Xây dựng môi trường nghiên cứu khoa học ở các học viện, trường sĩ quan Quân đội hiện nay

Building a scientific research environment in military academies and officer schools today

ThS. Nguyễn Văn Chín
Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng
Email: Nguyenchink1@gmail.com

(Quanlynhanuoc.vn) – Môi trường nghiên cứu khoa học là tổng thể các yếu tố, điều kiện trực tiếp tác động và hỗ trợ hoạt động nghiên cứu khoa học. Đây là yếu tố không thể thiếu, có vai trò ngày càng quan trọng, quyết định việc hình thành, phát triển và phát huy năng lực nghiên cứu của cá nhân và tập thể khoa học. Môi trường nghiên cứu khoa học ở các học viện, trường sĩ quan Quân đội mang tính đặc thù của lĩnh vực quân sự, được hình thành và vận hành trong khuôn khổ tổ chức chặt chẽ, kỷ luật nghiêm minh với mục tiêu trực tiếp nâng cao chất lượng giáo dục – đào tạo, xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng và bảo vệ Tổ quốc.

Từ khóa: Nghiên cứu khoa học; các học viện, trường sĩ quan Quân đội; chất lượng giáo dục, đào tạo.

Abstract: The scientific research environment is the totality of factors and conditions that directly influence and support scientific research activities. It is an indispensable element that plays an increasingly important role in determining the formation, development, and enhancement of the research capabilities of both individual researchers and scientific communities. The scientific research environment at military academies and officer training schools has the distinctive characteristics of the military field; it is established and operated within a tightly organized framework and under strict discipline, with the direct objectives of improving the quality of education and training, building the armed forces, strengthening national defense, and protecting the homeland.

Keywords: Scientific research; military academies and officer training schools; quality of education and training.

1. Đặt vấn đề

Nghị quyết số 1652-NQ/QUTW ngày 20/12/2022 của Quân ủy Trung ương về lãnh đạo công tác khoa học quân sự đến năm 2030 và những năm tiếp theo xác định: “Tập trung đầu tư phát triển một số viện nghiên cứu, học viện, nhà trường theo mô hình tiên tiến, gắn kết chặt chẽ giữa đào tạo và nghiên cứu”. Theo đó, nghiên cứu khoa học trở thành nhiệm vụ quan trọng, bắt buộc, cần thiết ở các học viện, trường sĩ quan Quân đội hướng đến mục tiêu nâng cao chất lượng giảng dạy, đáp ứng tốt hơn yêu cầu ngày càng cao của công tác giáo dục, đào tạo trong thời kỳ mới. Để hoạt động nghiên cứu khoa học ở các học viện, trường sĩ quan Quân đội đi vào thực chất, trở thành “điểm tựa” hỗ trợ nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo thì xây dựng môi trường nghiên cứu khoa học trở thành vấn đề quan trọng và cấp thiết.

Bài viết tập trung khái quát một số vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng môi trường nghiên cứu khoa học, nhất là những hạn chế, bất cập trong môi trường nghiên cứu khoa học ở các học viện, trường sĩ quan Quân đội những năm qua. Từ đó, đề xuất giải pháp nhằm tạo dựng môi trường nghiên cứu khoa học dân chủ, thuận lợi ở các học viện, trường sĩ quan Quân đội trong giai đoạn hiện nay.

2. Thực trạng môi trường nghiên cứu khoa học ở các học viện, trường sĩ quan Quân đội

Môi trường nghiên cứu khoa học là tổng thể các điều kiện, yếu tố trực tiếp hỗ trợ hoạt động khám phá, tìm tòi, sáng tạo tri thức mới của người nghiên cứu. Môi trường nghiên cứu khoa học được cấu thành từ các yếu tố: hệ thống thể chế – chính sách; hệ thống cơ sở vật chất – kỹ thuật; môi trường văn hóa và dân chủ khoa học… Môi trường nghiên cứu khoa học trước hết được hình thành từ sự quan tâm, tạo điều kiện của các chủ thể thông qua quá trình xây dựng và ban hành hệ thống các quy chế, quy định, cơ chế, chính sách có liên quan tới hoạt động nghiên cứu khoa học.

Hệ thống thể chế – chính sách minh bạch, ổn định sẽ khuyến khích quá trình nghiên cứu nghiêm túc và sáng tạo. Hệ thống cơ sở vật chất – kỹ thuật trong nghiên cứu khoa học bao gồm toàn bộ công trình, trang thiết bị, phương tiện kỹ thuật, công nghệ và tài liệu được đầu tư nhằm bảo đảm cho hoạt động nghiên cứu khoa học diễn ra liên tục, chính xác, an toàn và hiệu quả. Hệ thống cơ sở vật chất – kỹ thuật tiên tiến tạo điều kiện để triển khai nghiên cứu chuyên sâu, liên ngành, công nghệ cao, từ đó hình thành các sản phẩm khoa học mới.

Môi trường văn hóa khoa học là tổng thể các giá trị, chuẩn mực, niềm tin, thái độ, hành vi và cách thức ứng xử được hình thành, duy trì trong tập thể khoa học, chi phối hoạt động và sự phát triển tri thức khoa học của nhà nghiên cứu. Nếu cơ sở vật chất – kỹ thuật tạo nền tảng vật chất thì môi trường văn hóa khoa học tạo ra “không gian tinh thần” để phát triển các ý tưởng, sáng tạo khoa học. Bên cạnh đó, trong môi trường khoa học, yếu tố dân chủ khoa học ngày càng quan trọng, trở thành động lực nội sinh thúc đẩy sự phát triển của khoa học cả về chiều rộng lẫn chiều sâu.

Những năm qua, được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng, chỉ huy các cấp, tinh thần quyết tâm cao của các chủ thể có liên quan, môi trường nghiên cứu khoa học ở các học viện, trường sĩ quan Quân đội đã có nhiều chuyển biến tích cực, tạo thuận lợi để phát huy tiềm năng, thế mạnh hiện có của nguồn nhân lực khoa học. Cụ thể:

(1) Đa số các học viện, trường sĩ quan Quân đội đã duy trì có nền nếp, hiệu quả các hoạt động và phong trào thi đua nghiên cứu khoa học với các hình thức, biện pháp đa dạng, phong phú, phù hợp với đặc điểm của cơ sở đào tạo.

(2) Hệ thống quy chế, quy định, cơ chế, chính sách trong nghiên cứu khoa học ngày càng hoàn thiện với “nhiều giải pháp để động viên, khuyến khích cán bộ, giảng viên tham gia nghiên cứu khoa học” (Bộ Tổng Tham mưu, 2024).

(3) Hệ thông cơ sở vật chất – kỹ thuật có liên quan, nhất là hệ thống thông tin thư viện, phòng thí nghiệm… từng bước được hiện đại hóa, bước đầu đáp ứng yêu cầu của hoạt động nghiên cứu khoa học trong thời kỳ mới.

(4) Môi trường nghiên cứu khoa học thuận lợi đã đóng góp quan trọng vào kết quả nghiên cứu khoa học hằng năm của các học viện, trường sĩ quan Quân đội với 1973 đề tài khoa học các cấp, trong đó nhiều đề tài nghiệm thu đạt kết quả xuất sắc; biên soạn 856 giáo trình, tài liệu dạy học… (Bộ Tổng Tham mưu, 2025).

Tuy nhiên, bên cạnh đó, môi trường nghiên cứu khoa học ở học viện, trường sĩ quan Quân đội còn những hạn chế nhất định, như: một số chủ thể chưa chủ động, thiếu kiên quyết và quyết liệt trong lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng môi trường nghiên cứu khoa học; quy chế, quy định còn chồng chéo; cơ chế, chính sách còn bất cập, chưa thúc đẩy tinh thần đổi mới, sáng tạo và tính đột phá trong nghiên cứu khoa học; phong trào nghiên cứu khoa học ở một cơ sở đào tạo chưa thành nền nếp, còn mang tính thời điểm; hệ thống cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ nghiên cứu khoa học còn nhiều khó khăn, chưa theo kịp sự phát triển của khoa học – công nghệ giai đoạn hiện nay.

3. Một số giải pháp

Nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của nhiệm vụ nghiên cứu khoa học trong tình hình mới, các học viên, trường sĩ quan Quân đội trong thời gian tới cần thực hiện tốt một số giải pháp cơ bản sau:

Một là, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy, chỉ huy các cấp. Các cấp ủy đảng, chỉ huy các cấp cần nhận thức đúng, đề cao trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo, phát huy vai trò của các tổ chức, lực lượng trong xây dựng môi trường nghiên cứu khoa học, đưa các học viện, trường sĩ quan Quân đội trở thành điểm sáng, đầu tàu trong nghiên cứu khoa học của Quân đội và quốc gia. Trên cơ sở nghiên cứu, quán triệt chủ trương, chính sách, các nghị quyết, chỉ thị, kế hoạch của Đảng, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về công tác khoa học quân sự, các cấp ủy đảng, chỉ huy các cấp cần cụ thể hóa vào nghị quyết, quy chế, quy định, hướng dẫn phù hợp với tính chất, nhiệm vụ của mỗi cơ sở đào tạo.

Thường xuyên giáo dục, quán triệt sâu sắc cho các tổ chức, lực lượng, nhất là nguồn nhân lực khoa học về ý nghĩa, vai trò của hoạt động nghiên cứu khoa học “là nhân tố quan trọng góp phần xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại” (Quân uỷ Trung ương, 2022). Qua đó, quán triệt nghiêm túc quan điểm về khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, nhận thức sâu sắc giảng dạy và nghiên cứu khoa học là hai nhiệm vụ gắn bó hữu cơ, không thể tách rời ở các học viện, trường sĩ quan Quân đội. Kịp thời phát hiện, chấn chỉnh những biểu hiện thiếu nhiệt tình, nghiên cứu hoặc nghiên cứu khoa học mang tính đối phó, làm cho đủ giờ nghiên cứu, đủ chỉ tiêu quy định, ít quan tâm đến chất lượng, hiệu quả các sản phẩm khoa học. Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện và thực hiện có hiệu quả quy chế, quy định, lộ trình đề án bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực khoa học ở các học viện, trường sĩ quan Quân đội.

Hai là, duy trì và thực hiện nền nếp, hiệu quả phong trào thi đua nghiên cứu khoa học; xây dựng môi trường văn hóa khoa học. Đẩy mạnh phong trào nghiên cứu khoa học ở các học viên, trường sĩ quan Quân đội cả bề rộng và chiều sâu, gắn kết chặt chẽ với các phong trào hoạt động khác của các học viện, trường sĩ quan Quân đội, nhất là phong trào thi đua dạy tốt – học tốt, nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo. Thường xuyên duy trì có nền nếp, đa dạng hóa các hoạt động nghiên cứu khoa học phù hợp với từng đối tượng, như:

(1) Đối với cán bộ, giảng viên, đẩy mạnh thi đua nghiên cứu khoa học gắn với hoạt động chuyên môn và công tác giảng dạy; trọng tâm là tham gia nghiên cứu đề tài, sáng kiến khoa học các cấp, biên soạn giáo trình, tài liệu dạy học, tham gia hội thảo khoa học trong và ngoài Quân đội.

(2) Đối với học viên, thực hiện tốt phương châm “học đi đôi với hành”, gắn kết nghiên cứu khoa học với nhiệm vụ học tập, rèn luyện; thành lập các câu lạc bộ, tổ, nhóm nghiên cứu khoa học ở các đơn vị quản lý học viên; tổ chức nghiêm túc các hoạt động nghiên cứu khoa học, cuộc thi, diễn đàn, tọa đàm… Qua đó, học viên được thỏa sức sáng tạo, ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học vào quá trình học tập, rèn luyện.

Xây dựng văn hóa khoa học, tạo dựng và duy trì bầu không khí dân chủ khoa học, trân trọng và tôn vinh mọi ý tưởng và sản phẩm khoa học của cán bộ, giảng viên và học viên. Tôn trọng, khuyến khích tranh luận, phản biện, các quan điểm đa chiều trong nghiên cứu khoa học; kiên quyết loại bỏ tư tưởng áp đặt chủ quan hay định kiến trong nghiên cứu khoa học. Thúc đẩy tinh thần hợp tác, chia sẻ, trao đổi tri thức, kinh nghiệm trong nghiên cứu khoa học giữa các chủ thể nghiên cứu, giữa cá nhân và cơ quan quản lý, hợp tác trong nội bộ và giữa các học viện, trường sĩ quan với các cơ sở đào tạo, nghiên cứu ngoài Quân đội. Phát triển văn hóa đổi mới, sáng tạo cho các chủ thể nghiên cứu khoa học; đưa đổi mới, sáng tạo trở thành chuẩn mực giá trị cốt lõi, một tiêu chí quan trọng đánh giá hiệu quả nghiên cứu khoa học trong bối cảnh hội nhập và chuyển đổi số. Lãnh đạo, chỉ huy các cấp cần cụ thể hóa các nội dung trên trở thành chuẩn mực giá trị của cá nhân và tổ chức, từng bước hình thành văn hóa khoa học ở các học viện, trường sĩ quan Quân đội.

Ba là, tiếp tục rà soát, hoàn thiện và thực hiện nghiêm quy chế nghiên cứu khoa học. Thường xuyên rà soát, đánh giá khách quan môi trường pháp lý trong nghiên cứu khoa học, qua đó, tham mưu, đề xuất với Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng hoàn thiện thể chế; từng bước điều chỉnh, bổ sung các quy định, quy chế nghiên cứu khoa học phù hợp với thực tiễn ở các học viện, trường sĩ quan Quân đội, tạo điều kiện cho cán bộ, giảng viên, học viên tham gia sâu, rộng hơn vào các hoạt đông nghiên cứu khoa học trong và ngoài Quân đội.

Xây dựng, hoàn thiện các văn bản, quy định hướng dẫn về nghiên cứu khoa học chặt chẽ, thống nhất. Xây dựng và hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa các cơ quan, các khoa giáo viên và đơn vị quản lý học viên; khắc phục tình trạng chồng chéo, lấn sân hoặc thoái thác trách nhiệm trong tổ chức, triển khai nghiên cứu khoa học của các lực lượng. Quá trình thực hiện cần linh hoạt, sáng tạo, bảo đảm hoạt động nghiên cứu khoa học vừa tuân thủ những quy định, quy chế đã được ban hành, vừa có độ “mở” cần thiết, thúc đẩy tinh thần đổi mới, sáng tạo trong nghiên cứu khoa học.

Bốn là, nghiên cứu, hoàn thiện hệ thống chính sách mang tính đặc thù, tạo bước đột phá thúc đẩy nghiên cứu khoa học. Hệ thống chính sách phù hợp sẽ tạo động lực, kích thích tinh thần hào hứng, đam mê nghiên cứu của cán bộ, giảng viên và học viên; thúc đẩy họ tự nguyện dấn thân, sẵn sàng vượt qua khó khăn, thử thách, chấp nhận hy sinh những nhu cầu khác để dành thời gian và công sức cho nghiên cứu khoa học. Do vậy, cần tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện, bổ sung một số chính sách mang tính đặc thù cho nghiên cứu khoa học, như: tăng nguồn kinh phí dành riêng cho nghiên cứu khoa học, tăng mức thù lao cho các sản phẩm khoa học…

Đồng thời, kịp thời khen thưởng, động viên, có chính sách ưu tiên trong xét các danh hiệu thi đua; ưu tiên trong công tác quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng; quy hoạch bố trí, sử dụng cá nhân có thành tích tiêu biểu trong nghiên cứu khoa học ở các chức danh lãnh đạo, quản lý; chính sách phong, thăng quân hàm trước thời hạn, cộng điểm đối với các công trình có chất lượng tốt. Trong giai đoạn mới, để bắt kịp tốc độ phát triển và tạo bước đột phá, cần bổ sung cơ chế, chính sách khuyến khích cán bộ, giảng viên, học viên dám đổi mới, sáng tạo, xây dựng và ban hành cơ chế, chính sách chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu khoa học, nhất là những lĩnh vực nghiên cứu mới và phức tạp.

Năm là, bảo đảm tốt cơ sở vật chất – kỹ thuật, tăng cường trao đổi, hợp tác nghiên cứu khoa học. Tăng cường đầu tư xây dựng hệ thống thư viện các học viện, trường sĩ quan hiện đại về trang thiết bị, phong phú về tài liệu; đẩy nhanh số hóa tài liệu; đầu tư, xây dựng hệ thống thư viện điện tử với trang thiết bị tiên tiến, có khả năng kết nối, liên thông, chia sẻ tài liệu với thư viện điện tử của các cơ sở đào tạo trong và ngoài Quân đội. Đầu tư xây dựng hệ thống phòng thí nghiệm, trước hết ưu tiên các cơ sở đào tạo lĩnh vực công nghệ, kỹ thuật, y dược. Trong điều kiện hiện nay, cần nghiên cứu, khai thác tính “lưỡng dụng” của hệ thống hiện có, vừa phục vụ mục đích học tập, công tác vừa phục vụ hoạt động nghiên cứu khoa học.

Bên cạnh đó, các học viện, trường sĩ quan Quân đội cần chủ động kế hoạch hoặc khuyến khích cán bộ, giảng viên, học mở rộng liên kết, hợp tác nghiên cứu khoa học với các cơ sở đào tạo, nghiên cứu trong hệ thống giáo dục quốc dân. Việc này vừa góp phần nâng cao chất lượng các công trình khoa học, vừa tạo ra môi trường thuận lợi để nguồn nhân lực khoa học ở các học viện, trường sĩ quan Quân đội phát triển, rèn luyện, nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học.

4. Kết luận

Môi trường nghiên cứu khoa học là sản phẩm từ sự tác động tổng hợp của nhiều yếu tố, từ hệ thống thể chế, chính sách, môi trường văn hóa, dân chủ khoa học đến hệ thống cơ sở vật chất – kỹ thuật có liên quan. Trong giai đoạn hiện nay, môi trường nghiên cứu khoa học có vai trò đặc biệt quan trọng, quyết định chất lượng, hiệu quả nghiên cứu khoa học ở các học viện, trường sĩ quan Quân đội. Đánh giá đúng những ưu điểm, hạn chế, trên cơ sở đó, vận dụng linh hoạt những giải pháp đã xác định góp phần xây dựng môi trường nghiên cứu khoa học dân chủ, thuận lợi, thực sự trở thành động lực thúc đẩy hoạt động khám phá, tìm tòi, sáng tạo tri thức mới của cán bộ, giảng viên, học viên ở các học viện, trường sĩ quan Quân đội trong giai đoạn hiện nay.

Tài liệu tham khảo:
Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam (2024). Báo cáo tổng kết năm học 2023 – 2024, phương hướng nhiệm vụ năm học 2024 – 2025.
Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam (2025). Báo cáo tổng kết năm học 2024 – 2025, phương hướng nhiệm vụ năm học 2025 – 2026.
Quân ủy Trung ương (2022). Nghị quyết số 1652-NQ/QUTW ngày 20/12/2022 về lãnh đạo công tác khoa học quân sự đến năm 2030 và những năm tiếp theo.
Quân ủy Trung ương (2025). Nghị quyết số 3488-NQ/QUTW ngày 29/01/2025 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong Quân đội.