40 years of doi moi: from traditional economy to breakthrough development of the digital economy in Vietnam
ThS. Cấn Thị Thùy Linh
Học viện Hành chính và Quản trị công
Email: linhctt@apag.edu.vn
(Quanlynhanuoc.vn) – Nhìn lại 40 năm đổi mới trên lĩnh vực kinh tế ở Việt Nam (1986 – 2026), bài viết đánh giá quá trình chuyển dịch từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, sản xuất nông nghiệp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế và từng bước hình thành nền kinh tế số. Trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0, phát triển kinh tế số vừa là cơ hội, vừa là thách thức để Việt Nam bứt phá và hội nhập toàn cầu. Nhằm hiện thực hóa mục tiêu phát triển kinh tế số đề ra tại Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và tiếp tục được cụ thể hóa, đẩy mạnh tại Đại hội XIV của Đảng, từ đó, đề xuất một số giải pháp về thể chế, hạ tầng số và nguồn nhân lực nhằm đưa kinh tế số trở thành động lực tăng trưởng mới và bền vững ở Việt Nam.
Từ khóa: Bốn mươi năm Đổi mới, kinh tế số, chuyển đổi số, cách mạng công nghiệp 4.0, Nghị quyết 57-NQ/TW.
Abstract: Reviewing the 40-year journey of economic reform in Vietnam (1986 – 2026), this article assesses the transition from a centrally planned, traditional agricultural economy to a socialist-oriented market economy and the breakthrough development of the digital economy. In the context of the Fourth Industrial Revolution, developing the digital economy represents both an opportunity and a challenge for Vietnam to make a breakthrough and integrate globally. To realize the objectives for digital economy development set out in the Resolution of the 13th National Congress of the Communist Party of Viet Nam and further elaborated and advanced at the 14th National Congress, the article proposes several solutions focusing on institutional development, digital infrastructure, and human resources. These measures are intended to establish the digital economy as a new and sustainable driver of economic growth in Viet Nam.
Keywords: Forty years of Doi Moi; digital economy; digital transformation; Industrial Revolution 4.0; Resolution 57-NQ/TW.
1. Đặt vấn đề
Trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 và chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ trên phạm vi toàn cầu, kinh tế số ngày càng trở thành một phương thức phát triển quan trọng, góp phần nâng cao năng suất, đổi mới mô hình tăng trưởng và năng lực cạnh tranh quốc gia. Đối với Việt Nam, phát triển kinh tế số không chỉ là yêu cầu thích ứng với tiến bộ công nghệ mà còn là một định hướng quan trọng để thúc đẩy tăng trưởng, nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực và tăng cường hội nhập quốc tế. Vì vậy, tận dụng cơ hội từ chuyển đổi số; đồng thời, khắc phục những hạn chế về thể chế, hạ tầng và nguồn nhân lực có ý nghĩa quyết định đối với quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng trong giai đoạn mới. Đặc biệt, tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP giai đoạn 2020 – 2024 có xu hướng tăng, lần lượt đạt 12,66% năm 2020, 12,87% năm 2021, 12,83% năm 2022, 12,87% năm 2023 và 13,17% năm 2024 (Tổng Cục Thống kê, 2025). Đến năm 2025, tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số ước đạt 14,02% GDP, tương đương khoảng 72,1 tỷ USD, tăng 1,64 lần so với năm 2020 (Cục Thống kê, 2026). Mức độ số hóa trong các ngành, lĩnh vực tiếp tục được mở rộng, đặc biệt trong thương mại, tài chính, dịch vụ hành chính và hạ tầng năng lượng.
Phát triển kinh tế số được xác định là một nội dung quan trọng trong định hướng phát triển đất nước. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đặt mục tiêu kinh tế số chiếm khoảng 20% GDP vào năm 2025 và khoảng 30% GDP vào năm 2030; đồng thời, xác định chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế số và xã hội số là những nhiệm vụ quan trọng (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021a). Trong giai đoạn mới, yêu cầu này tiếp tục được đặt trong mối quan hệ với phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, đòi hỏi phải tạo lập môi trường thể chế thuận lợi, phát triển hạ tầng số đồng bộ và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Thực hiện các mục tiêu trên đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện thể chế, phát triển hạ tầng số, nâng cao năng lực số của doanh nghiệp và người lao động, đồng thời, tăng cường khả năng khai thác dữ liệu và ứng dụng công nghệ trong các ngành, lĩnh vực. Những hạn chế về chất lượng thể chế, hạ tầng, nhân lực và năng lực đổi mới sáng tạo có thể trở thành điểm nghẽn đối với quá trình mở rộng kinh tế số. Do đó, phát triển kinh tế số cần được tiếp cận không chỉ từ góc độ ứng dụng công nghệ mà còn từ yêu cầu đổi mới phương thức quản lý và tạo lập các điều kiện nền tảng cho tăng trưởng dài hạn.
Từ yêu cầu thực tiễn đó, bài viết nhìn lại quá trình chuyển đổi của nền kinh tế Việt Nam sau 40 năm Đổi mới, từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung và sản xuất truyền thống sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế và từng bước phát triển kinh tế số. Trên cơ sở đánh giá những kết quả đạt được, bài viết nhận diện các điểm nghẽn chủ yếu về thể chế, hạ tầng và nguồn nhân lực, từ đó đề xuất một số định hướng, giải pháp nhằm tạo điều kiện để kinh tế số trở thành động lực quan trọng của tăng trưởng và phát triển bền vững ở Việt Nam trong giai đoạn tới.
2. Một số vấn đề lý luận về kinh tế số
Cách mạng công nghiệp lần 4.0 đang làm thay đổi sâu sắc phương thức sản xuất, kinh doanh và quản trị, trong đó công nghệ số và dữ liệu ngày càng trở thành những yếu tố quan trọng của quá trình tạo lập giá trị. Kinh tế số vì vậy không chỉ là sự phát triển của ngành công nghệ thông tin mà còn phản ánh quá trình số hóa và tái cấu trúc ngày càng sâu rộng các hoạt động kinh tế. OECD (2020), tiếp cận kinh tế số theo nghĩa rộng cho rằng, kinh tế số bao gồm tất cả các hoạt động kinh tế dựa vào hoặc được tăng cường đáng kể bằng cách sử dụng các yếu tố đầu vào kỹ thuật số, bao gồm: công nghệ kỹ thuật số, cơ sở hạ tầng kỹ thuật số, dịch vụ kỹ thuật số và dữ liệu. Cách tiếp cận này cho phép xem kinh tế số như một phương thức phát triển có phạm vi bao trùm nhiều ngành, lĩnh vực, thay vì chỉ giới hạn ở khu vực sản xuất sản phẩm và dịch vụ công nghệ số.
Từ cách tiếp cận trên, có thể khái quát ba đặc trưng cơ bản của kinh tế số. Thứ nhất, công nghệ số và dữ liệu trở thành nguồn lực quan trọng của quá trình sản xuất, kinh doanh và cung ứng dịch vụ. Thứ hai, số hóa thúc đẩy đổi mới mô hình kinh doanh, phương thức tổ chức sản xuất và cách thức phân phối sản phẩm, qua đó, mở rộng không gian thị trường và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực. Thứ ba, kinh tế số có tính lan tỏa cao, bởi công nghệ số không chỉ tạo ra các ngành kinh tế mới mà còn làm thay đổi phương thức hoạt động của các ngành truyền thống. Theo OECD (2020), có thể tiếp cận kinh tế số theo các lớp từ khu vực sản xuất hàng hóa, dịch vụ công nghệ số đến các hoạt động kinh tế được hỗ trợ hoặc nâng cao đáng kể nhờ công nghệ số.
Ở Việt Nam, nhận thức về kinh tế số ngày càng được thể chế hóa cùng với tiến trình chuyển đổi số quốc gia. Quyết định số 411/QĐ-TTg ngày 31/3/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia phát triển kinh tế số và xã hội số đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 (Thủ tướng Chính phủ, 2022), xác định công nghệ số và dữ liệu số là những yếu tố nền tảng của phương thức phát triển mới; đồng thời, đặt yêu cầu phát triển kinh tế số gắn với thể chế, hạ tầng, nhân lực, doanh nghiệp và người dân. Chiến lược cũng nhấn mạnh phát triển kinh tế số phải đi đôi với đổi mới sáng tạo, bảo vệ quyền riêng tư, bảo đảm chủ quyền số và quản lý rủi ro trên môi trường số.
Bước phát triển mới về quan điểm và định hướng chính sách được thể hiện trong Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Nghị quyết đặt khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào vị trí quan trọng hàng đầu, gắn với yêu cầu phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất và đổi mới phương thức quản trị quốc gia. Theo đó, phát triển kinh tế số không còn được nhìn nhận đơn thuần là ứng dụng công nghệ mà ngày càng gắn với quá trình đổi mới mô hình tăng trưởng và tạo lập động lực phát triển mới của nền kinh tế (Bộ Chính trị, 2024).
Về phương diện pháp lý, Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025, được Quốc hội thông qua ngày 14/6/2025 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2026, tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lý cho phát triển công nghệ số ở Việt Nam. Việc luật hóa các vấn đề liên quan đến công nghiệp công nghệ số cho thấy, chính sách đã chuyển mạnh từ xây dựng định hướng, chiến lược sang hình thành khuôn khổ pháp lý cho các ngành, sản phẩm và hoạt động kinh tế dựa trên công nghệ số (Quốc hội, 2025).
Đến năm 2026, định hướng này tiếp tục được cụ thể hóa bằng Quyết định số 1033/QĐ-TTg ngày 09/6/2026 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình phát triển kinh tế số và xã hội số giai đoạn 2026 – 2030 (Thủ tướng Chính phủ, 2026). Chương trình đánh dấu bước chuyển từ giai đoạn xây dựng nền tảng sang phát triển kinh tế số và xã hội số toàn diện, gắn với các yếu tố, như: hạ tầng số, dữ liệu, trí tuệ nhân tạo, doanh nghiệp công nghệ số và nguồn nhân lực số. Qua đó, kinh tế số được đặt ngày càng rõ hơn trong tổng thể mô hình tăng trưởng dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Từ các cách tiếp cận trên, kinh tế số được hiểu là phương thức tổ chức và vận hành các hoạt động kinh tế dựa trên việc khai thác công nghệ số, hạ tầng số, dữ liệu và dịch vụ số nhằm tạo lập, phân phối và gia tăng giá trị. Theo đó, kinh tế số không đồng nhất với ngành công nghệ thông tin và cũng không chỉ là đưa các hoạt động truyền thống lên môi trường số; bản chất của quá trình này là sự thay đổi các yếu tố đầu vào, phương thức sản xuất – kinh doanh, mô hình tạo giá trị và phương thức quản trị.
Đối với Việt Nam, phát triển kinh tế số có ý nghĩa trực tiếp đối với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh. Tuy nhiên, quá trình này phụ thuộc không chỉ vào khả năng ứng dụng công nghệ của doanh nghiệp mà còn vào chất lượng thể chế, hạ tầng số, dữ liệu, nguồn nhân lực, năng lực đổi mới sáng tạo và bảo đảm an ninh, an toàn trên môi trường số. Vì vậy, Nhà nước giữ vai trò kiến tạo thông qua hoàn thiện thể chế, phát triển hạ tầng và dữ liệu số, tạo lập môi trường cạnh tranh phù hợp, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và bảo đảm các điều kiện để kinh tế số phát triển an toàn, hiệu quả và bền vững.
Như vậy, xét trong tiến trình 40 năm Đổi mới, kinh tế số có thể được xem là một bước phát triển mới của lực lượng sản xuất và phương thức tăng trưởng, được hình thành trên nền tảng những thành quả của quá trình chuyển đổi sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Đây là cơ sở để phân tích quá trình chuyển dịch mô hình kinh tế của Việt Nam qua các giai đoạn Đổi mới, từ đó làm rõ những tiền đề, kết quả và điểm nghẽn trong quá trình chuyển sang phát triển kinh tế số hiện nay.
3. 40 năm đổi mới và quá trình chuyển dịch mô hình kinh tế ở Việt Nam
40 năm đổi mới là quá trình chuyển đổi sâu sắc mô hình phát triển của nền kinh tế Việt Nam, từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mở cửa và hội nhập quốc tế. Quá trình này không chỉ tạo ra những thay đổi về cơ cấu kinh tế, phương thức phân bổ nguồn lực và quan hệ sản xuất mà còn từng bước hình thành các tiền đề về khoa học, công nghệ, hạ tầng và nguồn nhân lực cho chuyển đổi số và phát triển kinh tế số. Quy mô GDP của Việt Nam tăng từ khoảng 8 tỷ USD năm 1986 lên hơn 510 tỷ USD năm 2025; GDP bình quân đầu người tăng từ khoảng 100 USD lên hơn 5.000 USD, đưa Việt Nam vào nhóm quốc gia có thu nhập trung bình cao (Bộ Tài chính, 2026).
Thứ nhất, từ đổi mới mô hình kinh tế đến hình thành nền tảng cho kinh tế tri thức.
Trong những năm đầu Đổi mới, trọng tâm của quá trình chuyển đổi là giải phóng lực lượng sản xuất, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại. Cùng với quá trình này, khoa học, công nghệ từng bước được xác định là yếu tố quan trọng đối với nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Đại hội XII của Đảng tiếp tục nhấn mạnh phát triển khoa học, công nghệ là động lực quan trọng để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, kinh tế tri thức, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2016, tr. 119).
Sự phát triển của công nghệ thông tin và hạ tầng thông tin, truyền thông từ cuối thế kỷ XX tạo thêm một nền tảng quan trọng cho quá trình chuyển dịch này. Chỉ thị số 58-CT/TW ngày 17/10/2000 của Bộ Chính trị xác định công nghệ thông tin là một trong những động lực quan trọng của phát triển; đồng thời, nhấn mạnh yêu cầu đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tiếp đó, Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 01/7/2014 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin tiếp tục đặt vấn đề ứng dụng công nghệ thông tin trong mối quan hệ với phát triển bền vững và hội nhập quốc tế. Đây là những bước phát triển quan trọng trong nhận thức về vai trò của công nghệ đối với mô hình tăng trưởng của Việt Nam.
Thứ hai, từ ứng dụng công nghệ thông tin đến chuyển đổi số và phát triển kinh tế số.
Bước sang giai đoạn 2021-2025, chuyển đổi số và kinh tế số được xác định rõ hơn trong định hướng phát triển đất nước. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đặt chuyển đổi số quốc gia và phát triển kinh tế số trên nền tảng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong mối quan hệ trực tiếp với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021a, tr. 120 – 121). Đồng thời, Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh việc nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng các thành tựu của cách mạng công nghiệp 4.0, trong đó ưu tiên các công nghệ số, trí tuệ nhân tạo (AI), blockchain, Internet vạn vật (IoT) và an ninh mạng.
Định hướng này được cụ thể hóa bằng Chiến lược quốc gia phát triển kinh tế số và xã hội số đến năm 2025, định hướng đến năm 2030. Theo Quyết định số 411/QĐ-TTg ngày 31/3/2022 của Thủ tướng Chính phủ, phát triển kinh tế số được đặt trong tổng thể chuyển đổi số quốc gia, gắn với phát triển doanh nghiệp số, thị trường số, hạ tầng số, dữ liệu số và nguồn nhân lực số. Qua đó, kinh tế số từng bước chuyển từ một xu hướng công nghệ thành một nội dung của chiến lược phát triển kinh tế – xã hội.
Bước phát triển mới về tư duy và chính sách được thể hiện trong Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị. Nghị quyết xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là những yếu tố có vai trò đặc biệt quan trọng đối với phát triển đất nước; đồng thời, đặt mục tiêu đến năm 2045, quy mô kinh tế số đạt tối thiểu 50% GDP và Việt Nam thuộc nhóm 30 nước dẫn đầu thế giới về đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số (Bộ Chính trị, 2024). Điều này cho thấy, kinh tế số đã được đặt trong tầm nhìn phát triển dài hạn, gắn với yêu cầu hình thành lực lượng sản xuất mới và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Thứ ba, Đại hội XIV của Đảng và yêu cầu chuyển sang mô hình tăng trưởng dựa nhiều vào khoa học, công nghệ và kinh tế số.
Đại hội XIV của Đảng tiếp tục nâng cao yêu cầu phát triển kinh tế số trong mô hình tăng trưởng giai đoạn 2026 – 2030. Nghị quyết Đại hội xác định phấn đấu tốc độ tăng trưởng GDP bình quân từ 10%/năm trở lên; GDP bình quân đầu người đến năm 2030 đạt khoảng 8.500 USD; trong đó, tỷ trọng kinh tế số đạt khoảng 30% GDP. Đồng thời, Đại hội đặt mục tiêu đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng đạt trên 55% và tốc độ tăng năng suất lao động khoảng 8,5%/năm (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a, tr. 41 – 43).
Các mục tiêu trên cho thấy, kinh tế số không còn được tiếp cận chủ yếu dưới góc độ ứng dụng công nghệ mà ngày càng gắn trực tiếp với chất lượng tăng trưởng và năng suất của nền kinh tế. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh yêu cầu thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất và phương thức sản xuất mới, trong đó kinh tế số là một trọng tâm cùng với kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và xây dựng xã hội số; đồng thời, ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp, công nghệ chiến lược như chip bán dẫn và trí tuệ nhân tạo (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a, 78 – 82).
Như vậy, nhìn từ tiến trình 40 năm Đổi mới, sự phát triển của kinh tế số ở Việt Nam có thể được khái quát qua ba bước chuyển chủ yếu: từ đổi mới thể chế và giải phóng lực lượng sản xuất; đến phát triển khoa học, công nghệ, kinh tế tri thức và ứng dụng công nghệ thông tin và hiện nay là chuyển đổi số toàn diện, phát triển kinh tế số dựa trên dữ liệu, công nghệ số và đổi mới sáng tạo. Đây không phải là sự thay thế đột ngột mô hình kinh tế truyền thống mà là quá trình nâng cấp phương thức tăng trưởng trên nền tảng những thành quả của 40 năm Đổi mới.
Thành tựu của 40 năm Đổi mới đã tạo lập những tiền đề quan trọng về quy mô thị trường, kết cấu hạ tầng, năng lực doanh nghiệp, mức độ hội nhập và nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế số. Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng dựa nhiều hơn vào khoa học, công nghệ và dữ liệu cũng đặt ra những yêu cầu mới về thể chế, hạ tầng số, năng lực đổi mới sáng tạo, chất lượng nguồn nhân lực và khả năng làm chủ công nghệ. Đây chính là những vấn đề cần được tiếp tục đánh giá để xác định các điểm nghẽn và yêu cầu chính sách đối với phát triển kinh tế số của Việt Nam trong giai đoạn 2026 – 2030.
4. Một số giải pháp
Một là, hoàn thiện thể chế và đổi mới phương thức quản lý nhà nước đối với kinh tế số
Tiếp tục rà soát, hoàn thiện hệ thống pháp luật theo hướng đồng bộ, linh hoạt và phù hợp với sự phát triển nhanh của công nghệ số; ưu tiên các lĩnh vực mới, như: dữ liệu, AI, tài sản số, nền tảng số, thương mại điện tử và các mô hình kinh doanh mới. Việc ban hành Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025, đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho phát triển công nghiệp công nghệ số và cần được tiếp tục cụ thể hóa trong tổ chức thực hiện (Quốc hội, 2025). Cùng với hoàn thiện pháp luật, cần chuyển mạnh phương thức quản lý từ tiền kiểm sang quản lý dựa trên dữ liệu, tiêu chuẩn, đánh giá rủi ro và giám sát sau. Đẩy mạnh ứng dụng dữ liệu, AI và các nền tảng số trong hoạt động quản lý nhà nước; nâng cao chất lượng dịch vụ công và khả năng tương tác giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người dân. Đây là yêu cầu phù hợp với định hướng của Nghị quyết số 57-NQ/TW về đổi mới phương thức quản trị và thúc đẩy chuyển đổi số quốc gia (Bộ Chính trị, 2024).
Hai là, phát triển hạ tầng số và hình thành hệ sinh thái dữ liệu phục vụ tăng trưởng
Tiếp tục đầu tư phát triển hạ tầng viễn thông băng rộng, mạng 5G, trung tâm dữ liệu, điện toán đám mây (Cloud computing) và các nền tảng số thiết yếu; đồng thời, nâng cao khả năng kết nối, chia sẻ và khai thác các cơ sở dữ liệu. Cần chuyển từ tư duy coi dữ liệu chủ yếu là sản phẩm của hoạt động quản lý sang coi dữ liệu là một nguồn lực của nền kinh tế, có khả năng tạo ra giá trị và thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Quyết định số 1033/QĐ-TTg ngày 09/6/2026 của Thủ tướng Chính phủ về Chương trình phát triển kinh tế số và xã hội số giai đoạn 2026 – 2030 đã xác định phát triển hạ tầng số, dữ liệu số, nền tảng số và các yếu tố của kinh tế số là những nhiệm vụ trọng tâm của giai đoạn mới. Vì vậy, cần đẩy nhanh kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan, tổ chức; phát triển dữ liệu mở phù hợp; đồng thời, bảo đảm quyền riêng tư, an toàn dữ liệu và khả năng kiểm soát các rủi ro phát sinh.
Ba là, nâng cao năng lực số của người lao động và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
Nguồn nhân lực là yếu tố quyết định khả năng hấp thụ và làm chủ công nghệ. Do đó, cần đổi mới chương trình giáo dục, đào tạo theo hướng tăng cường kỹ năng số, tư duy dữ liệu, năng lực đổi mới sáng tạo và khả năng thích ứng với thay đổi công nghệ. Bên cạnh đào tạo chính quy, cần mở rộng đào tạo lại, đào tạo nâng cao và học tập suốt đời để người lao động thích ứng với quá trình tái cấu trúc việc làm do số hóa và tự động hóa. Đối với nhân lực công nghệ cao, cần có chính sách đủ sức cạnh tranh để thu hút, sử dụng và giữ chân chuyên gia trong các lĩnh vực, như: AI, dữ liệu lớn (Big Data), an ninh mạng, bán dẫn và điện toán hiệu năng cao. Đây cũng là một nội dung phù hợp với định hướng phát triển nguồn nhân lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được xác định trong Nghị quyết số 57-NQ/TW (Bộ Chính trị, 2024).
Bốn là, thúc đẩy doanh nghiệp chuyển đổi số và phát triển các ngành, lĩnh vực kinh tế số
Doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, cần được hỗ trợ tiếp cận nền tảng số, giải pháp công nghệ, dữ liệu và nguồn vốn phục vụ chuyển đổi số. Chính sách hỗ trợ cần chuyển từ hỗ trợ đầu tư công nghệ đơn thuần sang hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới mô hình kinh doanh, nâng cao năng suất, quản trị bằng dữ liệu và tham gia sâu hơn vào các chuỗi giá trị số. Đồng thời, cần thúc đẩy phát triển kinh tế số trong các ngành có tiềm năng lan tỏa lớn, như: công nghiệp chế biến, chế tạo, thương mại, logistics, nông nghiệp, du lịch, tài chính và các dịch vụ. Quyết định số 1033/QĐ-TTg đã đặt yêu cầu phát triển kinh tế số theo hướng mở rộng từ các hoạt động công nghệ số sang số hóa toàn diện các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế (Thủ tướng Chính phủ, 2026).
Năm là, phát triển AI và năng lực làm chủ công nghệ chiến lược
AI đang trở thành một trong những công nghệ có khả năng tạo ra thay đổi lớn đối với năng suất, mô hình kinh doanh và phương thức quản trị. Việt Nam cần tiếp tục triển khai Chiến lược quốc gia về nghiên cứu, phát triển và ứng dụng AI đến năm 2030 được phê duyệt tại Quyết định số 127/QĐ-TTg ngày 26/01/2021 của Thủ tướng Chính phủ; đồng thời, gắn nghiên cứu, phát triển AI với nhu cầu của doanh nghiệp và các ngành kinh tế.Trọng tâm không chỉ là mở rộng ứng dụng AI mà còn từng bước nâng cao năng lực nghiên cứu, phát triển và làm chủ công nghệ. Cần hình thành liên kết giữa doanh nghiệp, viện nghiên cứu và cơ sở giáo dục đại học; phát triển dữ liệu và hạ tầng tính toán; hỗ trợ các sản phẩm, nền tảng AI do Việt Nam phát triển; xây dựng cơ chế quản lý phù hợp nhằm bảo đảm minh bạch, an toàn, trách nhiệm và kiểm soát các rủi ro của AI.
Sáu là, bảo đảm an ninh, an toàn và tăng cường hội nhập quốc tế về kinh tế số
Niềm tin số là điều kiện quan trọng để người dân và doanh nghiệp tham gia các hoạt động kinh tế trên môi trường số. Vì vậy, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế bảo vệ dữ liệu, an toàn thông tin và an ninh mạng; nâng cao năng lực giám sát, cảnh báo sớm và ứng cứu sự cố; tăng cường phối hợp giữa cơ quan nhà nước, doanh nghiệp và các tổ chức quốc tế trong phòng, chống tội phạm công nghệ cao và các hành vi gian lận trên môi trường số. Song song với bảo đảm an toàn, cần chủ động hội nhập và tham gia xây dựng các quy tắc, tiêu chuẩn quốc tế về kinh tế số; mở rộng hợp tác về thương mại điện tử, công nghệ số, AI, thanh toán số, chuyển giao công nghệ và đào tạo nhân lực. Qua đó, tạo điều kiện để doanh nghiệp Việt Nam mở rộng thị trường, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị số và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế. Phát triển kinh tế số trong giai đoạn 2026 – 2030 cần chuyển từ tư duy “ứng dụng công nghệ” sang “đổi mới mô hình tăng trưởng dựa trên công nghệ, dữ liệu và đổi mới sáng tạo”. Trọng tâm chính sách không chỉ là mở rộng quy mô hoạt động số mà phải tạo lập đồng bộ các điều kiện về thể chế, hạ tầng, dữ liệu, nhân lực, doanh nghiệp, công nghệ và an toàn số. Đây là những nền tảng để thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế số, nâng cao năng suất và tạo động lực tăng trưởng mới trong giai đoạn phát triển tiếp theo của Việt Nam.
5. Kết luận
Trải qua 40 năm Đổi mới (1986 – 2026), nền kinh tế Việt Nam đã từng bước chuyển từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mở cửa và hội nhập quốc tế. Trên nền tảng đó, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số ngày càng trở thành những yếu tố quan trọng của quá trình nâng cao năng suất và đổi mới mô hình tăng trưởng. Phát triển kinh tế số không chỉ là yêu cầu thích ứng với tiến bộ công nghệ mà trở thành một định hướng chiến lược trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội của Việt Nam. Từ Nghị quyết Đại hội XIII đến Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, định hướng phát triển kinh tế số ngày càng được cụ thể hóa và gắn chặt hơn với yêu cầu nâng cao năng suất, chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh quốc gia. Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong phát triển lực lượng sản xuất mới. Đại hội XIV của Đảng đặt kinh tế số trong tổng thể mô hình tăng trưởng mới, với mục tiêu tỷ trọng kinh tế số đạt khoảng 30% GDP vào năm 2030. Đây là sự phát triển liên tục về nhận thức và chính sách, từ ứng dụng công nghệ thông tin đến chuyển đổi số toàn diện và phát triển kinh tế dựa trên công nghệ, dữ liệu và đổi mới sáng tạo.
Để hiện thực hóa các mục tiêu này, Việt Nam cần tiếp tục tháo gỡ đồng bộ những điểm nghẽn về thể chế, hạ tầng, dữ liệu, nguồn nhân lực, năng lực công nghệ và an ninh, an toàn số. Trọng tâm chính sách cần hướng tới hoàn thiện thể chế và phương thức quản lý nhà nước phù hợp với kinh tế số; phát triển hạ tầng số và hệ sinh thái dữ liệu; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới mô hình kinh doanh và chuyển đổi số; phát triển trí tuệ nhân tạo và các công nghệ chiến lược; đồng thời, bảo đảm an ninh, an toàn và chủ động hội nhập quốc tế. Trong đó, Nhà nước cần phát huy vai trò kiến tạo, tạo lập môi trường thể chế, hạ tầng và nguồn lực thuận lợi để doanh nghiệp và người dân tham gia, đóng góp vào quá trình phát triển kinh tế số. Nhìn từ chặng đường 40 năm Đổi mới, phát triển kinh tế số không phải là sự thay thế nền kinh tế truyền thống mà là quá trình nâng cấp phương thức tăng trưởng trên nền tảng những thành quả đã được tạo dựng. Nếu khai thác hiệu quả công nghệ, dữ liệu và nguồn nhân lực, xử lý tốt các điểm nghẽn về thể chế và năng lực làm chủ công nghệ, kinh tế số sẽ góp phần nâng cao năng suất, mở rộng không gian phát triển và tạo thêm động lực cho tăng trưởng dài hạn, qua đó, góp phần thực hiện mục tiêu đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045.
Tài liệu tham khảo:
Báo Chính phủ (20/7/2026). Đến năm 2045: Việt Nam thuộc nhóm 30 nước dẫn đầu thế giới về Chính phủ điện tử, Chính phủ số. https://baochinhphu.vn/den-nam-2045-viet-nam-thuoc-nhom-30-nuoc-dan-dau-the-gioi-ve-chinh-phu-dien-tu-chinh-phu-so-102260720170543418.html
Báo Chính phủ (16/2/2022). Kinh tế số và khát vọng hùng cường. https://baochinhphu.vn/kinh-te-so-va-khat-vong-hung-cuong-102220216141147993.htm
Bộ Chính trị (2000). Chỉ thị số 58-CT/TW ngày 17/10/2000 về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Bộ Chính trị (2014). Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 01/7/2014 về đẩy mạnh ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế.
Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Bộ Tài chính (23/01/2026). 40 năm đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng: Kinh tế Việt Nam vượt mốc 510 tỷ USD. https://www.mof.gov.vn/bo-tai-chinh/nghien-cuu-trao-doi-1.1/40-nam-doi-moi-duoi-su-lanh-dao-cua-dang-kinh-te-viet-nam-vuot-moc-510-ty-usd
Cục Thống kê (2026). Thông cáo báo chí: Tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP/GRDP giai đoạn 2021 – 2025. https://www.nso.gov.vn/tin-tuc-thong-ke/2026/01/thong-cao-bao-chi-ty-trong-gia-tri-tang-them-cua-kinh-te-so-trong-gdp-grdp-giai-doan-2021-2025/
Đảng Cộng sản Việt Nam (2016). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Lê Thu Hà (18/6/20242020). Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế số ở Việt Nam. Tạp chí Kinh tế Tài chính. https://tapchikinhtetaichinh.vn/thuc-trang-va-giai-phap-phat-trien-kinh-te-so-o-viet-nam-58715.html
OECD (2020). A roadmap toward a common framework for measuring the digital economy. OECD Publishing.
OECD (2020). Measuring the digital transformation: A roadmap for the future. OECD Publishing. https://doi.org/10.1787/9789264311992-en
Quốc hội (2025). Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025.
Nguyễn Hoàng Hiển & Nguyễn Đình Quý (25/02/2026). Chuyển đổi số trong quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả. Tạp chí Quản lý nhà nước. https://www.quanlynhanuoc.vn/2026/02/25/chuyen-doi-so-trong-quan-tri-quoc-gia-hien-dai-hieu-qua/
Thủ tướng Chính phủ (2020). Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 phê duyệt Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
Thủ tướng Chính phủ (2022). Quyết định số 411/QĐ-TTg ngày 31/3/2022 phê duyệt Chiến lược quốc gia phát triển kinh tế số và xã hội số đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
Thủ tướng Chính phủ (2026). Quyết định số 1033/QĐ-TTg ngày 09/6/2026 phê duyệt Chương trình phát triển kinh tế số và xã hội số giai đoạn 2026 – 2030.
Tổng cục Thống kê (2025). Thông cáo báo chí: Kết quả biên soạn chỉ tiêu tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP giai đoạn 2020 – 2024. https://www.nso.gov.vn/tin-tuc-thong-ke/2026/01/thong-cao-bao-chi-ty-trong-gia-tri-tang-them-cua-kinh-te-so-trong-gdp-grdp-giai-doan-2021-2025.



