Di sản y học Lê Hữu Trác dưới góc nhìn nhận thức luận: vấn đề diễn giải hệ thống tri thức trong bối cảnh hiện nay

The medical legacy of Le Huu Trac from an epistemological perspective: issues of interpreting the knowledge system in the current context

Bùi Tá Thạnh
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn,
Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh
Email: buitathanh96@gmail.com

(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết phân tích hệ thống tri thức y học của Lê Hữu Trác từ góc nhìn nhận thức luận, tập trung vào nguồn tri thức, mối quan hệ giữa y thư và kinh nghiệm hành nghề. Trên cơ sở phân tích Hải Thượng Lãn Ông y tông tâm lĩnh, cho thấy nhận định y học của ông được hình thành từ sự kết hợp giữa tri thức kinh điển, kinh nghiệm chữa bệnh và đánh giá cụ thể từng trường hợp. Quan điểm phê phán việc máy móc vận dụng phương thuốc cổ cho thấy tri thức có sẵn cần được vận dụng phù hợp với thực tiễn. Qua đó, góp phần làm rõ giá trị của tư tưởng y học Lê Hữu Trác trong bối cảnh lịch sử và gợi mở hướng tiếp cận di sản y học truyền thống trong đối thoại với khoa học hiện đại.

Từ khóa: Lê Hữu Trác; nhận thức luận; di sản y học; diễn giải; hệ thống tri thức; hiện nay.

Abstract: This article analyzes the medical knowledge system of Le Huu Trac from an epistemological perspective, focusing on the sources of knowledge and the relationship between medical texts and clinical practice. An analysis of  Hai Thuong Lan Ong Y Tông Tam Linh reveals that his medical insights were formed through a synthesis of classical knowledge, clinical experience, and the specific assessment of individual cases. His critique of the mechanical application of ancient remedies underscores the necessity of adapting existing knowledge to practical realities. Thus, the study clarifies the value of Le Huu Trac’s medical thought within its historical context and suggests ways to approach traditional medical heritage through a dialogue with modern science.

Keywords: Le Huu Trac; epistemology; medical heritage; interpretation; body of knowledge; contemporary context.

1. Đặt vấn đề

Việc nghiên cứu di sản y học Lê Hữu Trác hiện nay gắn với yêu cầu tiếp nhận và phát triển y học cổ truyền trong điều kiện mới. Nghị quyết số 72-NQ/TW ngày 09/9/2025 của Bộ Chính trị đặt ra nhiệm vụ “phát huy tiềm năng và thế mạnh của y học cổ truyền”; Thông báo số 68-TB/VPTW ngày 26/5/2026 của Văn phòng Trung ương Đảng nhấn mạnh việc “bảo tồn, phát huy và nâng tầm y học cổ truyền dân tộc”. Những định hướng này đặt ra một câu hỏi đối với nghiên cứu tư tưởng: hệ thống tri thức được hình thành trong một hoàn cảnh lịch sử khác cần được hiểu và diễn giải như thế nào trước khi bàn đến ý nghĩa của nó ở hiện tại.

Hải Thượng y tông tâm lĩnh cho thấy tri thức y học của Lê Hữu Trác không hình thành từ một nguồn đơn nhất. Ông thuật lại quá trình “Tìm kiếm sách của mọi nhà y”, đồng thời “tự đặt câu hỏi, rồi lại tự trả lời” (Lê Hữu Trác, 2019, tr.25). Từ hoạt động hành nghề, ông ghi lại những trường hợp chữa bệnh khó, “nhân đó chép thành nghiệm án” (Lê Hữu Trác, 2019, tr.1025). Sách vở, kinh nghiệm và sự suy xét cùng hiện diện trong trước tác, nhưng không giữ cùng một vai trò trong việc hình thành nhận định y học. Vì thế, chỉ xem xét kinh nghiệm hành nghề sẽ chưa đủ để nhận diện hệ thống tri thức mà tác giả trình bày.

Trần Văn Thụy nhận xét bộ sách thể hiện một “hệ thống y học nhất quán” (Trần Văn Thụy, 2001, tr.7). Từ hướng nghiên cứu văn bản, Đặng Văn Lộc lưu ý rằng trong bản dịch được ông khảo sát có “nhiều chữ đã làm khó hiểu cho người đọc hiện nay” (Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Hưng Yên, 2026, tr.238). Hai nhận định gợi ra những yêu cầu khác nhau nhưng có liên hệ: nhận diện quan hệ giữa các thành tố của tri thức và xác định nghĩa của văn bản được dùng để nghiên cứu. Trên cơ sở đó, bài viết đặt trọng tâm vào căn cứ hình thành và điều kiện diễn giải hệ thống tri thức y học của Lê Hữu Trác. Bằng cách phân tích những đoạn tiêu biểu trong Hải Thượng y tông tâm lĩnh, bài viết làm rõ cách tác giả tiếp nhận, tổ chức tri thức và các bình diện cần phân biệt khi đọc trước tác từ hiện tại. Qua đó, bài viết xác định cơ sở cho việc tiếp nhận di sản ở phương diện tư tưởng mà không đồng nhất ý nghĩa lịch sử của văn bản với kết luận khoa học hiện đại.

2. Cơ sở lý luận

Bài viết tiếp cận di sản y học Lê Hữu Trác từ phương diện nhận thức luận, tập trung xem xét nguồn gốc, cách tổ chức và căn cứ xác lập tri thức trong trước tác của ông. Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, “Nhận thức là quá trình tác động biện chứng giữa chủ thể và khách thể thông qua hoạt động thực tiễn của con người” (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2024, tr. 264). Quan điểm này định hướng việc khảo sát các nhận định y học của Lê Hữu Trác trong ngữ cảnh lịch sử, đồng thời chú ý đến căn cứ lập luận được thể hiện trong văn bản.

Hệ thống tri thức y học của Lê Hữu Trác được hiểu là mối liên hệ giữa tri thức tiếp nhận từ y thư, kinh nghiệm hành nghề và sự suy xét của người thầy thuốc trong quá trình hình thành nhận định về bệnh và cách chữa. Diễn giải là việc làm rõ nội dung và quan hệ giữa các thành tố trên cơ sở văn bản và ngữ cảnh lịch sử, đồng thời phân biệt điều tác giả trực tiếp trình bày với căn cứ lập luận có thể nhận diện và nhận định của người nghiên cứu hiện nay.

Việc diễn giải được tiến hành trên ba bình diện: ý nghĩa của nhận định trong ngữ cảnh y học đương thời; căn cứ lập luận có thể nhận diện trong văn bản; và những vấn đề nhận thức luận có thể tiếp tục nghiên cứu từ hiện tại.

Trong Hải Thượng Lãn Ông y tông tâm lĩnh, các nhận định về bệnh và cách chữa bệnh được hình thành trên cơ sở tri thức tiếp nhận từ y thư, kinh nghiệm hành nghề và sự suy xét của người thầy thuốc. Ba thành tố này giữ những vai trò khác nhau nhưng liên hệ với nhau trong quá trình nhận biết, giải thích và xử lý từng trường hợp bệnh. Việc phân biệt chúng giúp làm rõ nguồn tri thức và căn cứ hình thành nhận định y học trong trước tác của Lê Hữu Trác.

Thành tố thứ nhất là tri thức y học được tiếp nhận. Y thư cung cấp cho Lê Hữu Trác những thuật ngữ, quan niệm và nguyên tắc để nhận biết, giải thích bệnh tật. Ông khẳng định: “Những người học y, trước hết nên đọc Nội kinh” (Lê Hữu Trác, 2019, tr.74). Phát biểu này cho thấy vị trí nền tảng của y thư trong quá trình học nghề. Những quan niệm được tiếp nhận giúp người thầy thuốc gọi tên các biểu hiện bệnh, xác định mối liên hệ giữa chúng và lý giải tình trạng của người bệnh. Tri thức từ y thư vì thế cung cấp cơ sở lý luận cho việc hình thành nhận định y học, cách lựa chọn và vận dụng cơ sở ấy còn phụ thuộc vào sự suy xét trước từng trường hợp cụ thể.

Thành tố thứ hai là kinh nghiệm hành nghề. Qua việc trực tiếp chữa bệnh, người thầy thuốc tích lũy kinh nghiệm về biểu hiện bệnh, diễn biến trong quá trình chữa trị và kết quả của những quyết định đã thực hiện. Lê Hữu Trác cho biết ông đã trải qua “nhiều phen kinh nghiệm” và “chép thành nghiệm án” (Lê Hữu Trác, 2019, tr.1025). Kinh nghiệm đưa vào quá trình nhận thức những tình huống cụ thể mà người hành nghề phải giải thích và xử lý. Khi được ghi thành y án, kinh nghiệm ấy đã qua sự lựa chọn, sắp xếp và lý giải của tác giả. Bởi vậy, nghiên cứu thành tố này cần chú ý cả nội dung trường hợp được thuật lại lẫn cách Lê Hữu Trác trình bày nhận định của mình về trường hợp đó.

Thành tố thứ ba là sự suy xét, thể hiện ở việc tìm hiểu tri thức đã học, nhận định tình trạng người bệnh và cân nhắc cách vận dụng tri thức vào chữa trị. Lê Hữu Trác nhấn mạnh việc đọc sách phải “tìm hiểu cặn kẽ từng nét cho sáng tỏ rõ ràng” (Lê Hữu Trác, 2019, tr.29). Y thư cung cấp những quan niệm và nguyên tắc chung, còn kinh nghiệm gắn với các trường hợp đã trải qua. Để hình thành nhận định về trường hợp đang gặp, người thầy thuốc cần xem xét mức độ phù hợp của những tri thức và kinh nghiệm ấy với tình trạng cụ thể của người bệnh. Sự suy xét vì thế giữ vai trò kết nối điều đã học, điều đã trải qua và điều đang được nhận biết.

Tính hệ thống của tri thức y học Lê Hữu Trác thể hiện ở mối liên hệ giữa ba thành tố trên. Tri thức từ y thư cung cấp cơ sở lý luận; kinh nghiệm hành nghề bổ sung những nhận biết từ các trường hợp cụ thể; sự suy xét giúp người thầy thuốc liên kết và đánh giá chúng để hình thành phán đoán. Mối liên hệ này cho phép nhận diện cách tác giả tạo lập nhận định y học, đồng thời xác định vai trò của từng thành tố trong những nhận định được trình bày.

3. Quá trình tiếp nhận, vận dụng và tổ chức tri thức y học của Lê Hữu Trác

Trong trước tác Lê Hữu Trác, việc tổ chức tri thức thể hiện qua cách ông lựa chọn, sắp xếp nội dung từ y thư, suy xét khi vận dụng vào chữa bệnh và ghi chép kinh nghiệm hành nghề. Những hoạt động này cho thấy quá trình tri thức được tiếp nhận, sử dụng và trình bày để người sau học hỏi.

Trước hết, Lê Hữu Trác lựa chọn và sắp xếp nội dung y thư theo mục đích biên soạn. Khi nói về việc biên soạn Nội kinh yếu chỉ, ông cho biết mình đã “sửa dọn ý nghĩa trong Nội kinh lại và chia làm bảy mục”, nhằm làm cho “mạch sách tiếp nhau từng điều rành rõ” (Lê Hữu Trác, 2019, tr.74). Việc chia mục xác lập một trật tự trình bày, trong đó những nội dung được tiếp nhận được phân định và liên kết để thuận lợi cho việc học tập. Qua hoạt động này, Lê Hữu Trác thể hiện cách hiểu của mình về những nội dung cần lựa chọn và quan hệ giữa chúng. Tri thức từ y thư vì thế được tổ chức lại theo yêu cầu làm rõ y lý và truyền đạt cho người học.

Trong quá trình hành nghề, việc vận dụng tri thức gắn với sự suy xét trước từng trường hợp bệnh. Lê Hữu Trác yêu cầu người học “sáng hiểu ở mặt nhận xét” (Lê Hữu Trác, 2019, tr. 29). Đặt trong mối liên hệ với yêu cầu học và hành nghề, phát biểu này cho thấy việc đọc y thư hướng đến năng lực nhận định. Người thầy thuốc cần xác định những quan niệm, nguyên tắc nào có liên quan đến tình trạng đang gặp và lý giải vì sao có thể vận dụng chúng. Các biểu hiện cụ thể của người bệnh, theo đó, đặt ra yêu cầu lựa chọn và kết nối nội dung đã học để hình thành nhận định về bệnh và cách chữa. Đây là hoạt động đưa tri thức từ y thư vào một quan hệ xác định với thực tiễn hành nghề.

Sau cùng, việc ghi chép chuyển kinh nghiệm cá nhân thành tư liệu có thể truyền đạt và xem xét lại. Lê Hữu Trác thuật lại quá trình chữa bệnh từ người nhà đến người ngoài, tích lũy kinh nghiệm và xử lý những trường hợp đòi hỏi phải “ra ngoài khuôn pháp”, rồi ghi lại thành nghiệm án (Lê Hữu Trác, 2019, tr. 1025). Khi được trình bày thành y án, kinh nghiệm đã qua sự lựa chọn, sắp xếp và lý giải của tác giả. Người đọc tiếp cận trường hợp chữa bệnh thông qua những tình tiết được ghi lại và cách người viết giải thích quyết định của mình. Vì vậy, y án cung cấp tư liệu để khảo sát cách Lê Hữu Trác đúc kết và truyền đạt kinh nghiệm, đồng thời tạo điều kiện cho người sau xem xét căn cứ của những nhận định được trình bày.

Cách tổ chức tri thức của Lê Hữu Trác có thể được nhận diện qua ba hoạt động liên hệ với nhau: sắp xếp nội dung tiếp nhận từ y thư, lựa chọn và vận dụng tri thức trước từng trường hợp bệnh, ghi chép kinh nghiệm để truyền lại. Mối liên hệ này cho thấy tri thức trải qua sự xử lý của chủ thể trong cả học tập, hành nghề và biên soạn. Từ đó, việc nghiên cứu cần làm rõ tác giả đã dựa vào những căn cứ nào để kết nối tri thức được tiếp nhận với kinh nghiệm thực hành và hình thành nhận định y học.

4. Các bình diện diễn giải hệ thống tri thức y học của Lê Hữu Trác

Diễn giải hệ thống tri thức y học của Lê Hữu Trác đòi hỏi làm rõ ý nghĩa của các phát biểu, căn cứ hình thành nhận định và những vấn đề có thể tiếp tục nghiên cứu từ hiện tại. Ba bình diện này liên hệ với nhau, nhưng mỗi bình diện hướng đến một nội dung phân tích riêng. Lời phê bình của ông đối với người chữa bệnh chỉ nhìn “chứng ngọn”, không xem lại sách thuốc và “cứ dùng theo phương đó, không hề xét đoán kỹ càng” cung cấp tư liệu để làm rõ sự phân biệt ấy (Lê Hữu Trác, 2019, tr. 31).

Bình diện thứ nhất là ý nghĩa của phát biểu trong văn bản và hệ quy chiếu y học đương thời. Trong lời phê bình trên, “chứng ngọn” gắn với những biểu hiện bệnh mà người thầy thuốc dừng lại ở việc nhận biết, chưa xem xét đầy đủ căn nguyên và mối liên hệ của chúng; “phương cổ” chỉ những phương thuốc được lưu truyền từ trước; còn “xét đoán” là hoạt động cân nhắc trước khi lựa chọn cách chữa. Ý nghĩa của các thuật ngữ cần được xác định trong quan hệ với toàn bộ lời phê bình. Lê Hữu Trác đồng thời nhắc đến việc người chữa bệnh “không chịu lục tìm xem lại sách thuốc” (Lê Hữu Trác, 2019, tr. 31). Như vậy, ông đặt ra yêu cầu tìm hiểu y thư và suy xét khi vận dụng. Đối tượng bị phê bình là lối lựa chọn phương thuốc từ những biểu hiện bệnh được nhận biết mà chưa làm rõ sự phù hợp giữa phương thuốc và tình trạng người bệnh.

Việc xác định ý nghĩa của một thuật ngữ cần gắn với đúng văn bản và ấn bản được sử dụng. Khi đối chiếu bản Hán Nôm với bản dịch tiếng Việt năm 2005 ở phần Ma chẩn chuẩn thằng, Đặng Văn Lộc ghi nhận bản dịch dùng từ “hoả vương”, trong khi bản Hán Nôm ghi “hoả vượng” (Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Hưng Yên, 2026, tr. 243). Dẫn chứng này xác nhận có sự khác biệt về từ ngữ giữa hai văn bản được đối chiếu. Tuy nhiên, vì bài viết sử dụng ấn bản năm 2019, nhận xét trên chưa đủ để kết luận ấn bản này ghi “hoả vương” hay “hoả vượng”, hoặc có cùng sai khác với bản dịch năm 2005. Giá trị của dẫn chứng đối với bài viết nằm ở lưu ý phương pháp: khi cách hiểu một thuật ngữ ảnh hưởng đến lập luận, cần dựa vào đúng ấn bản khảo sát, đặt thuật ngữ trong ngữ cảnh và đối chiếu văn bản khi có căn cứ nghi ngờ về sai khác.

Bình diện thứ hai là căn cứ hình thành và xem xét lại phán đoán y học. Qua lời phê bình lối chữa bệnh thiếu xét đoán, có thể nhận diện ba hạn chế trong cách người thầy thuốc đi đến quyết định chữa trị: chỉ dựa vào những biểu hiện bệnh đã nhận biết; không tra cứu tri thức y học có liên quan; và lựa chọn phương thuốc có sẵn mà chưa cân nhắc sự phù hợp với tình trạng cụ thể của người bệnh (Lê Hữu Trác, 2019, tập 1, tr. 31). Lời phê bình ấy cho thấy việc lựa chọn cách chữa cần dựa trên mối liên hệ giữa dấu hiệu được nhận biết, tri thức đã tiếp nhận và tình trạng cụ thể của người bệnh. Vì vậy, nhận biết một biểu hiện bệnh hay biết đến một phương thuốc chưa đủ để xác lập căn cứ cho quyết định chữa trị; người thầy thuốc còn cần lý giải vì sao cách chữa ấy phù hợp với trường hợp đang xét.

Ở phương diện nhận thức luận, người thầy thuốc phải thiết lập mối liên hệ giữa điều quan sát được, tri thức đã tiếp nhận và quyết định chữa trị. Sự suy xét giữ vai trò đánh giá mối liên hệ ấy: nội dung nào trong y thư có liên quan, biểu hiện nào của người bệnh cần được chú ý và căn cứ nào cho phép lựa chọn cách chữa. Theo cách đọc này, tính hệ thống thể hiện ở yêu cầu kết nối các thành tố để hình thành phán đoán có căn cứ. Đây là kết quả phân tích quan hệ giữa các ý trong văn bản, không hàm ý Lê Hữu Trác đã trình bày một học thuyết nhận thức luận theo nghĩa hiện đại.

Việc xem xét phán đoán còn được mở rộng đến những quyết định đã thực hiện. Khi trình bày về Âm án, Lê Hữu Trác đề cập những trường hợp “khó nói ra”, với mong muốn người sau thấy rằng “những dở của tôi cũng đáng làm gương” (Lê Hữu Trác, 2019, tr. 1057). Đặt lời tự thuật này bên cạnh yêu cầu xét đoán trước khi dùng phương cho thấy ý nghĩa của việc nhìn lại kinh nghiệm hành nghề. Những kết quả không đạt mong muốn trở thành tư liệu để xem xét nhận định và quyết định trước đó. Việc ghi chép cũng tạo điều kiện cho người đọc tiếp cận những hạn chế mà tác giả tự nhận thấy, qua đó nghiên cứu cách ông đánh giá kinh nghiệm của mình.

Bình diện thứ ba là những vấn đề nhận thức luận có thể tiếp tục nghiên cứu từ hiện tại. Kết quả phân tích trên gợi ra câu hỏi về điều kiện để tri thức được truyền lại trở thành căn cứ cho một quyết định cụ thể. Người sử dụng cần lý giải mối liên hệ giữa tri thức ấy với tình huống đang gặp như thế nào? Kinh nghiệm cá nhân cần được ghi chép ra sao để người khác có thể nhận diện và xem xét căn cứ của phán đoán? Việc trình bày những trường hợp không đạt kết quả mong muốn có vai trò gì trong quá trình nhìn lại nhận định của người hành nghề? Những câu hỏi này xuất phát từ nội dung trước tác và mở ra hướng nghiên cứu về cách sử dụng tri thức, trình bày kinh nghiệm và trách nhiệm của chủ thể nhận thức.

Khả năng gợi mở những vấn đề ấy cần được phân biệt với việc xác nhận hiệu quả điều trị. Lời phê bình cách dùng “phương cổ” và những ghi chép trong Âm án cung cấp căn cứ để phân tích yêu cầu xét đoán, tự xem xét và truyền đạt kinh nghiệm. Kết luận về tác dụng của một phép chữa hay phương thuốc đòi hỏi chứng cứ của nghiên cứu y học tương ứng. Giá trị của việc diễn giải ở đây nằm ở khả năng làm rõ một vấn đề tư tưởng trong lịch sử và xác định những câu hỏi có thể tiếp tục khảo sát.

Ba bình diện diễn giải, theo đó, tạo thành mối liên hệ giữa việc xác định ý nghĩa lịch sử của phát biểu, phân tích căn cứ của phán đoán và đặt ra câu hỏi nghiên cứu từ hiện tại. Trọng tâm là làm rõ quan hệ giữa tri thức được tiếp nhận, tình trạng người bệnh được nhận biết và hoạt động xét đoán của người hành nghề. Cách tiếp cận này giúp xác định đóng góp tư tưởng của Lê Hữu Trác trên cơ sở văn bản, đồng thời chỉ rõ phạm vi của những kết luận mà tư liệu cho phép rút ra.

5. Điều kiện tiếp nhận di sản y học Lê Hữu Trác trong đối thoại với khoa học hiện đại

Thứ nhất, cần xác định đối tượng tiếp nhận. Từ phê bình của Lê Hữu Trác đối với việc dùng phương thuốc có sẵn mà thiếu xét đoán, bài viết nhận diện một vấn đề nhận thức luận: người thầy thuốc cần lý giải mối liên hệ giữa tri thức đã tiếp nhận và tình trạng cụ thể của người bệnh trước khi lựa chọn cách chữa. Đối tượng có thể tiếp tục khảo sát ở đây là cách chủ thể vận dụng tri thức vào một tình huống cụ thể. Việc nhận diện vấn đề này không đồng nghĩa với việc xem cách giải thích bệnh tật hay phương thuốc trong trước tác là tri thức y học hiện hành.

Thứ hai, cần chuyển vấn đề lịch sử thành câu hỏi nghiên cứu cụ thể. Từ những đoạn bàn về việc đọc sách và xét đoán khi hành nghề, có thể đặt câu hỏi: người thầy thuốc liên hệ thông tin quan sát được với tri thức đã tiếp nhận như thế nào? Từ những ghi chép về trường hợp chữa bệnh, có thể hỏi: cần trình bày những căn cứ nào để người đọc hiểu được nhận định và giới hạn của kinh nghiệm được thuật lại? Các câu hỏi này gắn với văn bản, đồng thời mở hướng nghiên cứu về lịch sử tri thức, lập luận và cách ghi chép kinh nghiệm.

Thứ ba, chứng cứ cần phù hợp với loại kết luận. Lê Hữu Trác viết: “Tôi vẫn không dám đem ý kiến của mình mà khoe mẫu mực với ai” (Lê Hữu Trác, 2019, tr.1025). Lời tự thuật này có thể được dùng để phân tích cách ông nhìn nhận ý kiến cá nhân và việc truyền lại kinh nghiệm. Nếu nghiên cứu tác dụng của một phương pháp điều trị, văn bản và y án có thể giúp xác định vấn đề cần khảo sát, nhưng kết luận về tác dụng phải dựa trên chứng cứ và phương pháp nghiên cứu y học phù hợp.

Như vậy, đối thoại với khoa học hiện đại cần bắt đầu từ việc xác định vấn đề trong văn bản, rồi lựa chọn phương pháp và chứng cứ phù hợp để khảo sát câu hỏi được đặt ra. Cách tiếp cận này giúp làm rõ những vấn đề tư tưởng mà di sản Lê Hữu Trác gợi mở, đồng thời xác định giới hạn của các kết luận có thể rút ra từ trước tác.

6. Kết luận

Tiếp cận từ nhận thức luận cho thấy, tri thức y học trong trước tác Lê Hữu Trác được hình thành và trình bày qua mối liên hệ giữa tri thức tiếp nhận từ y thư, kinh nghiệm hành nghề và sự suy xét của người thầy thuốc. Việc đọc sách, xem xét tình trạng cụ thể của người bệnh và ghi chép kinh nghiệm góp phần tạo nên quá trình tiếp nhận, vận dụng và truyền đạt tri thức ấy.

Phân tích lời phê bình việc dùng “phương cổ” thiếu xét đoán cho thấy tri thức đã tiếp nhận và những biểu hiện bệnh được nhận biết cần được xem xét trong mối liên hệ với từng trường hợp cụ thể trước khi trở thành căn cứ cho quyết định chữa trị. Việc diễn giải phát biểu này đòi hỏi làm rõ ý nghĩa lịch sử, căn cứ của nhận định và những vấn đề có thể tiếp tục nghiên cứu từ hiện tại. Giá trị đương đại của di sản nằm ở khả năng gợi mở nghiên cứu về cách vận dụng tri thức và trình bày kinh nghiệm; góp phần làm rõ tư tưởng y học của Lê Hữu Trác, đồng thời giữ ranh giới giữa diễn giải di sản lịch sử và xác nhận hiệu quả điều trị theo khoa học hiện đại.

Tài liệu tham khảo:
Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 72-NQ/TW ngày 09/9/2025 về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân.
Bộ Giáo dục và Đào tạo (2024). Giáo trình Triết học Mác – Lênin: Dành cho bậc đại học hệ không chuyên lý luận chính trị. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Lê Hữu Trác (2019). Hải Thượng Lãn Ông y tông tâm lĩnh (Tập 1). Nxb Y học.
Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Hưng Yên (2026). Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác: Danh nhân văn hóa và giá trị di sản. Nxb Thông tấn.
Trần Văn Thụy (2001). Đại danh y Lãn Ông và cơ sở tư tưởng của nghề làm thuốc, chữa bệnh. Nxb Y học.
Văn phòng Trung ương Đảng (2026). Thông báo số 68-TB/VPTW ngày 26/5/2026 kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước tại buổi làm việc với Đảng ủy Bộ Y tế về phát triển ngành y học cổ truyền Việt Nam.