurement scales, conducting empirical surveys and improving political communication at the commune level.
Keywords: Political communication; commune-level officials; two-tier government; communication quality; evaluation criteria.
1. Đặt vấn đề
Từ ngày 01/7/2025, mô hình chính quyền địa phương hai cấp được vận hành đồng bộ trên phạm vi cả nước. Sự thay đổi này không chỉ là việc bỏ một tầng nấc hành chính, mà còn tái cấu trúc thẩm quyền, trách nhiệm, quy trình phối hợp và dòng thông tin giữa trung ương, cấp tỉnh, cấp xã với người dân. Nghị quyết số 203/2025/QH15 ngày 16/6/2025 đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp; Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025 và xác lập khuôn khổ pháp lý cho chính quyền địa phương hai cấp (Quốc hội, 2025a, 2025b). Trong cấu trúc mới, cấp xã trở thành điểm tiếp nhận nhiều nhiệm vụ quản trị và cung ứng dịch vụ công hơn nên độ chính xác, tốc độ và khả năng chuyển hóa thông tin thành hành động có ý nghĩa quyết định.
Bên cạnh đó, môi trường số làm tăng mạnh khả năng truyền tải và tương tác nhưng cũng kéo theo quá tải thông tin, sai lệch phiên bản, lộ lọt dữ liệu và sử dụng trí tuệ nhân tạo thiếu kiểm soát. Luật Dữ liệu năm 2024; Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025; Luật Báo chí năm 2025 đã bổ sung, cập nhật môi trường pháp lý liên quan đến dữ liệu, quyền riêng tư và hoạt động thông tin (Quốc hội, 2024b, 2025d, 2025e). Quyết định số 23-QĐ/BCĐ ngày 17/8/2026 đã ban hành Bộ chỉ số đánh giá năng lực số và mức độ sẵn sàng chuyển đổi số trong các cơ quan đảng, phiên bản 1.0, cụ thể hóa định hướng chuyển đổi số của Nghị quyết số 57-NQ/TW và nhấn mạnh năng lực sử dụng dữ liệu, bảo vệ thông tin, ứng dụng trí tuệ nhân tạo an toàn, có trách nhiệm (Bộ Chính trị, 2024; Ban Chỉ đạo chuyển đổi số trong các cơ quan đảng, 2026).
Thực tiễn cho thấy, điểm yếu phổ biến của đánh giá truyền thông là lấy số lượt phát hành, tiếp cận hoặc tương tác làm đại diện cho thành công. Khảo sát các cơ quan truyền thông chính phủ được OECD công bố năm 2025 ghi nhận phần lớn vẫn dựa vào độ phủ, trong khi tỷ lệ đo thay đổi ở công chúng và đóng góp vào mục tiêu chính sách thấp hơn đáng kể (OECD, 2025). Bởi vậy, câu hỏi khoa học không chỉ là “đã truyền thông bao nhiêu” mà là hệ thống có đúng mục tiêu, đúng đối tượng và đúng quy trình không; cán bộ có hiểu đúng, tin cậy, có khả năng giải thích và thực hiện không; phản hồi từ cơ sở có được xử lý để cải thiện quyết định không. Bài viết sử dụng phân tích hệ thống, tổng hợp tài liệu và phân tích quy phạm để làm rõ nội hàm, xây dựng chuỗi logic và đề xuất sáu nhóm tiêu chí đánh giá có thể chuyển hóa thành chỉ báo khảo sát.
2. Cơ sở tiếp cận và yêu cầu mới đối với truyền thông chính trị ở cấp xã
Truyền thông chính trị được hiểu là quá trình có mục đích, trong đó các chủ thể chính trị tạo lập, trao đổi, phân phối, tiếp nhận và phản hồi thông tin, giá trị, biểu tượng và diễn ngôn về quyền lực, đường lối, chính sách và mục tiêu phát triển nhằm tác động tới nhận thức, niềm tin, thái độ và hành động. Khái niệm này rộng hơn việc chuyển văn bản từ cấp trên xuống cấp dưới. Cách tiếp cận truyền thông chiến lược nhấn mạnh hoạt động truyền thông phải được sử dụng có chủ đích để hoàn thành sứ mệnh của tổ chức và liên kết mục tiêu truyền thông với mục tiêu quản trị (Hallahan và cộng sự, 2007). Trong hệ thống chính trị, từ “công tác” còn biểu thị tính lãnh đạo, kế hoạch, phân công, nguồn lực, kiểm tra và trách nhiệm; do đó, một dòng tin tự phát hoặc một buổi tuyên truyền đơn lẻ chưa phản ánh đầy đủ công tác truyền thông chính trị.
Cách tiếp cận hệ thống giúp nhìn thấy quan hệ giữa chủ thể, thông điệp, kênh, người tiếp nhận, nhiễu và phản hồi trong một môi trường chính trị – xã hội cụ thể. Theo tư duy hệ thống, phản hồi từ môi trường không phải là phần phụ ở cuối quy trình mà là dữ liệu để hệ thống điều chỉnh đầu vào và cách thức hoạt động (Easton, 1965). Đối với chính quyền địa phương hai cấp, khoảng cách tổ chức giữa cấp tỉnh và cấp xã thay đổi nên dòng truyền thông cần đồng thời vận hành theo ba chiều: chiều xuống để chuyển định hướng và quyết định thành chỉ dẫn thực hiện; chiều ngang để các tổ chức, chức danh và địa bàn phối hợp; chiều lên để chuyển câu hỏi, khó khăn, tín hiệu rủi ro và đề xuất từ cơ sở tới đúng cấp có thẩm quyền. Thiếu một trong ba chiều đều có thể làm giảm chất lượng toàn hệ thống.
Theo Luật Cán bộ, công chức năm 2025, cán bộ là công dân Việt Nam được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm hoặc chỉ định giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và tổ chức chính trị – xã hội, thuộc biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước theo quy định (Quốc hội, 2025c). Vì vậy, “cán bộ cấp xã” không được dùng như từ đồng nghĩa với toàn bộ cán bộ, công chức và người lao động ở cấp xã. Trong nghiên cứu chính trị học, đội ngũ cán bộ cấp xã là lực lượng giữ các vị trí lãnh đạo, quản lý, đại diện và vận động ở xã, phường; được tổ chức thành cơ cấu chức danh với quan hệ lãnh đạo – phối hợp và trách nhiệm chính trị được xác định. Công chức chuyên môn là nhóm phối hợp và cung cấp dữ liệu quan trọng, nhưng không làm thay đổi ranh giới của đối tượng nghiên cứu.
Cán bộ cấp xã là một công chúng chính trị đặc thù vì có ít nhất bốn vai trò gắn liền nhau. Họ tiếp nhận và giải mã chủ trương, pháp luật, chính sách; tham gia quyết định hoặc tổ chức thực hiện; giải thích, vận động cán bộ, đảng viên và Nhân dân; đồng thời phản hồi các vấn đề phát sinh từ cơ sở. Do đó, truyền thông chất lượng cao không dừng ở mức “biết có văn bản” mà phải giúp người nhận trả lời được: vì sao cần thực hiện; nội dung mới là gì; thẩm quyền đến đâu; việc nào phải làm; phối hợp với ai; nguồn lực, thời hạn và rủi ro ra sao; phản ánh vướng mắc ở kênh nào. Nhu cầu còn khác nhau theo khối Đảng, chính quyền, Mặt trận và đoàn thể, theo chức danh, địa bàn, kinh nghiệm, mức độ tham gia quyết định và năng lực số.
Yêu cầu chính trị và pháp lý đặt ra là: đúng định hướng, đúng pháp luật, đúng thẩm quyền, bảo vệ lợi ích quốc gia – dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân. Quyết định số 407/QĐ-TTg ngày 30/3/2022 về truyền thông chính sách có tác động lớn đến xã hội trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật giai đoạn 2022 – 2027 và Chỉ thị số 07/CT-TTg ngày 21/3/2023 về tăng cường công tác truyền thông chính sách đều coi truyền thông là nhiệm vụ của cơ quan quản lý, cần chủ động, kịp thời và gắn với quá trình xây dựng, thực thi chính sách (Thủ tướng Chính phủ, 2022, 2023). Luật Tiếp cận thông tin năm 2026, tiếp tục là căn cứ về quyền tiếp cận, trách nhiệm cung cấp và các giới hạn hợp pháp của thông tin (Quốc hội, 2026a).
3. Nội hàm chất lượng công tác truyền thông chính trị cho cán bộ cấp xã
Theo tiêu chuẩn ISO 9000:2026, quản trị chất lượng dựa trên khả năng đáp ứng ổn định các yêu cầu của khách hàng và yêu cầu luật định, tiếp cận theo quá trình, sự tham gia của lãnh đạo và cải tiến liên tục (ISO, 2026). Khi chuyển vào lĩnh vực chính trị, không thể giản lược người tiếp nhận thành “khách hàng”, nhưng có thể kế thừa logic chất lượng là mức độ những thuộc tính của hệ thống đáp ứng mục tiêu, chuẩn mực và nhu cầu chính đáng trong điều kiện cụ thể. Chất lượng vừa có cơ sở khách quan để đánh giá bằng chuẩn và bằng chứng, vừa phụ thuộc bối cảnh, bởi cùng một thông điệp có thể phù hợp với một chức danh nhưng thiếu chiều sâu với chức danh khác; hữu ích trong tình huống thông thường nhưng không đủ trong khủng hoảng.
Từ đó, có thể xác định, chất lượng công tác truyền thông chính trị cho đội ngũ cán bộ cấp xã là tổng hợp những thuộc tính và mức độ đáp ứng của hoạt động có lãnh đạo, mục tiêu, tổ chức và đánh giá do các chủ thể trong hệ thống chính trị tiến hành, bảo đảm thông tin chính trị – chính sách được cung cấp chính xác, kịp thời, phù hợp, dễ tiếp nhận, có khả năng hành động, tương tác và an toàn; qua đó giúp cán bộ cấp xã hiểu đúng, tin cậy, đồng thuận, nâng cao năng lực giải thích, phối hợp, tổ chức thực hiện và phản hồi từ cơ sở. Định nghĩa này đặt chất lượng trong toàn bộ hệ thống, không gán nó cho riêng nội dung, một kênh hoặc năng lực của một báo cáo viên.
Nội hàm thứ nhất là chất lượng nội dung – thông điệp. Một thông điệp tốt phải đúng chính trị, đúng pháp lý, đúng dữ liệu; kịp thời và nhất quán giữa các nguồn; phù hợp với nhiệm vụ và năng lực tiếp nhận; ngắn gọn nhưng không cắt bỏ điều kiện áp dụng. Đặc biệt, “khả năng hành động” đòi hỏi chuyển ngôn ngữ chiến lược và ngôn ngữ pháp lý thành cấu trúc sử dụng được: vấn đề, mục tiêu, điểm mới, chủ thể chịu trách nhiệm, thẩm quyền, quy trình, thời hạn, nguồn lực, rủi ro, đầu mối hỗ trợ và tiêu chí hoàn thành. Tóm tắt điều hành, bộ câu hỏi – trả lời, sơ đồ quy trình, tình huống mẫu và bảng quản lý phiên bản thường có giá trị hơn việc chỉ gửi toàn văn văn bản mà không có hướng dẫn.
Nội hàm thứ hai là chất lượng quan hệ và tương tác. Các mô hình truyền thông hai chiều chỉ ra rằng lắng nghe và điều chỉnh giúp tổ chức xây dựng quan hệ bền vững hơn so với truyền đạt một chiều (Grunig và Hunt, 1984). Đối với hệ thống chính trị, tương tác phải tuân thủ thẩm quyền, kỷ luật phát ngôn và bảo mật, nhưng không vì vậy mà biến cán bộ cơ sở thành người nhận thụ động. Cơ chế chất lượng cần tạo cơ hội đặt câu hỏi an toàn, phân loại phản hồi, chuyển đúng nơi, trả lời đúng hạn và thông báo kết quả xử lý. Phản hồi được sử dụng để sửa thông điệp, quy trình hoặc kiến nghị điều chỉnh chính sách mới tạo thành vòng học tập; chỉ thu nhận ý kiến mà không có hồi đáp có thể làm giảm niềm tin.
Nội hàm thứ ba là chất lượng dữ liệu và an toàn. Trong môi trường số, độ đúng của dữ liệu nguồn, khả năng truy vết, phân quyền truy cập, quản lý phiên bản và lưu vết phê duyệt là điều kiện của thông điệp chính xác. Luật Dữ liệu và Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân hiện hành yêu cầu hoạt động thu thập, khai thác và chia sẻ dữ liệu phải có căn cứ, mục đích và biện pháp bảo vệ phù hợp (Quốc hội, 2024b, 2025d). Khi dùng trí tuệ nhân tạo để tóm tắt, tìm kiếm hoặc gợi ý nội dung, phải có con người kiểm soát, đối chiếu văn bản gốc, ghi nhận nguồn và đánh giá nguy cơ thiên lệch, bịa đặt hoặc lộ lọt thông tin. Chỉ số năng lực số không thể tách khỏi năng lực kiểm chứng và trách nhiệm đạo đức (Ban Chỉ đạo chuyển đổi số trong các cơ quan đảng, 2026).
Cần phân biệt bốn khái niệm thường bị trộn lẫn. Chất lượng phản ánh mức độ đáp ứng tổng thể của cấu trúc, quá trình và kết quả so với yêu cầu; hiệu quả phản ánh tương quan giữa kết quả đạt được với thời gian, kinh phí và nguồn lực; hiệu lực phản ánh mức độ quyết định có thẩm quyền được tuân thủ và mục tiêu bắt buộc được thực hiện; tác động là thay đổi rộng hơn và dài hạn hơn đối với năng lực quản trị, chất lượng phục vụ, niềm tin và phát triển. Một hội nghị đông người, đủ tài liệu và đúng kế hoạch có đầu ra tốt nhưng chưa chắc tạo kết quả nếu người dự không hiểu hoặc không vận dụng. Một hoạt động quy mô nhỏ vẫn có chất lượng cao nếu đúng nhóm chức danh, giải quyết đúng vướng mắc và ngăn được sai sót. Tác động tích cực cũng không thể quy hoàn toàn cho truyền thông khi còn nhiều yếu tố chính sách, tổ chức và nguồn lực khác.
4. Khung phân tích theo chuỗi đầu vào – quá trình – đầu ra – kết quả – tác động
Khung phân tích được đề xuất kết hợp tiếp cận hệ thống với lý thuyết thay đổi. Logic cốt lõi là: trong một bối cảnh thể chế, xã hội và công nghệ xác định, đầu vào phù hợp tạo điều kiện cho quy trình truyền thông có chất lượng; quy trình tạo ra đầu ra trực tiếp; đầu ra chỉ chuyển thành kết quả khi người nhận thực sự tiếp cận, hiểu, tin cậy và có cơ hội vận dụng; kết quả tích lũy, cùng các điều kiện quản trị khác, mới có thể đóng góp vào tác động phát triển. Khung này tương thích với nguyên tắc đánh giá truyền thông quốc tế: đặt mục tiêu đo được, phân biệt đầu ra, kết quả và tác động, kết hợp dữ liệu định lượng với định tính, và không dùng giá trị quảng cáo hoặc chỉ số bề nổi để thay thế giá trị xã hội (AMEC, 2020; Macnamara, 2018).
Tầng đầu vào gồm sự lãnh đạo và cam kết; mục tiêu; chủ thể; cơ chế phối hợp; dữ liệu nguồn; nhân lực, kinh phí, thời gian, hạ tầng và công nghệ. Đầu vào không được đánh giá bằng việc “có hay không” một kế hoạch, mà bằng chất lượng sử dụng: mục tiêu có liên kết với nhiệm vụ chính trị và hành vi cần thay đổi hay không; đầu mối có đủ thẩm quyền hay không; dữ liệu có cập nhật và truy vết được hay không; người truyền đạt có uy tín, hiểu chính sách và biết đối thoại hay không. Quyết định số 700/QĐ-TTg năm 2026 tạo căn cứ quan trọng để gắn bồi dưỡng năng lực của cán bộ, công chức cấp xã với nhiệm vụ vận hành chính quyền hai cấp; đánh giá truyền thông cần xem năng lực đó vừa là đầu vào, vừa là kết quả trung gian (Thủ tướng Chính phủ, 2026).
Tầng quá trình gồm các công đoạn liên kết: xác định vấn đề và các bên liên quan; nghiên cứu, phân đoạn đối tượng; đặt mục tiêu có đường cơ sở và thời hạn; thiết kế, kiểm chứng và phê duyệt thông điệp; lựa chọn người truyền đạt, kênh, thời điểm và tần suất; tổ chức đối thoại, hỗ trợ và xử lý phản hồi; đo lường, rút kinh nghiệm và cập nhật. Kiểm soát chất lượng phải được cài vào từng công đoạn. Chẳng hạn, bản tóm tắt chính sách cần có người chịu trách nhiệm chuyên môn, người kiểm tra pháp lý, mã phiên bản, ngày cập nhật và đường dẫn tới văn bản gốc. Câu hỏi chưa thể trả lời ngay phải có phiếu chuyển, thời hạn và trạng thái xử lý. Khi thông tin thay đổi, hệ thống phải thu hồi hoặc cảnh báo phiên bản cũ.
Tầng kết quả được đo ở ba cấp độ. Cấp nhận thức gồm tiếp cận đúng, ghi nhớ, hiểu đúng căn cứ, mục tiêu, điểm mới và thẩm quyền. Cấp thái độ gồm tin cậy nguồn tin, đồng thuận có hiểu biết, cảm nhận được hỗ trợ và sẵn sàng chịu trách nhiệm. Cấp năng lực – hành vi gồm khả năng giải thích lại bằng ngôn ngữ phù hợp, lựa chọn phương án đúng thẩm quyền, phối hợp liên ngành, sử dụng dữ liệu, xử lý tình huống và phản hồi từ cơ sở. Kết quả phải được đo sau khoảng thời gian phù hợp, không chỉ ngay cuối hội nghị. Có thể dùng câu hỏi tình huống, bài kiểm tra ngắn, quan sát công vụ, phỏng vấn và dữ liệu quy trình để tránh sai lệch do người trả lời tự đánh giá quá cao.
Vòng phản hồi nối các tầng và tạo năng lực học hỏi. Dữ liệu đầu ra cho biết kênh nào hoạt động; dữ liệu kết quả cho biết nội dung nào được hiểu hoặc bị hiểu sai; dữ liệu tác động cho biết truyền thông có hỗ trợ mục tiêu quản trị hay không. Phản hồi từ cán bộ cấp xã phải được phân loại thành câu hỏi kiến thức, vướng mắc quy trình, xung đột thẩm quyền, thiếu nguồn lực, phản ánh tác động và thông tin sai lệch. Mỗi loại cần đường xử lý khác nhau. OECD khuyến nghị quy trình tham gia có mục tiêu rõ, thông tin đầy đủ, cơ hội đóng góp có ý nghĩa, phản hồi về cách sử dụng ý kiến và đánh giá sau quá trình (OECD, 2022). Khi phản hồi không được sử dụng, vòng truyền thông bị đứt và hệ thống mất cơ hội phát hiện sớm rủi ro.
Khung phân tích đồng thời thừa nhận các biến điều tiết: chức danh, địa bàn, thâm niên, khối công tác, năng lực số, khối lượng nhiệm vụ, chất lượng lãnh đạo và văn hóa phản hồi. Cùng một đầu vào có thể tạo kết quả khác nhau giữa phường đông dân, xã ngoại thành hoặc địa bàn đang xử lý vấn đề nhạy cảm. Bởi vậy, khảo sát thực chứng cần phân tầng mẫu và kiểm tra khác biệt nhóm; kết quả tổng hợp phải đi kèm phân tích phân bố, không chỉ một điểm trung bình. Điều này giúp chuyển từ đánh giá “một cỡ cho tất cả” sang chẩn đoán đúng điểm nghẽn để điều chỉnh nội dung, kênh, năng lực hoặc cơ chế phối hợp.
5. Hệ tiêu chí đánh giá và cách vận dụng
Hệ tiêu chí cần bảo đảm bốn yêu cầu. Một là, bao quát toàn chuỗi nhưng tránh trùng lặp giữa điều kiện, hoạt động và kết quả. Hai là, mỗi tiêu chí phải có định nghĩa thao tác, nguồn dữ liệu và cách đo. Ba là, kết hợp chuẩn bắt buộc với mức độ cải tiến: sai định hướng chính trị, sai pháp luật hoặc vi phạm bảo mật là lỗi nghiêm trọng, không thể bù bằng điểm độ phủ cao. Bốn là, có thể so sánh theo thời gian và nhóm cán bộ nhưng vẫn cho phép điều chỉnh theo nhiệm vụ. Đây là khung mở để kiểm định bằng chuyên gia, khảo sát thử, phân tích độ tin cậy và giá trị thang đo trước khi áp dụng rộng.
Thứ nhất, chất lượng lãnh đạo, thể chế và mục tiêu. Nhóm này đánh giá mức độ truyền thông được đặt trong chương trình công tác; sự tham gia và trách nhiệm của người đứng đầu; quy chế phân công, đầu mối điều phối, thẩm quyền phê duyệt, thời hạn phản hồi và cơ chế xử lý khủng hoảng. Mục tiêu phải cụ thể, đo được, phù hợp, có thời hạn và liên kết với nhiệm vụ chính trị hoặc vấn đề công vụ. Chỉ báo có thể gồm, tỷ lệ nhiệm vụ quan trọng có mục tiêu truyền thông và đường cơ sở; mức rõ ràng của phân công trách nhiệm; tỷ lệ vấn đề liên cơ quan có đầu mối thống nhất; mức tham gia trực tiếp của người đứng đầu; khả năng truy vết quyết định và trách nhiệm khi thông tin sai hoặc chậm.
Thứ hai, chất lượng chủ thể và nguồn lực. Tiêu chí chủ thể bao gồm bản lĩnh chính trị, đạo đức, uy tín, hiểu biết chính sách, khả năng phân tích đối tượng, diễn đạt, đối thoại, kiểm chứng, sử dụng dữ liệu và xử lý thông tin sai lệch. Tiêu chí nguồn lực gồm nhân sự, thời gian, kinh phí, hạ tầng, kho tri thức, công cụ số và hỗ trợ kỹ thuật. Chỉ báo gợi ý là tỷ lệ người làm nhiệm vụ được bồi dưỡng theo vị trí; mức độ cán bộ tin cậy người truyền đạt; khả năng trả lời hoặc chuyển câu hỏi đúng đầu mối; thời gian dành cho chuẩn bị và kiểm chứng; mức sẵn có của văn bản gốc, dữ liệu và công cụ hỗ trợ. Quyết định số 700/QĐ-TTg năm 2026 và Bộ chỉ số năng lực số trong cơ quan đảng là hai nguồn chuẩn để cụ thể hóa nhóm chỉ báo năng lực (Thủ tướng Chính phủ, 2026; Ban Chỉ đạo chuyển đổi số trong các cơ quan đảng, 2026).
Thứ ba, chất lượng nội dung – thông điệp. Ba cụm thuộc tính cần đo là: tính chính trị, pháp lý và khoa học; tính chính xác, kịp thời và nhất quán; tính phù hợp, dễ hiểu và có khả năng hành động. Chỉ báo có thể gồm tỷ lệ nội dung có căn cứ và đường dẫn nguồn chính thức; số lỗi phải đính chính; độ trễ từ khi văn bản có hiệu lực hoặc thay đổi đến khi cán bộ nhận được hướng dẫn; tỷ lệ sản phẩm có mã phiên bản; mức phù hợp theo chức danh; mức độ người nhận xác định đúng việc phải làm, thẩm quyền, thời hạn và đầu mối phối hợp. Với văn bản năm 2025 – 2026, ngày ban hành không được dùng thay ngày có hiệu lực; tài liệu truyền thông phải ghi rõ trạng thái hiện hành, văn bản bị thay thế hoặc điều khoản chuyển tiếp nếu có.
Thứ tư, chất lượng phương thức, kênh và tương tác. Tiêu chí bao gồm khả năng tiếp cận đúng đối tượng, thuận tiện và có thể tìm lại; mức phù hợp giữa kênh với độ khẩn, chiều sâu và mức bảo mật; sự tích hợp trực tiếp – văn bản – số; chất lượng đối thoại và phản hồi. Chỉ báo gợi ý là tỷ lệ cán bộ nhận thông tin trước thời điểm phải hành động; tỷ lệ tìm được văn bản gốc trong thời gian quy định; mức trùng lặp hoặc mâu thuẫn giữa các kênh; tỷ lệ câu hỏi được tiếp nhận, chuyển đúng thẩm quyền và trả lời đúng hạn; mức người hỏi biết kết quả xử lý; cảm nhận an toàn khi nêu khó khăn. Độ phủ cao nhưng sai đối tượng hoặc không thể tra cứu lại không phải là tiếp cận có chất lượng.
Thứ năm, chất lượng quy trình, dữ liệu và an toàn. Nhóm này kiểm tra đầy đủ các bước từ nghiên cứu nhu cầu, đặt mục tiêu, thiết kế, thẩm định, phát hành, theo dõi, phản hồi, đánh giá đến lưu trữ; khả năng truy vết ai tạo, ai duyệt, phiên bản nào đang dùng; độ đúng, đầy đủ, cập nhật và liên thông của dữ liệu; phân quyền, bảo vệ bí mật, dữ liệu cá nhân và an ninh hệ thống. Chỉ báo có thể gồm tỷ lệ sản phẩm qua kiểm tra nội dung – pháp lý – bảo mật; tỷ lệ nguồn dữ liệu có chủ quản; số sự cố phiên bản hoặc truy cập trái phép; mức hoàn thành đánh giá rủi ro; tỷ lệ nội dung do trí tuệ nhân tạo hỗ trợ được con người kiểm chứng; thời gian khôi phục khi kênh chính gặp sự cố (Quốc hội, 2024b, 2025d).
Thứ sáu, chất lượng đầu ra, kết quả và tác động. Đầu ra được đo bằng tiếp cận đúng, đúng thời điểm, mức tham gia, mức hoàn thành sản phẩm và phản hồi theo kế hoạch. Kết quả nhận thức – thái độ gồm hiểu đúng, ghi nhớ, tin cậy, đồng thuận có hiểu biết, bản lĩnh và cảm nhận được hỗ trợ. Kết quả năng lực – hành vi gồm khả năng giải thích, ra quyết định, phối hợp, tổ chức thực hiện, xử lý tình huống và phản hồi. Tác động gồm đóng góp vào chất lượng nhiệm vụ, giảm sai sót và chậm trễ, nâng cao sự hài lòng, niềm tin và khả năng thích ứng. Niềm tin cần được xem trong quan hệ với khả năng đáp ứng, độ tin cậy, tính mở, liêm chính và công bằng của thể chế (OECD, 2026). Việc phân tầng tương thích với Barcelona Principles 3.0 và nghiên cứu đánh giá truyền thông công, vốn yêu cầu nhận diện rõ đầu ra, kết quả và tác động (AMEC, 2020; Macnamara, 2018).
Về phương pháp vận dụng, mỗi nhóm tiêu chí nên được cụ thể hóa thành chỉ báo quan sát được, xác định nguồn bằng chứng và thang đo. Dữ liệu hành chính dùng cho độ trễ, tỷ lệ trả lời, sai sót và kết quả công vụ; phân tích nội dung dùng cho căn cứ, cấu trúc, khả năng hành động và phiên bản; khảo sát cán bộ đo trải nghiệm, hiểu, tin cậy và tự tin thực hiện; phỏng vấn sâu giải thích nguyên nhân; tình huống mô phỏng kiểm tra năng lực. Kết quả phải được phân tích theo khối công tác, chức danh, địa bàn, thâm niên và năng lực số. Tam giác hóa các nguồn giúp giảm thiên lệch tự báo cáo và tạo bằng chứng đủ sức thuyết phục cho cải tiến.
6. Kết luận
Trong chính quyền địa phương hai cấp, cán bộ cấp xã là mắt xích chuyển hóa định hướng chính trị và quy định pháp luật thành quyết định, phối hợp, giải thích và hành động ở cơ sở. Vì vậy, chất lượng truyền thông chính trị cho đội ngũ này không thể đồng nhất với độ phủ, tần suất, số văn bản hoặc mức tương tác trên nền tảng số. Chất lượng là mức đáp ứng tổng thể của lãnh đạo, mục tiêu, chủ thể, nội dung, kênh, quy trình, dữ liệu và kết quả; được nhận diện qua sự chính xác, kịp thời, phù hợp, khả năng hành động, tương tác, an toàn và năng lực học hỏi. Chuỗi đầu vào – quá trình – đầu ra – kết quả – tác động giúp làm rõ cơ chế tạo chất lượng và giới hạn của suy luận nhân quả.
Sáu nhóm tiêu chí được đề xuất tạo cầu nối giữa lý luận và đo lường thực chứng, đồng thời phù hợp với yêu cầu pháp lý và chuyển đổi số cập nhật đến tháng 8/2026. Khi áp dụng, cần phân biệt cán bộ với công chức, phân đoạn theo chức danh và địa bàn; kết hợp hồ sơ, dữ liệu hành chính, phân tích nội dung, khảo sát, phỏng vấn và tình huống; coi đúng pháp luật và an toàn là ngưỡng bắt buộc; ưu tiên kết quả nhận thức, năng lực, hành vi hơn chỉ số sản phẩm. Khung này có thể dùng để phát triển thang đo cho nghiên cứu ở Hà Nội, chẩn đoán điểm nghẽn và tổ chức cải tiến liên tục, qua đó nâng cao năng lực lãnh đạo, quản trị, phục vụ Nhân dân và phản hồi chính sách từ cơ sở.
Tài liệu tham khảo:
Association for Measurement and Evaluation of Communication. (2020). Barcelona Principles 3.0. AMEC.
Ban Chỉ đạo chuyển đổi số trong các cơ quan Đảng (2026). Quyết định số 23-QĐ/BCĐ ngày 17/8/2026 ban hành Bộ chỉ số đánh giá năng lực số và mức độ sẵn sàng chuyển đổi số trong các cơ quan đảng, phiên bản 1.0.
Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Easton, D. (1965). A systems analysis of political life. Wiley.
Grunig, J. E., & Hunt, T. (1984). Managing public relations. Holt, Rinehart and Winston.
Hallahan, K., Holtzhausen, D., van Ruler, B., Verčič, D., & Sriramesh, K. (2007). Defining strategic communication. International Journal of Strategic Communication, 1(1), 3–35.
https://doi.org/10.1080/15531180701285244.
International Organization for Standardization. (2026). ISO 9000:2026 quality management systems Fundamentals and vocabulary. ISO.
Macnamara, J. (2018). Evaluating public communication: Exploring new models, standards, and best practice. Routledge.
https://doi.org/10.4324/9781315391984.
Quốc hội (2024). Luật Dữ liệu năm 2024
Quốc hội (2025). Nghị quyết số 203/2025/QH15 ngày 16/6/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Quốc hội (2025). Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025.
Quốc hội (2025). Luật Cán bộ, công chức năm 2025.
Quốc hội (2025). Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025.
Quốc hội (2025). Luật Báo chí năm 2025.
Quốc hội (2026). Luật Tiếp cận thông tin năm 2026.
Quốc hội (2026). Luật Thủ đô năm 2026.
OECD (2022). OECD guidelines for citizen participation processes. OECD Publishing. https://doi.org/10.1787/f765caf6-en.
OECD (2025). Public communication scan of France: Towards efficiency and impact. OECD Publishing. https://doi.org/10.1787/7450361a-en.
OECD. (2026). OECD survey on drivers of trust in public institutions 2026 results: Navigating rising expectations and new horizons. OECD Publishing. https://doi.org/10.1787/9eb63fec-en.
Thủ tướng Chính phủ (2022). Quyết định số 407/QĐ-TTg ngày 30/3/2022 phê duyệt Đề án “Tổ chức truyền thông chính sách có tác động lớn đến xã hội trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật giai đoạn 2022 – 2027”.
Thủ tướng Chính phủ (2023). Chỉ thị số 07/CT-TTg ngày 21/3/2023 về việc tăng cường công tác truyền thông chính sách.
Thủ tướng Chính phủ (2026). Quyết định số 700/QĐ-TTg ngày 20/4/2026 phê duyệt Đề án tăng cường bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức ở xã, phường, đặc khu đáp ứng yêu cầu vận hành chính quyền địa phương hai cấp giai đoạn 2026 – 2031.
Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2025). Nghị quyết số 1656/NQ-UBTVQH15 ngày 16/6/2025 về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã của thành phố Hà Nội năm 2025.
Văn phòng Quốc hội (2026). Văn bản hợp nhất Luật Dữ liệu số 42/VBHN-VPQH ngày 16/3/2026.



