Improving Vietnam’s regulations on sound trademarks from an origin-based classification framework
Nguyễn Phú Thành
Trường Đại học Thủ Dầu Một
Email: mrtonynp@gmail.com
(Quanlynhanuoc.vn) – Thông tư số 10/2026/TT-BKHCN ngày 31/3/2026 đã ấn định mẫu nhãn hiệu âm thanh và cách đánh giá khả năng phân biệt, nhưng thực tiễn cho thấy quy phạm chưa vận hành đúng như thiết kế. Từ khung phân loại theo nguồn gốc đã công bố, bài viết nhận diện 4 nhóm vấn đề pháp lý: âm thanh mang tính chức năng, phần lời, ký âm khuông nhạc năm dòng kẻ và điều kiện dữ liệu để tra cứu, phản đối đơn, cũng như đánh giá khả năng gây nhầm lẫn. Kiểm nghiệm bằng công cụ số hóa cho thấy, tiêu chí hiện hành có thể được chuyển thành một thao tác có thể đo lường. Tác giả đề xuất bổ sung vào Điều 76 Thông tư số 10/2026/TT-BKHCN một khoản về âm thanh mang tính chức năng, kèm theo dự thảo điều khoản nêu trên, căn cứ khoản 6 Điều 73 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005.
Từ khóa: Nhãn hiệu âm thanh; phân loại theo nguồn gốc; khả năng phân biệt; khuông nhạc năm dòng kẻ; hoàn thiện quy định; cơ sở dữ liệu nhãn hiệu.
Abstract: Circular No. 10/2026/TT-BKHCN, dated March 31, 2026, established the format for sound trademarks and the criteria for assessing their distinctiveness; however, in practice, the regulations have not been implemented as intended. Based on the published classification framework by origin, this article identifies four groups of legal issues: functional sounds, lyrics, musical notation on a five-line staff, and data requirements for searching, opposing applications, and assessing the likelihood of confusion. Testing using digital tools shows that the current criteria can be translated into measurable operations. The author proposes adding a provision on functional sounds to Article 76 of Circular No. 10/2026/TT-BKHCN, along with a draft provision based on Clause 6 of Article 73 of the 2005 Intellectual Property Law.
Keywords: Sound trademarks; origin-based classification; distinctiveness; five-line staff notation; regulatory improvement; trademark database.
1. Đặt vấn đề
Nhãn hiệu âm thanh đã được giới nghiên cứu trong nước quan tâm từ khi Việt Nam nội luật hóa các cam kết của Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương. Các công trình nghiên cứu hiện có về nhãn hiệu âm thanh tập trung vào 3 hướng nghiên cứu. Hướng thứ nhất chỉ ra bất cập của pháp luật thực định và đề xuất hoàn thiện, tiêu biểu là nghiên cứu chỉ ra việc thiếu hướng dẫn riêng, tờ khai chưa cá biệt hóa và chưa quy định định dạng tệp âm thanh (Phùng Thị Yến và nnk, 2024, tr. 67-68), hoặc phân tích ba nhóm điều kiện bảo hộ nhãn hiệu phi truyền thống, trong đó, Thông tư số 23/2023/TT-BKHCN đến nay đã hết hiệu lực cũng chưa quy định chi tiết đối với âm thanh phổ biến trong đời sống (Nguyễn Xuân Quang & Lê Nhật Hồng, 2025, tr. 8-12, 16). Hướng thứ hai so sánh với pháp luật nước ngoài, chủ yếu là pháp luật Hoa Kỳ, về yêu cầu thể hiện, tính phi chức năng và khả năng phân biệt (Nguyễn Ngọc Anh Đào, 2024). Hướng thứ ba đặt nhãn hiệu âm thanh trong bối cảnh chiến lược thương hiệu bằng âm thanh và học thuyết ý nghĩa thứ hai (Zhang, 2021). Điểm chung của các công trình này là dừng ở việc kiến nghị hoàn thiện quy phạm, chưa đề cập tới 2 vấn đề mà bài viết này đặt ra: chất lượng dữ liệu của chính cơ sở dữ liệu quốc gia và cách chuyển các tiêu chí thẩm định thành các thao tác đo lường được.
Tác giả đã đề xuất một khung phân loại âm thanh gồm hai nhóm lớn và bảy nhóm chi tiết, lấy nguồn gốc phát sinh của âm thanh làm tiêu chí phân nhóm cấp một (Nguyễn Phú Thành, 2026). Khung đó mới dừng ở mức mô tả, chưa gắn từng nhóm với điều khoản cụ thể của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi, bổ sung năm 2009, 2019, 2022 và 2025 (sau đây gọi là Luật Sở hữu trí tuệ), chưa xử lý trường hợp một nhóm chứa nhiều loại âm có địa vị pháp lý khác nhau và chưa được kiểm nghiệm bằng dữ liệu đăng ký thực tế.
Sau khi đề xuất được công bố, Thông tư số 10/2026/TT-BKHCN ngày 31/3/2026 của Bộ Khoa học và Công nghệ, có hiệu lực từ ngày 01/4/2026 (sau đây gọi là Thông tư số 10/2026/TT-BKHCN), ra đời và ấn định mẫu nhãn hiệu âm thanh gồm tệp MP3 kèm bản thể hiện đồ họa là khuông nhạc năm dòng kẻ, đồng thời loại khỏi phạm vi bảo hộ dấu hiệu âm thanh không thể hiện được dưới dạng khuông nhạc. Kiến nghị chuẩn hóa hình thức thể hiện mà bài viết trước nêu ra nay đã có lời đáp, nhưng là lời đáp hẹp hơn mô hình của Liên minh châu Âu, nơi đã bỏ yêu cầu thể hiện bằng đồ họa và chỉ đòi hỏi cách thể hiện nào cho phép xác định rõ ràng, chính xác đối tượng được bảo hộ (điểm b Điều 4 Quy chế (EU) 2017/1001). Hệ quả là một dấu hiệu âm thanh không ký âm vẫn được đăng ký tại Liên minh châu Âu nhưng bị từ chối ngay tại Việt Nam.
Tiếp tục nghiên cứu ở khung phân loại đó, tác giả đã chuyển thành một công cụ số hóa thí điểm để mô hình hóa và thử áp dụng khung, tuy chưa qua kiểm định độc lập và chưa chạy trên mẫu nhãn hiệu thật, nhưng giá trị của nó nằm ở chỗ việc lập trình buộc phải đưa ra một phương án xử lý cụ thể cho từng câu hỏi mà bản mô tả khung phân loại còn để ngỏ. Đồng thời, kết quả tra cứu Thư viện số về sở hữu công nghiệp ngày 07/7/2026 cho thấy tình trạng đăng ký thực tế và, quan trọng hơn, tình trạng của chính cơ sở dữ liệu. Số liệu gắn với ngày tra cứu, nhưng cách tra cứu là công khai nên có thể kiểm chứng lại.
Với các phương pháp phân tích và tổng hợp, phân tích quy phạm pháp luật, so sánh luật học, khảo sát dữ liệu đăng ký và mô hình hóa, tác giả triển khai khung phân loại làm công cụ để nhận diện vấn đề. Qua đó, hệ thống hóa 4 nhóm vấn đề pháp lý phát sinh khi vận hành các tiêu chí thẩm định hiện hành; trình bày khung phân loại và kết quả kiểm nghiệm các tiêu chí bằng công cụ số hóa; đối chiếu với thực trạng dữ liệu đăng ký. Trên cơ sở đó, đề xuất bổ sung một khoản vào Điều 76 Thông tư 10/2026/TT-BKHCN, kèm theo dự thảo điều khoản.
2. Bốn nhóm vấn đề pháp lý trong đăng ký bảo hộ nhãn hiệu âm thanh
2.1. Phân định âm thanh mang tính chức năng với âm thanh có khả năng phân biệt
Bản công bố tháng 3/2026 xếp âm của vật dụng và thiết bị vào cùng một diện với âm tự nhiên, đồng thời khuyến nghị không nên bảo hộ khi đứng riêng lẻ. Thực ra, nhóm âm thanh đó chứa hai loại âm có địa vị pháp lý trái ngược nhau và sự khác biệt bắt nguồn từ cách đọc một câu trong Luật Sở hữu trí tuệ.
Khoản 6 Điều 73 Luật Sở hữu trí tuệ quy định không bảo hộ danh nghĩa nhãn hiệu đối với “dấu hiệu là hình dạng vốn có của hàng hóa hoặc do đặc tính kỹ thuật của hàng hóa bắt buộc phải có”. Câu này có thể hiểu theo 2 cách, tùy vào việc liên từ “hoặc” nối hai cái gì với nhau. Nếu nó nối hai loại hình dạng thì cả khoản chỉ điều chỉnh dấu hiệu hình và âm thanh đều nằm ngoài phạm vi. Nếu nó nối hai vị ngữ của chủ ngữ “dấu hiệu” thì vế sau áp dụng cho mọi loại dấu hiệu, kể cả âm thanh. Cấu trúc câu ủng hộ cách hiểu thứ hai, vì vế sau không lặp lại từ “hình dạng”.
Chọn cách hiểu nào sẽ quyết định số phận của đơn. Điều 73 Luật Sở hữu trí tuệ loại trừ tuyệt đối, không khắc phục được bằng ý nghĩa thứ hai; Điều 74 Luật Sở hữu trí tuệ chỉ đánh giá khả năng phân biệt và, trong một số trường hợp, vẫn để ngỏ việc chứng minh dấu hiệu đã được sử dụng và được thừa nhận rộng rãi. Thông tư số 10/2026/TT-BKHCN chưa giúp thẩm định viên chọn: điểm b khoản 2 Điều 75 chỉ dẫn chiếu Điều 73 Luật Sở hữu trí tuệ một cách chung chung, nên nếu khoản 6 được hiểu theo cách thứ nhất thì dẫn chiếu ấy không với tới âm thanh; còn khoản 3 Điều 76 Thông tư số 10/2026/TT-BKHCN, nơi liệt kê riêng sáu trường hợp dấu hiệu âm thanh bị coi là không có khả năng phân biệt, không có trường hợp nào là âm mang tính chức năng. Vì vậy, chưa có quy định nào nói rõ tiếng nổ động cơ hay tiếng bíp của thiết bị báo động bị loại trừ, dù theo cách hiểu thứ hai, vế thứ hai khoản 6 Điều 73 Luật Sở hữu trí tuệ chính là căn cứ loại trừ duy nhất phù hợp với loại âm này. Phép thử để phân tầng là đặt ra câu hỏi: có thể thay âm ấy bằng âm khác mà sản phẩm vẫn vận hành bình thường không? Nếu không thay được thì âm đó mang tính chức năng và bị loại trừ tuyệt đối; nếu thay được thì đó là âm được thiết kế có chủ đích và chỉ được đánh giá về khả năng phân biệt theo Điều 74 Luật Sở hữu trí tuệ.
Sự phân tầng này có hệ quả thực tế. Đơn xin bảo hộ tiếng nổ động cơ V-twin của Harley-Davidson nộp năm 1994 vấp phải sự phản đối của chín nhà sản xuất khác với lý do dấu hiệu thuộc phạm vi chức năng và được rút sau 6 năm (Zhang, 2021, tr. 418). Điều thẩm định viên cần xác định không phải là âm ấy phát ra từ vật dụng hay từ thiên nhiên, mà là âm ấy có phải là hệ quả tất yếu của đặc tính kỹ thuật hay không. Cấu trúc quy phạm tương tự nằm tại Điều 7 (1) (e) Quy chế (EU) 2017/1001, nơi phạm vi loại trừ được mở rộng từ hình dạng sang các hình dạng hoặc đặc tính khác của hàng hóa. Đây là tham chiếu về cấu trúc quy phạm, không phải sự đồng nhất về nội dung, bởi học thuyết chức năng của hai hệ thống được xây dựng trên nền án lệ khác nhau.
2.2. Địa vị pháp lý của phần lời trong dấu hiệu âm thanh
Bản công bố xếp âm của con người vào nhóm có khả năng tạo tính phân biệt cao. Nhận định đó đúng với chất giọng, ngữ điệu và cách phát âm, nhưng chưa đủ cho âm có lời, trong khi phần lớn âm hiệu thương mại đang lưu hành tại Việt Nam đều có lời. Khoản 4 Điều 76 Tông tư số 10/2026/TT-BKHCN quy định, nội dung ngôn ngữ trong nhãn hiệu âm thanh được đánh giá như một dấu hiệu chữ. Quy định này nêu nguyên tắc nhưng chưa chỉ ra các hệ quả pháp lý khác nhau của từng loại nội dung lời nói. Khung phân loại cụ thể hóa nguyên tắc đó thành 3 bậc, mỗi bậc gắn với một điều khoản và một hệ quả riêng về khả năng khắc phục.
(a) Lời mô tả đúng chủng loại, tính chất hoặc công dụng của chính hàng hóa mang nhãn hiệu thì thiếu khả năng phân biệt theo điểm c khoản 2 Điều 74 Luật Sở hữu trí tuệ; nếu lời chỉ là tên gọi thông thường của hàng hóa thì thuộc điểm b cùng khoản. Trường hợp này vẫn có thể khắc phục bằng ý nghĩa thứ hai.
(b) Lời mô tả sai bản chất hàng hóa và làm người tiêu dùng hiểu nhầm về nguồn gốc, tính năng hoặc công dụng thì thuộc khoản 5 Điều 73 Luật Sở hữu trí tuệ. Đây là loại trừ tuyệt đối, không khắc phục được bằng ý nghĩa thứ hai vì Điều 73 Luật Sở hữu trí tuệ loại trừ thẳng chứ không đặt điều kiện như Điều 74 Luật Sở hữu trí tuệ.
(c) Lời không có liên hệ nào với hàng hóa thì vừa không mô tả vừa không gây nhầm lẫn, nên khả năng phân biệt được giữ nguyên. Ranh giới giữa ba bậc nằm ở chỗ người tiêu dùng có tin vào nội dung lời nói hay không.
Sự phân bậc này có hệ quả trực tiếp đối với chứng cứ. Khoản 5 Điều 76 Thông tư số 10/2026/TT-BKHCN chỉ cho phép viện dẫn ngoại lệ về khả năng phân biệt đạt được qua sử dụng đối với một số trường hợp nhất định của khoản 3 Điều này, cụ thể là âm mô tả hàng hóa, dịch vụ và âm chỉ nguồn gốc địa lý, chứ không cho phép đối với âm phổ biến thông dụng, âm quá dài hoặc âm chỉ gồm một đến hai nốt. Người nộp đơn vì vậy cần biết trước dấu hiệu của mình rơi vào trường hợp nào, bởi có trường hợp đầu tư chứng cứ để sử dụng là vô ích.
2.3. Yêu cầu thể hiện kép và chi phí tuân thủ đối với chủ đơn nhỏ
Điểm d khoản 4 Điều 69 Thông tư số 10/2026/TT-BKHCN buộc người nộp đơn nộp đồng thời tệp âm thanh định dạng MP3, dung lượng không quá 5 MB, và bản thể hiện dưới dạng đồ họa là khung nhạc gồm 5 dòng kẻ; trong đó, khung nhạc phải rõ ràng, chính xác, hoàn chỉnh và thống nhất với tệp âm thanh. Điểm a khoản 2 Điều 75 của cùng Thông tư loại khỏi phạm vi bảo hộ dấu hiệu âm thanh không thể hiện được dưới dạng khuông nhạc. Hai quy định này tạo ra một nghĩa vụ mà pháp luật trước đó không đặt ra: người nộp đơn phải có năng lực ký âm hoặc phải mua năng lực đó. Liên minh châu Âu cho phép lựa chọn một trong hai hình thức: tệp âm thanh hoặc bản ký âm (điểm g khoản 3 Điều 3 Quy chế thi hành (EU) 2018/626), nên yêu cầu của Việt Nam là yêu cầu kép, chứ không phải yêu cầu thay thế.
Gánh nặng này không đồng đều, tạo ra sự chênh lệch, doanh nghiệp lớn có thể thuê được nhạc sĩ và tổ chức đại diện sở hữu công nghiệp, còn doanh nghiệp nhỏ và chủ đơn cá nhân thì không thể. Dữ liệu đăng ký hiện có cho thấy loại đơn này đang được nộp bởi chính nhóm chủ thể có ít nguồn lực nhất: nhãn hiệu âm thanh đầu tiên được cấp văn bằng tại Việt Nam thuộc về một cá nhân, và một trong ba đơn còn lại được nộp trực tiếp, không qua tổ chức đại diện (Cục Sở hữu trí tuệ, 2026). Vấn đề pháp lý ở đây không phải là quy phạm chưa đúng, vì yêu cầu thống nhất giữa tệp âm thanh và bản ký âm phục vụ đúng mục tiêu xác định rõ ràng đối tượng được bảo hộ. Vấn đề là quy phạm được ban hành mà không kèm theo hướng dẫn hoặc công cụ giúp chủ đơn nhỏ đáp ứng, khiến một điều kiện về hình thức có nguy cơ trở thành rào cản trong việc tiếp cận thủ tục đăng ký.
2.4. Tiêu chí đánh giá tương tự và điều kiện dữ liệu để áp dụng
Khoản 2 Điều 78 Thông tư số 10/2026/TT-BKHCN quy định riêng cách đánh giá khả năng gây nhầm lẫn đối với dấu hiệu âm thanh: so sánh các yếu tố âm thanh gồm độ dài, cấu trúc, thành phần, giai điệu, tiết tấu, nhịp điệu, cùng các yếu tố ngôn ngữ nếu có; đồng thời phải so sánh hàng hóa, dịch vụ. Về xâm phạm quyền, điểm a khoản 3 Điều 77 Nghị định số 65/2023/NĐ-CP xác định dấu hiệu tương tự đến mức không dễ dàng phân biệt về nhạc điệu, âm điệu đối với dấu hiệu âm thanh.
Hai quy định này đã liệt kê các thuộc tính cần so sánh nên khác với hai nhóm đầu, ở đây quy phạm không thiếu. Cái thiếu là điều kiện áp dụng. Muốn xác định một dấu hiệu âm thanh có tương tự gây nhầm lẫn với dấu hiệu có trước hay không thì phải nghe được hoặc xem được dấu hiệu có trước, trong khi mẫu nhãn hiệu âm thanh hiện không được công khai. Người nộp đơn không tra cứu được trước khi đầu tư, người thứ ba không thực hiện được quyền phản đối đơn một cách thực chất, và bản thân thẩm định viên cũng có thể không có tập dữ liệu để đối chiếu. Một quy phạm đầy đủ về nội dung vẫn có thể không vận hành được nếu hạ tầng dữ liệu không đáp ứng được.
3. Khung phân loại theo nguồn gốc và kết quả kiểm nghiệm
Khung phân loại lấy nguồn gốc phát sinh của âm thanh làm tiêu chí phân nhóm cấp 1. Khung được trình bày lại theo hướng mỗi nhóm gắn với một mức khuyến nghị và một điều khoản làm căn cứ nhằm chuyển từ mô tả định tính sang thứ dùng được trong thẩm định, như trình bày tại Bảng 1.
Bảng 1: Khung bảy nhóm âm thanh, mức khuyến nghị và căn cứ pháp lý chủ yếu
| Nhóm âm thanh | Mức khuyến nghị | Căn cứ pháp lý chủ yếu |
| Nhóm 1. Âm tự nhiên phi sinh học | Không nên chấp nhận nếu đứng riêng | Khoản 1 Điều 74 Luật Sở hữu trí tuệ |
| Nhóm 2. Âm sinh vật sống không phải con người | Không nên chấp nhận nếu đứng riêng | Khoản 1 Điều 74 Luật Sở hữu trí tuệ |
| Nhóm 3. Âm môi trường tổng hợp | Không nên chấp nhận nếu đứng riêng | Khoản 1 Điều 74 Luật Sở hữu trí tuệ; điểm b khoản 3 Điều 76 Thông tư 10/2026/TT-BKHCN |
| Nhóm 4. Âm do con người tạo ra | Có thể chấp nhận, thẩm định riêng phần lời theo ba bậc | Khoản 4 Điều 76 Thông tư số 10/2026/TT-BKHCN; điểm b và c khoản 2 Điều 74 Luật Sở hữu trí tuệ; khoản 5 Điều 73 Luật Sở hữu trí tuệ đối với lời gây nhầm lẫn |
| Nhóm 5. Âm nhân tạo mô phỏng tự nhiên | Không nên chấp nhận nếu đứng riêng | Khoản 1 Điều 74 Luật Sở hữu trí tuệ |
| Nhóm 6. Âm vật dụng, sản phẩm nhân tạo, kể cả nhạc cụ | Phân tầng: loại trừ nếu là âm vận hành do đặc tính kỹ thuật bắt buộc; thẩm định bình thường nếu là âm được thiết kế có chủ đích | Vế 2 khoản 6 Điều 73 Luật Sở hữu trí tuệ; khoản 3 Điều 76 Thông tư số 10/2026/TT-BKHCN |
| Nhóm 7. Âm nhân tạo mô phỏng toàn phần | Nên chấp nhận | Khoản 1 Điều 74 Luật Sở hữu trí tuệ; không thuộc khoản 3 Điều 76 Thông tư số 10/2026/TT-BKHCN |
Nguồn: Tác giả tổng hợp và điều chỉnh từ Nguyễn Phú Thành (2026).
Căn cứ vào mức khuyến nghị đối với các nhóm 1, 2, 3 và 5 tại khoản 1 Điều 74 Luật Sở hữu trí tuệ, theo đó, dấu hiệu có khả năng phân biệt khi được tạo thành từ một hoặc một số yếu tố dễ nhận biết, dễ ghi nhớ, hoặc từ nhiều yếu tố kết hợp thành một tổng thể dễ nhận biết, dễ ghi nhớ. Khi đứng riêng, âm thuộc các nhóm này không đáp ứng vế thứ nhất, vì người nghe nhận ra âm thanh của tự nhiên chứ không nhận ra và ghi nhớ được một dấu hiệu riêng; nhưng vẫn có thể đáp ứng vế thứ hai khi được kết hợp với các yếu tố khác thành một tổng thể. Riêng trường hợp âm mô tả hàng hóa, dịch vụ hoặc chỉ nguồn gốc địa lý thì áp dụng điểm d, điểm đ khoản 3 Điều 76 Thông tư số 10/2026/TT-BKHCN và có thể viện dẫn ngoại lệ về khả năng phân biệt đạt được qua sử dụng theo khoản 5 Điều 76.
Để kiểm tra xem bốn nhóm vấn đề nêu tại mục 2 có thể chuyển thành thao tác kiểm tra được hay không, tác giả đã xây dựng khung phân loại thành một công cụ số hóa thí điểm. Công cụ làm 3 việc: đối chiếu nhóm nguồn gốc do người nộp đơn tự khai với bộ tiêu chí rút từ Điều 73, Điều 74 Luật Sở hữu trí tuệ và khoản 3 Điều 76 Thông tư số 10/2026/TT-BKHCN; lập bản ký âm trên khung nhạc gồm 5 dòng kẻ theo điểm d khoản 4 Điều 69; và đối chiếu với kho mẫu đã lưu theo các thuộc tính tại khoản 2 Điều 78. Người nộp đơn tự khai nhóm trước, máy đối chiếu sau.
Kết quả kiểm nghiệm cho phép rút ra 3 kết luận có ý nghĩa pháp lý. Một là, các tiêu chí tại Điều 73, Điều 74 Luật Sở hữu trí tuệ và Điều 76 Thông tư số 10/2026/TT-BKHCN có thể chuyển thành chuỗi câu hỏi có đáp án xác định; nghĩa là chỗ thiếu nằm ở việc chưa có hướng dẫn tự đánh giá, chứ không ở nội dung quy phạm. Hai là, ký âm một đoạn âm hiệu ngắn không đòi hỏi năng lực chuyên môn đặc biệt nếu có công cụ hỗ trợ, nên rào cản nêu ở mục 2.3 có thể khắc phục bằng biện pháp hành chính. Ba là, các thuộc tính tại khoản 2 Điều 78 Thông tư số 10/2026/TT-BKHCN đều được áp dụng, kể cả trường hợp cùng giai điệu nhưng dịch giọng. Giới hạn cần nói rõ: đây là bản thí điểm chưa qua kiểm định độc lập; các phép đo được thực hiện trên tín hiệu do tác giả dựng và ghi âm lại từ các nền tảng, chứ không trên mẫu nhãn hiệu thật, vì cơ sở dữ liệu công khai chưa cho phép tiếp cận mẫu, như mục 4 trình bày dưới đây. Công cụ ở đây là phương tiện để kiểm chứng tính khả thi của tiêu chí thẩm định, không phải là hệ thống sẵn sàng vận hành.
4. Thực trạng dữ liệu đăng ký nhãn hiệu âm thanh
Ngày 07/7/2026, tác giả tra cứu Thư viện số về sở hữu công nghiệp của Cục Sở hữu trí tuệ. Bộ lọc theo trường đặc điểm nhãn hiệu cho thấy 2 điểm đáng chú ý: gần như toàn bộ bản ghi đã công bố đều có giá trị mặc định là kết hợp và chỉ có 4 bản ghi có giá trị âm thanh (Cục Sở hữu trí tuệ, 2026). Từ kết quả này, rút ra 3 nhận xét có ý nghĩa quản trị.
Một là, dữ liệu đã được thu thập nhưng không được sử dụng. Điểm a khoản 3 Điều 69 Thông tư số 10/2026/TT-BKHCN buộc người nộp đơn đánh dấu vào ô tương ứng tại mục Nhãn hiệu phi truyền thống nếu đăng ký nhãn hiệu âm thanh, nên thông tin về đặc điểm nhãn hiệu đã có ngay từ tờ khai. Việc gần như toàn bộ bản ghi đã được công bố và mang giá trị mặc định cho thấy dữ liệu khai báo không được chuyển vào trường tra cứu công khai. Con số 4 đơn vì vậy là số đơn được gắn cờ, không phải số đơn âm thanh đã nộp. Hệ quả có hai mặt: cơ quan quản lý không có số liệu đáng tin cậy để hoạch định chính sách, còn doanh nghiệp không có cách nào để tra cứu nhằm tránh trùng lặp trước khi nộp đơn.
Hai là, bốn đơn được gắn cờ vẽ ra một bức tranh đáng lưu ý. Đơn mang tên TAVIMAX, số VN-4-2025-17219 đã được cấp văn bằng số 4-0619167-000 ngày 16/6/2026. Theo dữ liệu công khai, đây là nhãn hiệu âm thanh đầu tiên được cấp văn bằng tại Việt Nam, với chủ đơn là một cá nhân cư trú tại phường Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh. Ba đơn còn lại thuộc Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam, Hisamitsu Pharmaceutical và Marriott International đều đang được xử lý. Riêng đơn của ngân hàng được nộp trực tiếp, không qua tổ chức đại diện, cho thấy nhu cầu về tài liệu hướng dẫn để dễ tiếp cận.
Ba là, cả bốn đơn đều không công khai mẫu nhãn hiệu; người tra cứu không nghe được tệp âm thanh và không xem được khung nhạc. Trong khi đó, hệ thống tra cứu của Cơ quan Sở hữu trí tuệ Liên minh châu Âu cho phép nghe trực tiếp tệp âm thanh của nhãn hiệu đã được đăng ký. Khoảng cách này khiến yêu cầu tra cứu trước khi nộp đơn khó thực hiện trên thực tế và việc công bố để các bên phản đối chưa có ý nghĩa.
Ba nhận xét trên có tính thời sự. Khoản 2 Điều 139 Thông tư số 10/2026/TT-BKHCN quy định tại Điều 76 và Điều 78 được áp dụng đối với đơn đăng ký nhãn hiệu âm thanh chưa có thông báo kết quả thẩm định nội dung. Ba trong bốn đơn nêu trên đang ở đúng tình trạng đó, nghĩa là khoản mà bài viết đề nghị bổ sung vào Điều 76 sẽ được áp dụng ngay cho các hồ sơ đang chờ xử lý. Riêng ba nhận xét về tình trạng dữ liệu thì không dẫn tới đề xuất sửa quy phạm, vì nguyên nhân nằm ở khâu tổ chức thực hiện cơ sở dữ liệu chứ không ở câu chữ của Thông tư; chúng được nêu ở đây với tư cách là bằng chứng về khoảng cách giữa quy định và vận hành.
5. Kiến nghị bổ sung căn cứ từ chối đối với âm thanh mang tính chức năng
Trong bốn nhóm vấn đề đã nêu, chỉ nhóm thứ nhất là chỗ căn cứ pháp lý có tồn tại nhưng chưa rõ có áp dụng cho âm thanh hay không và sự không rõ ràng đó chỉ một quy phạm mới giải quyết được. Ở nhóm thứ hai, hệ quả của từng bậc lời đã được suy ra từ các điều khoản sẵn có, vì khoản 4 Điều 76 Thông tư số 10/2026/TT-BKHCN đã dẫn phần lời về cách đánh giá dấu hiệu chữ; còn ký âm và đối chiếu tương tự thì vướng ở hướng dẫn nghiệp vụ và ở hạ tầng dữ liệu, chứ không ở câu chữ của văn bản. Ba nhóm đó cần một nghiên cứu riêng về các điều kiện triển khai. Vì vậy, bài viết chỉ đề xuất một kiến nghị và đó là kiến nghị có căn cứ pháp lý đã có sẵn trong Luật Sở hữu trí tuệ, nên không đề xuất sửa đổi Luật.
Mục 2.1 đã cho thấy vế thứ hai khoản 6 Điều 73 Luật Sở hữu trí tuệ là căn cứ loại trừ phù hợp với âm thanh mang tính chức năng, nhưng Thông tư số 10/2026/TT-BKHCN chỉ dẫn chiếu Điều 73 Luật Sở hữu trí tuệ một cách chung chung tại điểm b khoản 2 Điều 75, còn khoản 3 Điều 76, nơi thẩm định viên đối chiếu từng trường hợp của dấu hiệu âm thanh, không nhắc tới loại âm này. Chỗ cần bổ sung là chính Điều 76 Thông tư 10/2026/TT-BKHCN, nhằm khẳng định vế thứ hai của khoản 6 Điều 73 Luật Sở hữu trí tuệ áp dụng cho âm thanh ngay tại điều khoản dành riêng cho dấu hiệu âm thanh. Khoản bổ sung phải nêu rõ hiệu lực của căn cứ được dẫn chiếu: khoản 5 Điều 76 cho phép viện dẫn ngoại lệ về sử dụng rộng rãi đối với 2 trong 6 trường hợp tại khoản 3, trong khi Điều 73 Luật Sở hữu trí tuệ loại trừ tuyệt đối, không khắc phục được bằng chứng cứ về việc sử dụng. Nếu không loại trừ ngoại lệ ngay trong khoản mới thì quy định bổ sung sẽ mâu thuẫn với hiệu lực của chính điều luật mà nó dẫn chiếu. Nội dung cần bổ sung vào Điều 76 Thông tư 10/2026/TT-BKHCN như sau:
“7. Dấu hiệu âm thanh mà hàng hóa, do đặc tính kỹ thuật, bắt buộc phải phát ra trong quá trình vận hành thì bị từ chối theo khoản 6 Điều 73 của Luật Sở hữu trí tuệ và không được áp dụng ngoại lệ quy định tại khoản 5 Điều này.“
Phép thử đi kèm đã nêu tại mục 2.1: hỏi xem có thể thay âm ấy bằng âm khác mà sản phẩm vẫn vận hành bình thường hay không; nếu không thay được thì âm đó mang tính chức năng và thuộc phạm vi khoản mới. Khoản 2 Điều 139 Thông tư 10/2026/TT-BKHCN quy định Điều 76 được áp dụng cho đơn đăng ký nhãn hiệu âm thanh chưa có thông báo kết quả thẩm định nội dung, nên nếu được bổ sung, quy định này có hiệu lực ngay đối với những hồ sơ đang chờ xử lý, chứ không chỉ đối với đơn nộp về sau.
6. Kết luận
Đối chiếu khung phân loại theo nguồn gốc với Thông tư 10/2026/TT-BKHCN và với dữ liệu đăng ký thực tế cho thấy bốn nhóm vấn đề pháp lý: âm thanh mang tính chức năng chưa được xác định rõ có thuộc căn cứ loại trừ hay không, phần lời chưa được phân bậc, yêu cầu thể hiện kép đặt gánh nặng không đều lên chủ đơn nhỏ, và tiêu chí đánh giá tương tự tuy đầy đủ về nội dung nhưng thiếu dữ liệu để vận hành.
Điểm chung của bốn vấn đề là không có vấn đề nào đòi hỏi phải sửa đổi Luật Sở hữu trí tuệ. Kết quả kiểm nghiệm bằng công cụ số hóa cho thấy các tiêu chí tại Điều 73, Điều 74 Luật Sở hữu trí tuệ và Điều 76, Điều 78 Thông tư số 10/2026/TT-BKHCN đều có thể chuyển thành các thao tác kiểm tra. Trong bốn vấn đề đó, chỉ vấn đề thứ nhất là chỗ căn cứ loại trừ có sẵn nhưng chưa rõ có áp dụng cho âm thanh hay không và bài viết đề xuất bổ sung một khoản vào Điều 76 Thông tư số 10/2026/TT-BKHCN để khép lại, trên căn cứ đã có tại khoản 6 Điều 73 Luật Sở hữu trí tuệ. Ba vấn đề còn lại đều đã có căn cứ trong văn bản; chỗ vướng nằm ở cách áp dụng, hướng dẫn nghiệp vụ và hạ tầng dữ liệu nên cần một nghiên cứu riêng về các điều kiện triển khai. Việc nhãn hiệu âm thanh đầu tiên được cấp văn bằng tại Việt Nam thuộc về một cá nhân cho thấy chế định này không dành riêng cho các tập đoàn lớn, đồng thời cho thấy khoảng trống trong hướng dẫn hiện nay đang được lấp đầy nhờ sự chủ động của từng chủ thể.
Tài liệu tham khảo:
Bộ Khoa học và Công nghệ (2026). Thông tư số 10/2026/TT-BKHCN ngày 31/3/2026 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Sở hữu trí tuệ.
Chính phủ (2023). Nghị định số 65/2023/NĐ-CP ngày 23/8/2023 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp, bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng và quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ.
Cục Sở hữu trí tuệ (07/7/2026). Thư viện số về sở hữu công nghiệp. wipopublish.ipvietnam.gov.vn
Nguyễn Ngọc Anh Đào (2024). Bảo hộ nhãn hiệu âm thanh theo quy định của pháp luật Hoa Kỳ và hoàn thiện pháp luật sở hữu trí tuệ tại Việt Nam. Tạp chí Công Thương, (3), 32–37.
Nguyễn Xuân Quang & Lê Nhật Hồng (2025). Thực tiễn quy định về bảo hộ nhãn hiệu phi truyền thống tại Việt Nam và một số kiến nghị. Tạp chí Khoa học Pháp lý Việt Nam, 4(188), 1–17. https://doi.org/10.70236/tckhplvn.247
Quốc hội (2005, 2009, 2019, 2022, 2025). Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi, bổ sung năm 2009, 2019, 2022, 2025.
Nguyễn Phú Thành (2026). Đề xuất phân loại âm thanh làm cơ sở để thẩm định và quản lý. Tạp chí Quản lý nhà nước. https://www.quanlynhanuoc.vn/2026/03/31/de-xuat-phan-loai-am-thanh-lam-so-so-tham-dinh-va-quan-ly/
Phùng Thị Yến, Vũ Minh Hiếu, Phạm Hải Quyên & Nguyễn Kiều Như (2024). Bảo hộ nhãn hiệu âm thanh tại Việt Nam: Thực trạng và giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật. Tạp chí Khoa học Pháp lý Việt Nam, 8(180), 61–72. https://doi.org/10.70236/tckhplvn.34
European Commission (2018). Commission Implementing Regulation (EU) 2018/626 of 5 March 2018 laying down detailed rules for implementing certain provisions of Regulation (EU) 2017/1001 of the European Parliament and of the Council on the European Union trade mark, and repealing Implementing Regulation (EU) 2017/1431. Official Journal of the European Union, L 104, 37–56.
European Parliament & Council of the European Union (2017). Regulation (EU) 2017/1001 of the European Parliament and of the Council of 14 June 2017 on the European Union trade mark (codification). Official Journal of the European Union, L 154, 1–99.
Zhang, X. (2021). From audio branding to sound trademark: A comparative study in the EU and the US. Beijing Law Review, 12(2), 409–424. https://doi.org/10.4236/blr.2021.122023



