Fostering self-capacity in developing the democratic practice consciousness of sub-unit–level officer cadets at Army Officers College No. 1 today
Thiếu tá Nguyễn Chí Công
Hệ 5, Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng
Email: nguyenchicong.sqlq@gmail.com
(Quanlynhanuoc.vn) – Ý thức thực hành dân chủ của học viên đào tạo sĩ quan cấp phân đội ở Trường Sĩ quan Lục quân 1 được hình thành và phát triển dưới tác động thống nhất của các điều kiện, chất lượng giáo dục, quản lý, môi trường tổ chức và các nhân tố chủ quan của học viên. Trong đó, năng lực tự thân giữ vai trò trực tiếp trong việc chuyển hóa các yêu cầu, chuẩn mực dân chủ thành nhận thức, động lực, trách nhiệm và hành vi tự giác của chủ thể. Thực tiễn cho thấy, năng lực này đã được phát huy nhưng chưa đồng đều, còn biểu hiện thụ động, e dè, thiếu chủ động trong một số tình huống thực hành dân chủ. Do đó, phát huy năng lực tự thân là một khâu quan trọng nhằm thu hẹp khoảng cách giữa nhận thức và hành động, làm cho quyền làm chủ được thực hiện thống nhất với trách nhiệm, nguyên tắc tổ chức và kỷ luật của quân đội.
Từ khóa: Năng lực tự thân; ý thức thực hành dân chủ; học viên đào tạo sĩ quan cấp phân đội; Trường Sĩ quan Lục quân 1.
Abstract: The democratic practice consciousness of sub-unit-level officer cadets at Army Officers College No. 1 is formed and developed through the combined influence of educational conditions and quality, management, the organizational environment, and the cadets’ own subjective factors. Among these, self-capacity directly shapes how cadets translate democratic requirements and standards into their own awareness, motivation, sense of responsibility, and voluntary actions. Practical experience shows that while this capacity has been fostered, its development remains uneven; instances of passivity, hesitation, and a lack of initiative still occur in certain democratic practice situations. Therefore, fostering self-capacity is a crucial step in bridging the gap between awareness and action, ensuring that exercising the right to mastery aligns with responsibilities, organizational principles, and military discipline.
Keywords: Self-capacity; democratic practice consciousness; sub-unit level officer cadets; Army Officers College No. 1.
1. Đặt vấn đề
Phát triển ý thức thực hành dân chủ cho học viên đào tạo sĩ quan cấp phân đội tại Trường Sĩ quan Lục quân 1 là yêu cầu quan trọng trong quá trình đào tạo đội ngũ cán bộ quân đội. Chủ nghĩa Mác – Lênin khẳng định vai trò chủ thể của quần chúng trong thực hiện quyền làm chủ; theo V.I.Lênin: “Cần phải xây dựng ngay chế độ dân chủ, bắt đầu từ cơ sở, dựa vào sáng kiến của bản thân quần chúng, với sự tham gia thực sự của quần chúng vào tất cả đời sống của nhà nước” và “Quần chúng càng chủ động, càng có nhiều ý kiến, càng mạnh dạn và càng có tinh thần sáng tạo khi tiến hành công việc đó thì lại càng tốt”.
Kế thừa và phát triển quan điểm đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định bản chất “dân chủ là “dân là chủ”, “dân làm chủ”; Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ”; đồng thời chỉ rõ: “Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công việc đổi mới, xây dựng trách nhiệm là của Nhân dân”. Đảng nhất quán quan điểm “dân là gốc”, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Những quan điểm đó cho thấy dân chủ chỉ thực sự được phát huy khi chủ thể không chỉ được bảo đảm về điều kiện, cơ chế thực hiện quyền làm chủ mà còn có nhận thức đúng đắn, trách nhiệm và khả năng chủ động thực hiện quyền của mình.
Trong Quân đội nhân dân Việt Nam, thực hành dân chủ được thực hiện trong sự thống nhất với nguyên tắc tập trung dân chủ, tổ chức, kỷ luật và trách nhiệm của quân nhân, gắn với Quy chế dân chủ ở cơ sở. Đối với học viên đào tạo sĩ quan cấp phân đội, thực hành dân chủ không chỉ thể hiện trong học tập, rèn luyện, sinh hoạt và tham gia xây dựng đơn vị mà còn trực tiếp góp phần hình thành phẩm chất, năng lực và phương pháp tác phong công tác của người cán bộ chỉ huy tương lai. Bởi vậy, cùng với việc phát huy vai trò của giáo dục, quản lý và xây dựng môi trường dân chủ, vấn đề có ý nghĩa trực tiếp là phát huy năng lực tự thân của học viên, làm cho những tác động bên ngoài được chuyển hóa thành nhận thức, động lực, trách nhiệm và hành vi tự giác của chính chủ thể. Đây là cơ sở để phát triển ý thức thực hành dân chủ của học viên đào tạo sĩ quan cấp phân đội một cách thực chất, gắn quyền làm chủ với trách nhiệm, nguyên tắc tổ chức và kỷ luật quân đội theo đúng tinh thần Đại hội XIV của Đảng, hướng tới phát triển con người toàn diện, đáp ứng yêu cầu phát triển trong kỷ nguyên mới.
2. Vai trò của năng lực tự thân trong phát triển ý thức thực hành dân chủ của học viên đào tạo sĩ quan cấp phân đội ở Trường Sĩ quan Lục quân 1
Ý thức thực hành dân chủ của học viên đào tạo sĩ quan cấp phân đội ở Trường Sĩ quan Lục quân 1 không chỉ dừng lại ở sự nhận biết các quyền, nghĩa vụ và nguyên tắc thực hiện dân chủ mà là sự thống nhất biện chứng giữa tri thức, thái độ và ý chí quyết tâm của học viên đối với việc thực hiện quyền làm chủ, nghĩa vụ và trách nhiệm dân chủ trong quá trình học tập, huấn luyện, rèn luyện và sinh hoạt ở Nhà trường; phản ánh sự hiểu biết, sự tự giác và quyết tâm của học viên trong quá trình tham gia, thực hiện các nội dung dân chủ bằng những hoạt động, hành vi cụ thể theo mục tiêu đào tạo, chuẩn đầu ra và yêu cầu, chức trách, nhiệm vụ của người sĩ quan chỉ huy, tham mưu Lục quân cấp phân đội trong Quân đội nhân dân Việt Nam. Do đó, phát triển ý thức thực hành dân chủ thực chất là quá trình chuyển hóa những tri thức và yêu cầu về dân chủ thành nhu cầu, động cơ, thái độ và hành vi tự giác của học viên. Quá trình ấy không diễn ra một cách tự động dưới tác động của giáo dục, mà đòi hỏi sự tham gia tích cực của chính chủ thể, từng bước hình thành “trật tự tự thân”, tạo sự gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa việc phát huy dân chủ và việc tăng cường kỷ luật, kỷ cương, trách nhiệm và trật tự xã hội.
Từ góc độ đó, năng lực tự thân có thể khái quát là khả năng bên trong của chủ thể trong việc tự nhận thức, tự xác định mục tiêu, tự tổ chức hoạt động, tự kiểm tra, tự đánh giá và tự điều chỉnh hành vi nhằm phát triển bản thân và đáp ứng yêu cầu của hoạt động thực tiễn. Biểu hiện ở học viên đào tạo sĩ quan cấp phân đội là khả năng tự học, tự rèn luyện, làm chủ bản thân, tư duy độc lập, tự chịu trách nhiệm và chủ động tham gia các hoạt động của tập thể mà không cần đến sự áp đặt, quản thúc của cán bộ, giảng viên. Năng lực tự thân có quan hệ mật thiết với nhân tố chủ quan nhưng không đồng nhất với nhân tố đó. Nếu nhân tố chủ quan bao quát toàn bộ những yếu tố thuộc về chủ thể như nhu cầu, lợi ích, tình cảm, ý chí, động cơ, niềm tin và năng lực, thì năng lực tự thân nhấn mạnh khả năng của chủ thể tự tác động, tự biến đổi và tự phát triển. Vì vậy, năng lực tự thân là một phương diện quan trọng của nhân tố chủ quan, giữ vai trò huy động và tổ chức các yếu tố bên trong thành nguồn lực thúc đẩy hoạt động của chủ thể, tạo ra môi trường giáo dục văn minh, hài hòa, thân thiện, hiện đại; hiện thực hóa Nghị quyết số 18-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng “về xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển”.
Thứ nhất, trong phát triển ý thức thực hành dân chủ, vai trò của năng lực tự thân thể hiện ở khả năng chuyển hóa tri thức thành nhận thức và niềm tin của chính chủ thể. Những nội dung về dân chủ được truyền đạt từ bên ngoài chỉ trở thành ý thức của học viên khi được tiếp nhận một cách chủ động, suy ngẫm, liên hệ và kiểm nghiệm trong hoạt động thực tiễn. Chính quá trình tự nhận thức, tự đánh giá giúp học viên không chỉ biết dân chủ là gì mà còn hiểu vì sao phải thực hành dân chủ, thực hành như thế nào và trách nhiệm của bản thân đối với tập thể ra sao. Như vậy, năng lực tự thân khiến tri thức về dân chủ vượt khỏi trạng thái tri thức được truyền đạt để trở thành nhận thức có ý nghĩa định hướng hành vi.
Thứ hai, năng lực tự thân là khâu trung gian trực tiếp thúc đẩy sự chuyển hóa từ nhận thức, thái độ thành hành vi thực hành dân chủ. Giữa “biết” và “làm” luôn có một khoảng cách nhất định; để biến điều đã nhận thức thành hành động, chủ thể phải có ý chí, bản lĩnh và khả năng tự điều chỉnh. Biểu hiện cụ thể là khả năng chủ động phát biểu, trình bày và bảo vệ chính kiến; biết lắng nghe, tiếp thu ý kiến khác biệt; nghiêm túc tự phê bình và tiếp nhận phê bình; đồng thời chủ động khắc phục những hạn chế trong hành vi của mình. Nhờ đó, năng lực tự thân không chỉ tạo ra tính tích cực trong nhận thức mà còn thúc đẩy tính tự giác trong hành động, làm cho thực hành dân chủ trở thành hoạt động có mục đích và có trách nhiệm của chủ thể là học viên.
Thứ ba, năng lực tự thân giúp điều chỉnh hành vi dân chủ theo đúng các nguyên tắc, kỷ luật và lợi ích chung. Phát huy năng lực tự thân không đồng nghĩa với việc tuyệt đối hóa ý chí cá nhân hay đề cao tự do tùy tiện mà là nâng cao khả năng làm chủ bản thân, biết thực hiện quyền làm chủ, đồng thời chấp hành tổ chức, kỷ luật, tôn trọng tập thể và phục tùng sự lãnh đạo, chỉ huy. Chính khả năng tự điều chỉnh này bảo đảm cho tính tích cực của cá nhân được định hướng đúng, để dân chủ và kỷ luật không đối lập mà thống nhất trong hoạt động của quân nhân.
Giữa tác động giáo dục từ bên ngoài và năng lực tự thân của học viên tồn tại quan hệ thống nhất biện chứng, trong đó tác động bên ngoài tạo ra điều kiện, định hướng và yêu cầu; năng lực tự thân quyết định khả năng tiếp nhận, chuyển hóa và hiện thực hóa những tác động đó thành hành vi của chủ thể. Vì vậy, phát triển ý thức thực hành dân chủ không thể chỉ dựa vào việc tăng cường giáo dục, quản lý hay hoàn thiện môi trường dân chủ, mà phải đồng thời phát huy năng lực tự thân của học viên. Đây chính là khâu quan trọng thúc đẩy sự chuyển biến từ nhận thức về dân chủ đến hành vi thực hành dân chủ tự giác, có trách nhiệm, phù hợp với đặc trưng về tổ chức và kỷ luật của quân đội.
3. Một số giải pháp
Thời gian qua, việc phát huy năng lực tự thân của học viên được Đảng ủy, Ban Giám hiệu Nhà trường, các cơ quan, khoa, đơn vị quản lý học viên quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thông qua việc tổ chức học tập, rèn luyện, sinh hoạt tập thể, thảo luận, hoạt động đoàn thể và tham gia xây dựng đơn vị. Qua đó, năng lực tự thân của học viên từng bước được phát huy; đa số học viên có ý thức trách nhiệm, chủ động trong học tập, rèn luyện và sinh hoạt tập thể, tích cực trao đổi, đóng góp ý kiến, biết lắng nghe, tiếp thu và điều chỉnh hành vi. Trong thực hành dân chủ, nhiều học viên đã có ý thức thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, tôn trọng tổ chức, chấp hành kỷ luật, đồng thời chủ động tham gia các hoạt động chung của tập thể. Những chuyển biến đó cho thấy tác động của giáo dục, quản lý và môi trường tổ chức đã từng bước được chuyển hóa thành tính tích cực và tính tự giác của học viên.
Tuy nhiên, năng lực tự thân của một bộ phận học viên vẫn còn những hạn chế nhất định. Tính chủ động trong học tập, rèn luyện và tham gia hoạt động tập thể có lúc chưa cao; còn biểu hiện trông chờ, phụ thuộc vào sự hướng dẫn và quản lý của cán bộ, giảng viên. Trong thực hành dân chủ, một số học viên còn e dè, nể nang, ngại va chạm, chưa mạnh dạn bày tỏ và bảo vệ chính kiến; việc tiếp nhận ý kiến khác nhau, tự đánh giá và điều chỉnh hành vi chưa thật sự chủ động. Cá biệt còn có biểu hiện nhận thức được quyền, trách nhiệm của mình nhưng chưa chuyển hóa đầy đủ thành hành động tự giác trong những quan hệ dân chủ cụ thể. Những hạn chế đó cho thấy năng lực tự thân của học viên chưa phát triển đồng đều và chưa phát huy đầy đủ vai trò là khâu trực tiếp chuyển hóa các tác động giáo dục, quản lý và môi trường thành ý thức, trách nhiệm và hành vi thực hành dân chủ. Vấn đề đặt ra không chỉ là tiếp tục tăng cường các tác động từ bên ngoài mà quan trọng hơn là phải tạo điều kiện và cơ chế để học viên thực sự phát huy vai trò chủ thể, tự xác lập trách nhiệm, chủ động tham gia và tự điều chỉnh hành vi trong thực tiễn.
Một là, nâng cao nhận thức, hình thành động lực tự giác trong thực hành dân chủ cho học viên.
Nhận thức đúng, hình thành động lực tự giác trong thực hành dân chủ sẽ tạo cơ sở bên trong để phát huy năng lực tự thân của học viên, bởi chỉ khi nhận thức đúng thì học viên mới có cơ sở hình thành thái độ, niềm tin và động lực đúng đắn đối với thực hành dân chủ. Do đó, cần làm cho học viên nhận thức đầy đủ, sâu sắc bản chất, nội dung, ý nghĩa và yêu cầu của thực hành dân chủ trong Quân đội nhân dân Việt Nam; thấy rõ mối quan hệ thống nhất giữa dân chủ với tập trung dân chủ, giữa quyền làm chủ với trách nhiệm, giữa phát huy tính tích cực của cá nhân với tôn trọng tổ chức, kỷ luật và lợi ích chung. Quan trọng hơn, nhận thức đó phải được chuyển từ tri thức mang tính khách quan thành quan niệm, niềm tin và nhu cầu tự thân của chính mỗi học viên.
Thực hành dân chủ cần được học viên nhận thức không chỉ là việc thực hiện những quyền được quy định mà còn là trách nhiệm đối với tập thể, đơn vị và nhiệm vụ. Khả năng lắng nghe, trao đổi, trình bày và bảo vệ chính kiến; tiếp thu phê bình, tự phê bình; tôn trọng sự thống nhất và lợi ích chung đều là những phẩm chất, năng lực cần thiết của người sĩ quan cấp phân đội. Nhận thức được điều đó sẽ giúp học viên thấy rõ ý nghĩa của thực hành dân chủ đối với quá trình hình thành bản lĩnh, phương pháp công tác và năng lực lãnh đạo, quản lý, giáo dục, chỉ huy bộ đội sau này. Khi thực hành dân chủ gắn với nhu cầu hoàn thiện bản thân và yêu cầu nghề nghiệp, động lực thực hiện sẽ từng bước chuyển từ sự thúc đẩy của tổ chức sang sự tự giác của chủ thể.
Vì vậy, phương thức giáo dục về dân chủ cần chuyển từ chủ yếu truyền đạt các quy định, nguyên tắc sang phát huy tính tích cực trong nhận thức của học viên. Những nội dung về dân chủ cần được đặt trong các vấn đề, tình huống nảy sinh từ học tập, rèn luyện và sinh hoạt tập thể để học viên suy nghĩ, trao đổi, liên hệ và tự xác định cách ứng xử. Cán bộ, giảng viên giữ vai trò định hướng, nhưng cần coi trọng quá trình để học viên tự chiếm lĩnh tri thức, tự hình thành quan điểm và tự xác định trách nhiệm của mình. Qua đó, nhận thức về dân chủ không dừng ở “biết” mà phải thực sự trở thành động lực tinh thần thúc đẩy học viên tự giác thực hành dân chủ.
Hai là, phát huy khả năng tự tổ chức hoạt động, tinh thần trách nhiệm và tính chủ động của học viên trong thực tiễn thực hành dân chủ.
Đây là giải pháp trực tiếp nhằm phát huy vai trò của học viên như một chủ thể trong thực hành dân chủ. Năng lực tự thân được biểu hiện ở khả năng chủ thể tự tổ chức, điều khiển và chịu trách nhiệm về các hoạt động của mình. Đối với học viên đào tạo sĩ quan cấp phân đội, khả năng đó không chỉ thể hiện ở sự chủ động tham gia mà còn ở năng lực xác lập mục tiêu, tổ chức thực hiện, kiểm soát quá trình và tự điều chỉnh hoạt động phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Khi học viên có khả năng tự tổ chức hoạt động, việc thực hiện các yêu cầu của tổ chức từng bước chuyển thành quá trình chủ thể tự làm chủ công việc trong phạm vi trách nhiệm của mình.
Trong thực hành dân chủ, tính chủ động chỉ có ý nghĩa khi gắn với trách nhiệm đối với quyền, nghĩa vụ và các lựa chọn của bản thân. Học viên phải thực sự tham gia vào các quan hệ dân chủ với tư cách là chủ thể, biết bày tỏ và bảo vệ chính kiến, lắng nghe và tiếp thu ý kiến của người khác, đồng thời chịu trách nhiệm về cách thức và kết quả của hành động của mình. Sự thống nhất giữa khả năng tự tổ chức, tính chủ động và tinh thần trách nhiệm làm cho năng lực tự thân được biểu hiện trong chính hoạt động thực tiễn, qua đó thu hẹp khoảng cách giữa nhận thức về dân chủ và khả năng hiện thực hóa nhận thức ấy trong đời sống tập thể.
Trong quá trình đó, thực tiễn học tập, rèn luyện và sinh hoạt tập thể là nơi để năng lực tự thân được kiểm nghiệm và phát triển. Những yêu cầu đặt ra trong thực hành dân chủ trở thành cơ sở để học viên tự xác định cách thức hành động, tự đánh giá kết quả và điều chỉnh những hạn chế của bản thân. Nhờ vậy, tính kế hoạch, khả năng tự quản lý và tinh thần trách nhiệm không còn tồn tại như những yêu cầu bên ngoài mà dần trở thành thuộc tính của hoạt động tự giác; những nhận thức và động lực đã hình thành được chuyển hóa thành năng lực hành động chủ động, có trách nhiệm trong thực hành dân chủ của mỗi học viên.
Ba là, đẩy mạnh xây dựng môi trường thực hành dân chủ, văn minh, tạo điều kiện thuận lợi để học viên phát huy năng lực tự thân trong việc thực hành dân chủ.
Năng lực tự thân thuộc về mỗi học viên nhưng không hình thành và phát triển biệt lập với môi trường xã hội, giáo dục và tổ chức. Môi trường thực hành dân chủ là nơi những nhận thức, động lực, trách nhiệm và tính chủ động của học viên được bộc lộ, kiểm nghiệm, củng cố và phát triển. Vì vậy, xây dựng môi trường thực hành dân chủ, văn minh là điều kiện quan trọng để phát huy năng lực tự thân, đồng thời bảo đảm sự phát triển của ý thức thực hành dân chủ diễn ra thường xuyên, thực chất, đúng định hướng và đúng nguyên tắc. Do đó, cần xây dựng môi trường trong đó quyền làm chủ của học viên được tôn trọng và phát huy gắn với trách nhiệm, nguyên tắc tổ chức và kỷ luật quân đội. Các hình thức tham gia đóng góp ý kiến, trao đổi, đối thoại, xây dựng tập thể cần được thực hiện một cách thực chất để học viên có cơ hội bày tỏ chính kiến, tham gia giải quyết những vấn đề thuộc phạm vi trách nhiệm và trực tiếp trải nghiệm việc thực hiện quyền làm chủ. Đồng thời, phải bảo đảm dân chủ không tách rời kỷ luật, không biến thành tự do, tùy tiện, vô nguyên tắc; mọi ý kiến và hành vi đều phải được đặt trong khuôn khổ pháp luật, điều lệnh, điều lệ, nguyên tắc tổ chức và lợi ích chung.
Đồng thời, đổi mới phương thức quản lý, giáo dục của cán bộ, giảng viên đối với học viên theo tinh thần Nghị quyết số 24-NQ/TW của Bộ Chính trị: “Chuyển từ tư duy quản lý hành chính, phục tùng “máy móc” sang tư duy kiến tạo, hành động, chủ động giải quyết công việc, lấy sản phẩm, kết quả và hiệu quả thực tế làm thước đo chủ yếu”. Quản lý, giáo dục phải hướng vào việc phát huy vai trò chủ thể của người học theo tinh thần “7 dám”, hạn chế cách thức áp đặt, bao biện, làm thay hoặc quyết định thay những vấn đề thuộc phạm vi trách nhiệm của người học. Cán bộ, giảng viên cần chuyển mạnh từ yêu cầu, kiểm soát đơn thuần sang định hướng, gợi mở, lắng nghe, phản hồi và tạo cơ hội để học viên tự suy nghĩ, tự lựa chọn và tự chịu trách nhiệm. Cùng với đó, bản thân cán bộ, giảng viên phải mẫu mực, nêu gương về tinh thần dân chủ, tôn trọng, lắng nghe và tiếp thu những ý kiến chính đáng của học viên. Đây chính là phương thức tạo ra tác động bên ngoài phù hợp, giúp kích thích thay vì thay thế năng lực tự thân của chủ thể.
Bốn là, cần tạo ra môi trường dân chủ thực sự cởi mở, chân thành, khắc phục cả hai khuynh hướng cản trở sự phát triển ý thức thực hành dân chủ.
Một mặt là quản lý áp đặt, quan liêu, thiếu lắng nghe làm nảy sinh tâm lý phụ thuộc, e dè, thụ động; mặt khác là dân chủ hình thức, chiếu lệ hoặc dân chủ tùy tiện làm suy giảm tính nghiêm minh của tổ chức và kỷ luật. Một môi trường thực hành dân chủ, văn minh phải tạo được sự cởi mở, thông thoáng trong cơ chế quản lý, giáo dục để học viên mạnh dạn thể hiện chính kiến, đồng thời tạo được khuôn khổ để họ biết tự kiểm soát, tự chịu trách nhiệm và tôn trọng những giới hạn cần thiết của tổ chức. Như vậy, môi trường không chỉ là nơi diễn ra hoạt động dân chủ mà trở thành điều kiện trực tiếp nuôi dưỡng năng lực tự thân, giúp những phẩm chất và khả năng bên trong của học viên được bộc lộ, thử thách và phát triển; năng lực tự thân của học viên được phát huy hiệu quả, chất lượng học tập, rèn luyện được nâng lên đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong kỷ nguyên phát triển mới.
4. Kết luận
Phát huy năng lực tự thân là yếu tố trực tiếp thúc đẩy sự phát triển của ý thức thực hành dân chủ ở học viên đào tạo sĩ quan cấp phân đội tại Trường Sĩ quan Lục quân 1. Cốt lõi là chuyển hóa những yêu cầu dân chủ của tổ chức thành nhận thức, động lực và hành động tự giác của mỗi học viên; qua đó, quyền làm chủ được thực hiện thống nhất với trách nhiệm, nguyên tắc tổ chức và kỷ luật quân đội. Đây là cơ sở quan trọng góp phần hình thành bản lĩnh, phẩm chất và năng lực thực hành dân chủ của người sĩ quan cấp phân đội, đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại.
Tài liệu tham khảo:
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2026). Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 28/7/2026 về xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa và phát triển.
Bộ Chính trị (2026). Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 22/8/2026 về phát huy tính tiên phong, gương mẫu, tinh thần đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong kỷ nguyên mới.
Bộ Quốc phòng (2025). Thông tư số 60/2025/TT-BQP ngày 30/6/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 122/2024/TT-BQP ngày 31/12/2024 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng “Quy định về thực hiện dân chủ ở cơ sở trong Quân đội nhân dân Việt Nam”.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập I, II). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Hồ Chí Minh (2011). Toàn tập (Tập 7). Nxb Chính trị quốc gia, tr. 434.
Hồ Chí Minh (2011). Toàn tập (Tập 6). Nxb Chính trị quốc gia, tr. 232.
V.I. Lênin (2005). Toàn tập (Tập 31). Nxb Chính trị quốc gia, tr. 337.



