Yêu cầu về bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh mới

Requirements for firmly safeguarding the socialist Vietnamese Fatherland in the new context

Đại tá Huỳnh Văn Hung
Bộ Chỉ huy quân sự thành phố Cần Thơ
Email: huynhvanhung101975@gmai.com

(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết phân tích cơ sở lý luận, những yêu cầu mới và các định hướng chủ yếu nhằm bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới. Nội dung tập trung làm rõ sự mở rộng của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc từ bảo vệ chủ quyền lãnh thổ sang bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, lợi ích quốc gia – dân tộc, an ninh con người và môi trường phát triển. Trên cơ sở nhận diện tác động của toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, khoa học – công nghệ, chuyển đổi số và không gian mạng, bài viết đề xuất định hướng trọng tâm: giữ vững sự lãnh đạo của Đảng, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại.

Từ khóa: Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; quốc phòng toàn dân; an ninh nhân dân; lực lượng vũ trang; tình hình mới.

Abstract: This article analyzes the theoretical foundation, new requirements, and key orientations aimed at firmly defending the Socialist Motherland of Vietnam in the new context. The content focuses on clarifying the expansion of the mission to defend the Motherland—from defending territorial sovereignty to defending the Party, the State, the people, the socialist system, national and ethnic interests, human security, and the environment for development. Based on an assessment of the impacts of globalization, international integration, science and technology, digital transformation, and cyberspace, the article proposes the following key orientations: upholding the Party’s leadership; mobilizing the combined strength of the entire political system and the entire population; and building revolutionary, regular, elite, and modern armed forces.

Keywords: Defending the Socialist Motherland of Vietnam; people’s defense; people’s security; armed forces; new situation.

1. Đặt vấn đề

Bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa luôn là nhiệm vụ chiến lược đặc biệt quan trọng, gắn liền với sự tồn vong của chế độ, lợi ích quốc gia – dân tộc và sự phát triển bền vững của đất nước. Trong giai đoạn hiện nay, môi trường an ninh quốc tế và khu vực đang có nhiều biến động nhanh chóng, phức tạp và khó dự báo. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, xung đột cục bộ, các thách thức an ninh phi truyền thống, cùng sự phát triển mạnh mẽ của khoa học – công nghệ, chuyển đổi số và không gian mạng đã làm thay đổi sâu sắc cả đối tượng, phạm vi và phương thức bảo vệ Tổ quốc. Điều đó đòi hỏi tư duy về bảo vệ Tổ quốc phải tiếp tục được bổ sung, phát triển để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn mới.

Nhận thức rõ những yêu cầu đó, Đảng Cộng sản Việt Nam đã không ngừng hoàn thiện quan điểm, đường lối và chiến lược bảo vệ Tổ quốc thông qua các nghị quyết, chiến lược và văn kiện đại hội, từng bước mở rộng nội hàm bảo vệ Tổ quốc từ bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ đến bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, lợi ích quốc gia – dân tộc, an ninh con người và môi trường hòa bình để phát triển đất nước. Việc nghiên cứu, hệ thống hóa những phát triển về mặt lý luận, đồng thời phân tích những yêu cầu mới và xác định các định hướng phù hợp có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao nhận thức và hiệu quả thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Xuất phát từ yêu cầu đó, bài viết tập trung làm rõ cơ sở lý luận của nhiệm vụ bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, phân tích những yêu cầu mới đặt ra và đề xuất một số định hướng nhằm đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn hiện nay.

2. Cơ sở lý luận về bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới

Bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là quan điểm chiến lược nhất quán của Đảng Cộng sản Việt Nam, được hình thành trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về dựng nước đi đôi với giữ nước và không ngừng được bổ sung, phát triển qua các kỳ Đại hội Đảng phù hợp với yêu cầu của từng giai đoạn cách mạng. Trong điều kiện mới, bảo vệ Tổ quốc không chỉ được hiểu là bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ mà còn là bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, lợi ích quốc gia – dân tộc, môi trường hòa bình và những điều kiện bảo đảm cho sự phát triển bền vững của đất nước.

Nhận thức đó được thể hiện rõ trong Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XI) về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Nghị quyết xác định mục tiêu bảo vệ Tổ quốc là “bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và nền văn hóa, giữ vững ổn định chính trị và môi trường hòa bình để xây dựng, phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa” (Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 2013). Có thể thấy, phạm vi bảo vệ đã được mở rộng từ bảo vệ lãnh thổ sang bảo vệ toàn diện các yếu tố cấu thành sức mạnh quốc gia, thể hiện tư duy bảo vệ Tổ quốc theo hướng tổng hợp, kết hợp chặt chẽ giữa quốc phòng, an ninh, chính trị, kinh tế, văn hóa và đối ngoại.

Các kỳ Đại hội Đảng tiếp tục bổ sung và phát triển nội hàm của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Đại hội XII nhấn mạnh yêu cầu tăng cường tiềm lực và sức mạnh quốc phòng, an ninh khi xác định: “Tăng cường tiềm lực quốc phòng và an ninh, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân vững chắc” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2016). Điều này cho thấy, mục tiêu bảo vệ Tổ quốc chỉ có thể được thực hiện hiệu quả khi đất nước xây dựng được nền quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân vững chắc, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn dân.

Đại hội XIII tiếp tục phát triển tư duy lý luận về bảo vệ Tổ quốc theo hướng toàn diện hơn, phù hợp với những biến đổi của môi trường an ninh truyền thống và phi truyền thống. Văn kiện Đại hội xác định: “Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, nền văn hóa và lợi ích quốc gia – dân tộc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, an ninh con người, xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh để phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021). So với trước đây, nội hàm bảo vệ Tổ quốc không chỉ mở rộng sang an ninh con người, nền văn hóa mà còn nhấn mạnh yêu cầu giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tạo động lực cho phát triển nhanh và bền vững. Điều này phản ánh sự chuyển biến từ tư duy bảo vệ chủ yếu trước các nguy cơ truyền thống sang tư duy bảo vệ toàn diện trước cả những thách thức an ninh phi truyền thống trong bối cảnh hội nhập quốc tế và chuyển đổi số.

Quan điểm đó tiếp tục được khẳng định trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng với định hướng: “Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, ổn định để phát triển đất nước” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.19). Mặc dù được diễn đạt cô đọng hơn, nội dung này tiếp tục khẳng định sự thống nhất trong tư duy của Đảng khi xem bảo vệ Tổ quốc và phát triển đất nước là hai nhiệm vụ chiến lược có mối quan hệ biện chứng, tác động và bổ trợ lẫn nhau. Một đất nước ổn định về chính trị, vững mạnh về quốc phòng, an ninh sẽ tạo tiền đề cho phát triển kinh tế – xã hội. Ngược lại, phát triển bền vững cũng góp phần củng cố tiềm lực để bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa.

Các văn kiện của Đảng cho thấy, nhận thức về bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa ngày càng được hoàn thiện theo hướng toàn diện, hiện đại và phù hợp với bối cảnh mới. Điểm xuyên suốt trong các văn kiện là sự thống nhất giữa mục tiêu bảo vệ độc lập, chủ quyền, chế độ xã hội chủ nghĩa và lợi ích quốc gia – dân tộc với yêu cầu giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Đồng thời, nội hàm bảo vệ Tổ quốc cũng không ngừng được mở rộng từ quốc phòng, an ninh truyền thống sang các lĩnh vực như văn hóa, an ninh con người và các yếu tố bảo đảm phát triển bền vững. Đây chính là cơ sở lý luận quan trọng để nghiên cứu các yêu cầu và giải pháp bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.

3. Những yêu cầu mới đối với nhiệm vụ bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Bước sang thế kỷ XXI, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa được đặt trong điều kiện mới với nhiều thời cơ và thách thức đan xen. Quá trình toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học – công nghệ, chuyển đổi số cùng những biến động nhanh chóng của môi trường an ninh thế giới đã làm thay đổi cả đối tượng, phạm vi và phương thức bảo vệ Tổ quốc. Điều đó đòi hỏi tư duy về bảo vệ Tổ quốc phải không ngừng được bổ sung, phát triển nhằm đáp ứng yêu cầu của tình hình mới.

Những thành tựu về đối ngoại và hội nhập quốc tế trong những năm qua đã mở ra không gian phát triển rộng lớn, đồng thời, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Từ một quốc gia chịu nhiều tổn thất do chiến tranh, Việt Nam ngày nay được cộng đồng quốc tế ghi nhận với những thành tựu nổi bật về hòa bình và phát triển. Hà Nội – Thủ đô của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, từng bị tàn phá nặng nề trong cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ, đã được UNESCO trao tặng danh hiệu “Thành phố vì hòa bình” và được bạn bè quốc tế vinh danh là “Thủ đô của phẩm giá con người”. Cùng với sự phát triển đó, quá trình hội nhập quốc tế ngày càng đi vào chiều sâu. Theo Vũ Văn Hiền, “Việt Nam hiện có quan hệ ngoại giao song phương rộng mở với 194 quốc gia trên thế giới, trong đó có 32 quốc gia có quan hệ đối tác chiến lược, có hơn chục quốc gia hùng mạnh là đối tác chiến lược toàn diện. Việt Nam đã có quan hệ với hơn 230 quốc gia và vùng lãnh thổ, ký kết 16 hiệp định thương mại tự do (FTA) trong đó có nhiều FTA thế hệ mới với các trung tâm kinh tế lớn nhất của thế giới, Việt Nam đang trong 40 nền kinh tế hàng đầu thế giới” (Vũ Văn Hiền, 2025). Những kết quả đó không chỉ tạo thêm nguồn lực cho phát triển đất nước mà còn đặt ra yêu cầu bảo vệ vững chắc lợi ích quốc gia – dân tộc trong môi trường hợp tác và cạnh tranh quốc tế ngày càng sâu rộng.

Quá trình hội nhập càng mở rộng thì những tác động từ toàn cầu hóa càng trở nên rõ nét. Đảng đã sớm nhận diện đặc điểm này khi khẳng định: “Toàn cầu hóa kinh tế là một xu thế khách quan, lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham gia… vừa có mặt tích cực, vừa có mặt tiêu cực, vừa có hợp tác, vừa có đấu tranh” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2001). Nhận thức đó tiếp tục được phát triển tại Đại hội X với đánh giá: “Toàn cầu hóa kinh tế tạo ra cơ hội phát triển nhưng cũng chứa đựng nhiều yếu tố bất bình đẳng, gây khó khăn, thách thức cho các quốc gia, nhất là các nước đang phát triển” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2006). Điều này cho thấy, hội nhập quốc tế luôn song hành với cạnh tranh chiến lược, sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia và nhiều nguy cơ tác động đến chủ quyền, an ninh và lợi ích quốc gia. Vì vậy, bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn hiện nay không chỉ hướng tới ứng phó với các nguy cơ truyền thống mà còn phải chủ động xử lý những thách thức mới nảy sinh từ quá trình hội nhập và phát triển.

Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ cũng đang làm thay đổi sâu sắc môi trường an ninh và phương thức tiến hành chiến tranh. Không gian tác chiến ngày nay không còn giới hạn trên đất liền, trên biển hay trên không mà đã mở rộng sang không gian mạng. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng chỉ rõ: “Cùng với các môi trường tác chiến trên bộ, trên không, trên biển, vũ trụ, tác chiến không gian mạng đã trở thành môi trường thứ năm, với sự ra đời của chiến tranh mạng, tác động sâu sắc đến quốc phòng, an ninh thế giới, khu vực và mỗi quốc gia, dân tộc” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026). Sự thay đổi này đặt ra yêu cầu mở rộng phạm vi bảo vệ Tổ quốc sang các lĩnh vực mới, nhất là bảo đảm an ninh mạng, an ninh dữ liệu, bảo vệ hạ tầng số và nâng cao năng lực ứng phó với các hình thái chiến tranh công nghệ cao.

Từ những biến đổi của môi trường quốc tế và trong nước có thể thấy yêu cầu bảo vệ Tổ quốc đã có nhiều thay đổi cả về nội dung và phương thức thực hiện. Nếu trước đây trọng tâm chủ yếu là bảo vệ chủ quyền lãnh thổ thì hiện nay nhiệm vụ đó đã mở rộng sang bảo vệ lợi ích quốc gia – dân tộc trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Điều này đòi hỏi tiếp tục củng cố nền quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân vững chắc, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, chủ động phòng ngừa, phát hiện và xử lý các nguy cơ từ sớm, từ xa, đồng thời nâng cao năng lực ứng phó với các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống, đặc biệt là những nguy cơ phát sinh trong không gian mạng và môi trường số.

4. Định hướng bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa đáp ứng yêu cầu của tình hình mới

Thứ nhất, kiên định sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.

Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã khẳng định sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực tiếp tục diễn biến nhanh chóng, phức tạp, các hình thái chiến tranh, xung đột và cạnh tranh chiến lược ngày càng đa dạng, việc giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quốc phòng, an ninh và lực lượng vũ trang càng có ý nghĩa quyết định. Đây không chỉ là yêu cầu mang tính nguyên tắc mà còn là điều kiện bảo đảm sự thống nhất về mục tiêu, đường lối, tổ chức và hành động trong toàn hệ thống chính trị.

Để thực hiện yêu cầu đó, cần tiếp tục quán triệt sâu sắc các quan điểm, chủ trương của Đảng về bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức đảng; xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức trong sáng, tư duy đổi mới và năng lực thích ứng với những yêu cầu của chuyển đổi số, hội nhập quốc tế và các thách thức an ninh mới. Đồng thời, cần chủ động nghiên cứu, dự báo chiến lược, kịp thời tham mưu những chủ trương, giải pháp phù hợp để xử lý hiệu quả các tình huống phát sinh, không để bị động, bất ngờ.

Thứ hai, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới không còn là nhiệm vụ riêng của lực lượng vũ trang mà là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị. Trong điều kiện hội nhập quốc tế sâu rộng và các thách thức an ninh ngày càng đa dạng, sức mạnh bảo vệ Tổ quốc phải được hình thành từ sự kết hợp chặt chẽ giữa sức mạnh chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, khoa học – công nghệ, văn hóa và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.

Cần tiếp tục xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân ngày càng vững chắc; kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế – xã hội với củng cố quốc phòng, an ninh trong từng chiến lược, quy hoạch và chương trình phát triển. Đồng thời, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội, cộng đồng doanh nghiệp và Nhân dân trong xây dựng thế trận lòng dân vững chắc, tăng cường giáo dục quốc phòng và an ninh, nâng cao nhận thức, trách nhiệm công dân đối với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, chủ động đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và củng cố niềm tin của Nhân dân đối với chế độ.

Thứ ba, xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại gắn với chuyển đổi số và hội nhập quốc tế.

Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học – công nghệ, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, không gian mạng và các phương thức tác chiến hiện đại đang làm thay đổi căn bản hình thái chiến tranh và yêu cầu bảo vệ Tổ quốc. Điều đó đòi hỏi lực lượng vũ trang phải tiếp tục được xây dựng theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, đủ năng lực làm nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc trước cả các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống.

Định hướng này cần được thực hiện thông qua việc đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý, chỉ huy, điều hành và huấn luyện, ứng dụng thành tựu của khoa học – công nghệ vào công tác dự báo, trinh sát, tác chiến và bảo đảm hậu cần, kỹ thuật, xây dựng lực lượng chuyên trách đủ năng lực bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng và bảo đảm an toàn dữ liệu quốc gia. Cùng với đó, cần mở rộng hợp tác quốc tế về quốc phòng, an ninh trên cơ sở giữ vững độc lập, tự chủ, bảo vệ lợi ích quốc gia – dân tộc, tranh thủ thành tựu khoa học – công nghệ, kinh nghiệm quản lý và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao để nâng cao tiềm lực quốc phòng, đáp ứng yêu cầu bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.

Những định hướng trên có mối quan hệ thống nhất và bổ trợ lẫn nhau. Sự lãnh đạo của Đảng giữ vai trò định hướng và quyết định, sức mạnh của cả hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân tộc tạo nên nền tảng vững chắc, còn lực lượng vũ trang cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại là lực lượng nòng cốt trực tiếp thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Việc triển khai đồng bộ các định hướng này sẽ góp phần xây dựng thế và lực mới, nâng cao năng lực bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để đất nước phát triển nhanh, bền vững trong kỷ nguyên mới.

5. Kết luận

Bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới vừa là nhiệm vụ chiến lược lâu dài, vừa là yêu cầu cấp thiết trước những biến động nhanh chóng của môi trường quốc tế và trong nước. Sự phát triển của toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, chuyển đổi số và các thách thức an ninh phi truyền thống đã làm cho nội hàm, đối tượng và phương thức bảo vệ Tổ quốc ngày càng toàn diện, đòi hỏi phải tiếp tục đổi mới tư duy và nâng cao năng lực tổ chức thực hiện.

Qua phân tích các quan điểm của Đảng từ Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XI) đến Văn kiện Đại hội XIV, bài viết cho thấy, nhận thức về bảo vệ Tổ quốc đã được phát triển theo hướng mở rộng từ bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ sang bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, lợi ích quốc gia – dân tộc, nền văn hóa, an ninh con người và môi trường hòa bình để phát triển đất nước. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất ba định hướng có tính nền tảng gồm: giữ vững sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại gắn với chuyển đổi số và hội nhập quốc tế.

Trong thời gian tới, việc cụ thể hóa các quan điểm của Đảng thành cơ chế, chính sách và giải pháp phù hợp với từng lĩnh vực, từng địa phương và từng loại hình lực lượng sẽ có ý nghĩa quyết định trong nâng cao hiệu quả bảo vệ Tổ quốc. Đồng thời, cần tiếp tục nghiên cứu những vấn đề mới do chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, an ninh mạng và các hình thái chiến tranh hiện đại đặt ra nhằm không ngừng hoàn thiện lý luận và thực tiễn bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong kỷ nguyên phát triển mới của đất nước.

Tài liệu tham khảo:
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2013). Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 25/10/2013 về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2001). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX. Nxb Chính trị quốc gia, tr. 64.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2006). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X. Nxb Chính trị quốc gia, tr. 73.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2016). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII. Nxb Chính trị quốc gia, tr. 148.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập I. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 156.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Tập II. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 13.
Vũ Văn Hiền (05/8/2025). Bối cảnh quốc tế, trong nước và những yêu cầu mới về xây dựng, phát triển đất nước, bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên vươn tầm của dân tộc. https://hvcsnd.edu.vn/boi-canh-quoc-te-trong-nuoc-va-nhung-yeu-cau-moi-ve-xay-dung-phat-trien-dat-nuoc-bao-ve-to-quoc-trong-ky-13248.