Kinh nghiệm quốc tế về chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài và giá trị tham khảo cho Việt Nam

International experience in policies for attracting and effectively utilizing talent: lessons for Vietnam

TS. Vũ Ngọc Thanh
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Email: vungocthanh@hcma.vn

(Quanlynhanuoc.vn) – Trong kỷ nguyên số, năng lực thu hút, giữ chân và phát huy nhân tài trở thành trục cạnh tranh trung tâm giữa các quốc gia; thể chế nhập cư, thuế và tài trợ khoa học trở thành công cụ của chính sách công nghiệp. Khảo cứu kinh nghiệm của Liên minh châu Âu, Singapore, Hàn Quốc và Nhật Bản, bài viết rút ra bốn đặc điểm thể chế có tính quyết định: thiết chế điều phối ở cấp quyền lực cao, quyền cư trú dài hạn, tài trợ khoa học đến thẳng nhà nghiên cứu và an sinh gia đình được bảo đảm như một quyền. Soi chiếu vào văn kiện của Đảng và pháp luật hiện hành, cho thấy có sáu điểm nghẽn thể chế làm suy giảm hiệu lực chính sách thu hút nhân tài quốc tế của Việt Nam; từ đó đề xuất chuyển từ ưu đãi thủ tục sang quyền cư trú dài hạn, từ ưu đãi theo hoạt động sang ưu đãi theo con người, góp phần hiện thực hóa mục tiêu trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.

Từ khóa: Nhân tài; thu hút nhân tài; trọng dụng nhân tài; thể chế; kinh nghiệm quốc tế.

Abstract: In the digital era, the capacity to attract, retain and make full use of talent has become a central axis of competition among nations; immigration, tax and science-funding institutions have become instruments of industrial policy. Examining the experience of the European Union, Singapore, the Republic of Korea and Japan, the article identifies four decisive institutional features: a coordinating body placed at a high level of authority, long-term residency rights, science funding that goes directly to researchers, and family welfare guaranteed as a right. Set against the Party’s documents and current legislation, the article identifies six institutional bottlenecks that weaken the effectiveness of Vietnam’s policy for attracting international talent; on that basis, it proposes shifting from procedural incentives to long-term residency rights and from activity-based to person-based incentives, thereby contributing to Vietnam’s goal of becoming a developed, high-income country by 2045.

Keywords: Talent; talent attraction; talent utilization; institutions; international experience.

1. Đặt vấn đề

Trong cuộc chạy đua làm chủ công nghệ lõi, các cường quốc vừa dựng hàng rào bảo hộ đối với dòng chảy công nghệ, vừa mở rộng cửa nhập cư đối với dòng chảy chất xám, khiến thể chế nhập cư trở thành một cấu phần của chính sách công nghiệp. Dịch chuyển nhân lực trình độ cao cũng chuyển từ “chảy máu chất xám” sang “tuần hoàn chất xám”. Việc Singapore lần đầu dẫn đầu Chỉ số cạnh tranh nhân tài toàn cầu năm 2025 (INSEAD & Portulans Institute, 2025) cho thấy Việt Nam vẫn có dư địa cạnh tranh nếu nhận diện đúng những cấu phần thể chế có tính quyết định.

Ở trong nước, chủ trương của Đảng đã nhất quán: Nghị quyết số 45-NQ/TW coi xây dựng đội ngũ trí thức là “đầu tư cho xây dựng, bồi đắp nguyên khí quốc gia” (Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 2023); Nghị quyết số 57-NQ/TW khẳng định thể chế là “điều kiện tiên quyết, cần hoàn thiện và đi trước một bước” (Bộ Chính trị, 2024); Nghị quyết số 71-NQ/TW yêu cầu có chương trình thu hút giảng viên xuất sắc từ nước ngoài (Bộ Chính trị, 2025); Nghị quyết số 23-NQ/TW xác định người Việt Nam ở nước ngoài là “một trong những nguồn lực chiến lược quan trọng” (Bộ Chính trị, 2026).

Nhiệm vụ còn lại thuộc về khâu thể chế hóa. Bài viết trả lời ba câu hỏi: (1) những cấu phần thể chế nào đã được thực tiễn quốc tế kiểm chứng là có tính quyết định đối với thu hút nhân tài; (2) thể chế hiện hành của Việt Nam còn những khoảng trống nào; (3) cần hoàn thiện theo hướng nào để hiện thực hóa mục tiêu trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.

2. Cách tiếp cận và khung phân tích

Nghiên cứu vấn đề này đòi hỏi một khung phân tích vượt ra ngoài cách tiếp cận truyền thống coi nhập cư thuần túy là vấn đề quản lý trật tự xã hội bằng lựa chọn coi năng lực thu hút nhân tài là một cấu phần của năng lực cạnh tranh quốc gia, trong đó quyết định lựa chọn điểm đến của nhân tài quốc tế là kết quả của bài toán tổng thể với bốn cấu phần: môi trường thể chế và mức độ tự chủ học thuật – nghề nghiệp; cơ hội nghề nghiệp và hạ tầng nghiên cứu, đổi mới sáng tạo; thu nhập thực nhận sau thuế; và điều kiện an sinh cho gia đình.

Hàm ý chính sách rút ra từ khung phân tích này là nước nào tối ưu hóa được đồng thời cả bốn cấu phần thì dễ thắng lợi hơn trong cuộc cạnh tranh nhân tài toàn cầu, không phụ thuộc quy mô nền kinh tế – cơ sở lý luận quan trọng cho một nước đang phát triển như Việt Nam.

Trên cơ sở khung phân tích đó, lựa chọn khảo cứu kinh nghiệm của Liên minh châu Âu, Singapore, Hàn Quốc và Nhật Bản vì ba lý do. Một là, đây là các trường hợp đứng đầu hoặc thuộc nhóm dẫn đầu các bảng xếp hạng cạnh tranh nhân tài toàn cầu, đồng thời có quan hệ hợp tác khoa học, công nghệ chặt chẽ với Việt Nam. Hai là, mỗi trường hợp đại diện cho một mô hình thể chế khác biệt, cho phép đối chiếu đa chiều: Liên minh châu Âu là mô hình liên minh siêu quốc gia hài hòa hóa bằng đạo luật chung; Singapore và Hàn Quốc là mô hình nhà nước kiến tạo phát triển với thiết chế điều phối tập trung ở cấp quyền lực cao nhất; Nhật Bản là mô hình chuyển giao tri thức có chủ đích trong lịch sử công nghiệp hóa, kết hợp tự chủ triệt để cho nhà khoa học. Ba là, cả bốn trường hợp đều vừa trải qua điều chỉnh chính sách trong giai đoạn 2021 – 2026, cung cấp dữ liệu thể chế cập nhật, phù hợp với yêu cầu tham chiếu chính sách đương đại.

Từ khảo cứu kinh nghiệm quốc tế ấy, soi chiếu vào thể chế hiện hành của Việt Nam, bằng phương pháp phân tích khoảng cách thể chế theo chuỗi lô-gíc: quy định hiện hành – biểu hiện vướng mắc – nguyên nhân thể chế – hệ quả, trên cơ sở rà soát trực tiếp khung thể chế hiện hành. Cách tiếp cận này cho phép mỗi nhận định đưa ra đều truy nguyên được đến điều khoản pháp luật cụ thể, tránh khuyến nghị chung chung, thiếu cơ sở thực chứng – yêu cầu cơ bản của một nghiên cứu chính sách có tính ứng dụng. Nguồn tư liệu tham khảo, vì vậy, giới hạn trong hệ thống văn kiện của Đảng, văn bản quy phạm pháp luật hiện hành của Việt Nam và các tài liệu chính thức của tổ chức, cơ quan quản lý nước ngoài liên quan trực tiếp đến bốn trường hợp khảo cứu.

3. Kinh nghiệm quốc tế về thu hút, trọng dụng nhân tài

3.1. Liên minh châu Âu: Hài hòa hóa bằng một đạo luật chung, gắn quyền cư trú với tài trợ khoa học xuất sắc

Liên minh châu Âu (EU) dùng một đạo luật chung để khắc phục sự phân mảnh giữa các quốc gia thành viên và gắn quyền cư trú với hệ thống tài trợ nghiên cứu quy mô lục địa. Bài học đầu tiên đến từ thất bại của Thẻ Xanh phiên bản năm 2009: chỉ đặt ra “tiêu chuẩn tối thiểu”, để ngỏ quá nhiều khoảng trống cho các nước tự diễn giải. Hài hòa hóa thể chế đòi hỏi ràng buộc pháp lý cao hơn nhiều so với khuyến nghị chung.

Chỉ thị (EU) 2021/1883, áp dụng tại 25 quốc gia thành viên, cải cách theo bốn hướng: (1) hạ ngưỡng lương xuống khoảng 1,0 – 1,6 lần mức lương gộp trung bình năm của nước sở tại; (2) rút thời hạn hợp đồng lao động tối thiểu xuống 6 tháng; (3) công nhận kinh nghiệm nghề nghiệp tương đương bằng đại học trong lĩnh vực công nghệ thông tin; (4) bảo đảm quyền đoàn tụ gia đình, quyền tiếp cận thị trường lao động không điều kiện của thân nhân và quyền chuyển sang quốc gia thành viên khác sau 12 tháng cư trú (European Parliament & Council of the European Union, 2021). Chỉ thị (EU) 2016/801 bổ sung quyền ở lại 9 – 18 tháng sau tốt nghiệp để tìm việc, khởi nghiệp (European Parliament & Council of the European Union, 2016).

Về nguồn lực, Chương trình Horizon Europe giai đoạn 2021 – 2027 với ngân sách 95,5 tỷ EURO, thông qua Hội đồng Nghiên cứu châu Âu và Các hành động Marie Skłodowska-Curie, tài trợ trực tiếp cho cá nhân nhà khoa học với quyền tự chủ rất cao (European Commission, 2021). Tuy vậy, khảo sát năm 2024 với hơn 1.200 nhà nghiên cứu cho thấy 38,3% nhà nghiên cứu ngoài EU gặp khó khăn nghiêm trọng về thủ tục nhập cư, gần gấp đôi tỷ lệ 21,8% của công dân nội khối (Defaye và cộng sự, 2025). Khung pháp lý ưu việt trên văn bản bị giảm hiệu lực nếu thực thi hành chính không tinh gọn – bài học có giá trị tham chiếu trực tiếp đối với Việt Nam.

3.2. Singapore: Thiết chế điều phối ở cấp quyền lực cao nhất, chiến lược “nam châm” và thị thực cá nhân hóa

Singapore đặt thiết chế điều phối khoa học ở cấp quyền lực cao nhất và biến đô thị khoa học thành công cụ thu hút nhân tài. Sau khi khảo cứu mô hình các quốc gia nhỏ có năng lực công nghệ cốt lõi, như: Thụy Điển, Phần Lan, Đan Mạch, Thụy Sĩ năm 2006, Singapore thành lập Hội đồng Nghiên cứu, Đổi mới và Doanh nghiệp do Thủ tướng chủ trì, cùng Quỹ Nghiên cứu quốc gia trực thuộc Văn phòng Thủ tướng với ngân sách 5 tỷ đô-la Singapore cho 5 năm đầu tiên (Koh & Phan, 2010), qua đó bảo đảm chỉ đạo chiến lược nhất quán, khắc phục phân tán giữa các bộ, ngành.

Trên nền đó, Cơ quan Khoa học, Công nghệ và Nghiên cứu (A*STAR) triển khai chiến lược “nam châm”: chủ động mời các nhà khoa học hàng đầu thế giới bằng gói hỗ trợ lớn về chi phí di dời, phòng thí nghiệm, nhà ở và giáo dục quốc tế cho con; khi hội tụ, họ kéo theo nghiên cứu sinh, kỹ sư trẻ, hình thành nhanh hệ sinh thái đạt chuẩn toàn cầu (Agency for Science, Technology and Research, 2025). Về hạ tầng, đô thị khoa học One-North (Biopolis, Fusionopolis) bố trí phòng thí nghiệm của viện công lập đan xen với phòng thí nghiệm của tập đoàn đa quốc gia, dùng chung dịch vụ kỹ thuật đắt tiền; nhà ở, nhà trẻ nằm ngay trong khuôn viên. Cam kết này được thể chế hóa thông qua các Kế hoạch Nghiên cứu, Đổi mới và Doanh nghiệp chu kỳ 5 năm, với ngân sách khoảng 1% tổng sản phẩm quốc nội.

Về thị thực, thẻ ONE Pass yêu cầu mức lương cố định từ 30.000 đô la Singapore/tháng hoặc thành tựu xuất sắc; có thời hạn 5 năm, mỗi lần gia hạn 5 năm; cho phép làm việc đồng thời cho nhiều tổ chức và khởi nghiệp; vợ hoặc chồng được làm việc thông qua Thư đồng ý (Ministry of Manpower, 2026). Điều kiện gia hạn là duy trì mức lương bình quân trong 5 năm hoặc thành lập doanh nghiệp tại Singapore sử dụng ít nhất 5 lao động bản địa. Quyền cư trú gắn với đóng góp thực tế cho nền kinh tế, thay vì chỉ xét các điều kiện tại thời điểm cấp thị thực.

3.3. Hàn Quốc: Đạo luật riêng cho tổ chức tiên phong, tài trợ quy mô lớn và thị thực thượng hạng

Hàn Quốc dùng quyền lực chính trị cao nhất để tạo ngoại lệ thể chế cho tổ chức khoa học tiên phong. Bước ngoặt là sự ra đời của Viện Khoa học và Công nghệ Hàn Quốc năm 1966 và Viện Khoa học và Công nghệ tiên tiến Hàn Quốc năm 1971, với ba nguyên tắc: (1) có đạo luật đặc biệt riêng, cho phép kế toán độc lập, không theo thủ tục thanh quyết toán hành chính chung; (2) trả lương cho nhà nghiên cứu cao gấp ba lần mức cao nhất của giáo sư đại học trong nước, kèm nhà ở, bảo hiểm y tế và hỗ trợ giáo dục cho con; (3) hậu thuẫn chính trị tuyệt đối – trong ba năm đầu, nguyên thủ quốc gia đến làm việc mỗi tháng một lần, bảo vệ Viện trước sự can thiệp hành chính (Bùi Tất Thắng, 2016). Nhờ đó, tỷ lệ hồi hương của các nhà khoa học Hàn kiều tăng từ chưa đầy 20% trong thập niên 60 lên trên 66% trong thập niên 80 của thế kỷ XX.

Hiện nay, Hàn Quốc vận hành chương trình “Brain to Korea” với ngân sách tăng từ 38,8 tỷ Won năm 2025 lên 54,6 tỷ Won năm 2026, đặt mục tiêu thu hút 2.000 chuyên gia xuất sắc từ nước ngoài vào năm 2030 (Ministry of Science and ICT, 2026). Đáng tham khảo nhất là thiết kế hai tầng: Brain Pool tài trợ trực tiếp cho cá nhân nhà nghiên cứu tới 350 triệu uôn mỗi năm, tập trung vào 12 lĩnh vực công nghệ chiến lược quốc gia; Brain Pool Plus khoán cho tổ chức tới 3 tỷ WON mỗi năm trong tối đa 5 năm, trao cho đại học, viện nghiên cứu toàn quyền trả lương, lập phòng thí nghiệm, mời học giả danh tiếng.

Về nhập cư, từ tháng 6/2026, Hàn Quốc mở rộng “Thị thực Top-Tier” sang giới học thuật với các tiêu chí như đoạt giải Nô-ben, giải Fields, thuộc danh sách nhà nghiên cứu được trích dẫn cao, hoặc có tối thiểu 5 năm làm chủ nhiệm đề tài tại một trong 100 viện nghiên cứu hàng đầu thế giới; ứng viên chưa đủ tiêu chí nhưng có tiềm năng cao vẫn được hội đồng liên bộ xem xét. Chuyên gia và gia đình được cấp ngay quy chế cư trú, làm việc không hạn chế; thời gian xin thường trú rút từ 5 năm xuống 3 năm (Ministry of Justice & Ministry of Science and ICT, 2026).

3.4. Nhật Bản: “Mua thời gian bằng tri thức”, chuyển giao bắt buộc và quyền tự chủ cao nhất cho nhà khoa học

Nhật Bản chấp nhận trả giá cao nhất để hấp thụ tri thức nhân loại, rồi thiết lập cấu trúc tự chủ để tri thức đó bám rễ trong nước. Thời Minh Trị, chế độ “Oyatoi Gaikokujin” mời khoảng 3.000 chuyên gia từ Anh, Mỹ, Pháp, Đức, Hà Lan; riêng Chính phủ thuê khoảng 520 người vào đỉnh điểm 1874 – 1875; khoảng 10 người hưởng lương tháng cao hơn mức 800 yên của Thái chính đại thần – người đứng đầu chính quyền (Umetani, n.d.). Quan trọng hơn là cơ chế chuyển giao tri thức bắt buộc: mỗi chuyên gia phải trực tiếp đào tạo một thế hệ kỹ sư, học giả người Nhật; khi lớp trí thức nội địa đủ sức tiếp quản, các hợp đồng thu hẹp dần và chế độ này kết thúc năm 1899. Tư duy “dùng tiền mua thời gian” giúp Nhật Bản rút ngắn tiến trình công nghiệp hóa xuống còn vài thập niên.

Bài học thứ hai đến từ cải cách quản trị năm 1922 tại Viện Nghiên cứu Lý – Hóa Nhật Bản: bãi bỏ sự can thiệp của bộ phận hành chính, thiết lập hệ thống phòng thí nghiệm độc lập, mỗi phòng do một “Nhà khoa học trưởng” toàn quyền phân bổ ngân sách, quyết định hướng nghiên cứu và tuyển dụng nhân sự, biến Viện thành nơi mà nhà vật lý đoạt giải Nô-ben Tô-mô-na-ga Xin-i-chi-rô gọi là “thiên đường cho các nhà khoa học”. Viện còn lập 63 công ty con để thương mại hóa phát minh, lấy lợi nhuận tài trợ ngược cho nghiên cứu cơ bản rủi ro cao (RIKEN, 2025).

Từ tháng 4/2023, Nhật Bản áp dụng hai chế độ mới: J-Skip cho chuyên gia đạt ngưỡng thu nhập và kinh nghiệm vượt trội, không qua hệ thống tính điểm, được xét thường trú sau 1 năm, cha mẹ được sang cùng; J-Find cho phép người tốt nghiệp các đại học hàng đầu thế giới lưu trú tới 2 năm để tìm việc, khởi nghiệp tại Nhật Bản (Immigration Services Agency of Japan, 2023).

Vượt lên trên khác biệt về quy mô và trình độ phát triển, bốn trường hợp hội tụ ở bốn đặc điểm thể chế: (1) thiết chế điều phối đặt ở cấp quyền lực đủ cao để vượt qua phân mảnh giữa các bộ, ngành; (2) quyền cư trú dài hạn, ổn định, tách khỏi ràng buộc hành chính ngắn hạn; (3) tài trợ khoa học đi thẳng đến cá nhân nhà nghiên cứu, chấp nhận rủi ro; (4) an sinh gia đình được nâng thành quyền, không dừng ở mức hỗ trợ. Đây là bốn tiêu chí để đối chiếu với thể chế hiện hành của Việt Nam tại mục 3 (Bảng 1).

Bảng 1. So sánh khung thể chế thu hút, sử dụng nhân tài quốc tế giữa Việt Nam và một số nền kinh tế

Tiêu chí thể chếViệt Nam (hiện hành)SingaporeHàn QuốcNhật BảnEU
Thời hạn cư trú mỗi lần90 ngày/lần (thẻ 05 năm)5 năm, gia hạn 5 nămCư trú F-2 ổn định5 nămThẻ xanh dài hạn
Lộ trình thường trúChưa có; chỉ giảm điều kiện nhập quốc tịchCóRút còn 03 nămXét sau 01 nămTheo quy định chung
Ràng buộc chủ sử dụng lao độngChặt, một pháp nhânKhông ràng buộcTự do chuyển việcRất linh hoạtĐơn giản hóa
Quyền làm việc của vợ hoặc chồngHỗ trợ giới thiệu; vẫn phải xin GPLĐTự động qua Thư đồng ýLàm việc tự doMở rộng ngành nghềKhông điều kiện
Ưu đãi thuế thu nhập cá nhânMiễn 5 năm theo hoạt động, phụ thuộc danh mụcThuế suất thấp, ổn địnhƯu đãi chuyên gia nước ngoàiƯu đãi chuyên gia cao cấpChế độ thuế đặc biệt
Nguồn: Tổng hợp từ Chính phủ (2025b, 2025c), Quốc hội (2025b), European Parliament & Council of the European Union (2021), Immigration Services Agency of Japan (2023), Ministry of Justice & Ministry of Science and ICT (2026), Ministry of Manpower (2026) và Ministry of Science and ICT (2026).

4. Những vấn đề đặt ra đối với chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài ở Việt Nam

Chính sách thu hút nhân tài quốc tế của Việt Nam hiện được thiết kế theo từng lĩnh vực quản lý riêng biệt, chưa hợp thành một chỉnh thể liên thông nhất quán. Đối chiếu với bốn tiêu chí tại mục 3, có thể nhận diện sáu điểm nghẽn thể chế cốt lõi.

Thứ nhất, thẻ có thời hạn 5 năm nhưng quyền cư trú mỗi lần chỉ 90 ngày. Theo Nghị định số 221/2025/NĐ-CP, thẻ miễn thị thực đặc biệt có thời hạn tới 5 năm (khoản 4 Điều 4), song chứng nhận tạm trú chỉ 90 ngày cho mỗi lần nhập cảnh (Chính phủ, 2025b, khoản 1 Điều 6). Nhà khoa học vì vậy phải làm thủ tục cư trú ít nhất 4 lần mỗi năm; thẻ không thay giấy phép lao động – vẫn theo thủ tục chung tại Nghị định số 219/2025/NĐ-CP (Chính phủ, 2025a) – và không mở lộ trình thường trú. Chính sách còn theo lô-gíc “ưu đãi thủ tục nhập cảnh”, chưa chuyển sang “quyền cư trú dài hạn” như cả bốn trường hợp khảo cứu.

Thứ hai, tiêu chí tuyển chọn hẹp và cơ chế “xin – cho” làm lệch mục tiêu chính sách. Phụ lục I Nghị định số 221/2025/NĐ-CP yêu cầu chuyên gia, nhà nghiên cứu lĩnh vực STEM, kinh tế, quản lý có trình độ tiến sĩ trở lên và có quốc tịch thuộc các nước Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD); ứng viên không được tự nộp hồ sơ mà phải do cơ quan, tổ chức đề nghị (Chính phủ, 2025b). Tiêu chí quốc tịch loại trừ phần lớn kỹ sư vi mạch, chuyên gia trí tuệ nhân tạo giàu kinh nghiệm từ Đài Loan (Trung Quốc), Ấn Độ – nguồn nhân lực cần nhất cho mục tiêu 50.000 nhân lực bán dẫn trình độ đại học trở lên đến năm 2030 (Thủ tướng Chính phủ, 2024). Trong khi đó, EU công nhận kinh nghiệm nghề nghiệp tương đương bằng đại học (European Parliament & Council of the European Union, 2021): bộ lọc bằng cấp, quốc tịch đã lạc hậu so với bộ lọc năng lực thực chứng.

Thứ ba, ưu đãi thuế đã được luật định nhưng chưa vận hành và tồn tại “vách đá thuế” ở năm thứ sáu. Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 miễn thuế tiền lương từ nhiệm vụ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo (Điều 4) và miễn thuế 5 năm cho nhân lực công nghệ cao nghiên cứu, phát triển công nghệ chiến lược (Quốc hội, 2025b, Điều 5). Song diện miễn thuế phụ thuộc các danh mục, tiêu chí theo Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo và pháp luật chuyên ngành, đến nay chưa ban hành đồng bộ (Quốc hội, 2025a). Hết 5 năm, thu nhập lập tức chịu thuế suất lũy tiến tới 35%, đúng lúc chuyên gia tạo ra giá trị lan tỏa lớn nhất – khác hẳn thuế suất thấp, ổn định của Xin-ga-po.

Thứ tư, đãi ngộ gắn với nhiệm vụ, dự án, chưa gắn với con người; quyền của gia đình mới dừng ở mức “hỗ trợ”. Nghị định số 249/2025/NĐ-CP cho phép lương thỏa thuận theo thị trường, hỗ trợ nhà ở, học phí cho con dưới 18 tuổi (Chính phủ, 2025c), nhưng nguồn chi nằm trong kinh phí nhiệm vụ, dự án; không có dự án được duyệt thì không thể tuyển chuyên gia dài hạn. Vợ hoặc chồng chuyên gia vẫn phải xin giấy phép lao động độc lập, chưa có quyền làm việc theo quy định như Thư đồng ý của Singapore.

Thứ năm, nguyên tắc chấp nhận rủi ro khoa học mới dừng ở tầm nghị định của một quỹ. Nghị định số 229/2026/NĐ-CP lần đầu xác lập nguyên tắc “chấp nhận rủi ro khoa học, rủi ro công nghệ trong phạm vi có kiểm soát” (Chính phủ, 2026), nhưng chỉ có hiệu lực trong phạm vi hoạt động của Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia. Trách nhiệm của người ra quyết định vẫn do pháp luật về ngân sách, đấu thầu, thanh tra, kiểm toán điều chỉnh (Chính phủ, 2025d); nghị định không thể vô hiệu hóa nghĩa vụ phát sinh từ luật, nên tâm lý sợ trách nhiệm tiếp tục chi phối.

Thứ sáu, chính sách phân mảnh theo nhiều đầu mối; một số yêu cầu của Nghị quyết số 57-NQ/TW chưa được thể chế hóa. Sở hữu nhà, đất của người tài quốc tế chưa có cơ chế đặc biệt (Bộ Chính trị, 2024); chương trình thu hút giảng viên xuất sắc từ nước ngoài theo Nghị quyết số 71-NQ/TW chưa được ban hành (Bộ Chính trị, 2025). Mỗi cấu phần do một đạo luật và một bộ, ngành chủ trì, chưa có đầu mối chịu trách nhiệm trọn gói về kết quả – trái với mô hình điều phối ở cấp cao nhất của Xin-ga-po và Hàn Quốc.

Nhìn tổng thể, chủ trương đã đúng, lập pháp đã có bước tiến quan trọng, nhưng thể chế còn phân tán theo lĩnh vực quản lý, ưu đãi theo hoạt động thay vì theo con người, quyền của gia đình mới ở mức hỗ trợ, nguyên tắc chấp nhận rủi ro chưa đủ hiệu lực pháp lý. Khoảng cách này (Bảng 1) là cơ sở cho các định hướng hoàn thiện chính sách của Việt Nam.

5. Kinh nghiệm và định hướng hoàn thiện chính sách cho Việt Nam đến năm 2045

Đối chiếu sáu điểm nghẽn tại mục 4 với bốn đặc điểm thể chế chung rút ra từ kinh nghiệm quốc tế tại mục 3, có thể đề xuất 6 bài học để định hướng cho việc hoàn thiện chính sách có tính khả thi cao.

Một là, nâng thiết chế điều phối lên cấp quyền lực cao nhất để khắc phục tình trạng phân mảnh đầu mối. Xinh-ga-po đặt Hội đồng Nghiên cứu, Đổi mới và Doanh nghiệp do Thủ tướng chủ trì; Hàn Quốc dùng hậu thuẫn của nguyên thủ quốc gia làm tấm khiên cho tổ chức khoa học tiên phong. Ở Việt Nam, mỗi cấu phần của chính sách nhân tài do một đạo luật và một bộ chủ trì khác nhau mà chưa có đầu mối nào chịu trách nhiệm trọn gói về kết quả. Nghị quyết số 23-NQ/TW đã xác lập nguyên tắc một cơ quan đầu mối đối với công tác người Việt Nam ở nước ngoài (Bộ Chính trị, 2026); cần mở rộng thành một thiết chế điều phối thống nhất cho toàn bộ chính sách thu hút nhân tài, đủ thẩm quyền điều phối ngân sách và ban hành quy chế trả lương vượt khung – định hướng phù hợp để Bộ Chính trị xem xét, quyết định về mặt chủ trương.

Hai là, chuyển dứt khoát từ tư duy “ưu đãi thủ tục nhập cảnh” sang “xác lập quyền cư trú dài hạn”. Cả bốn trường hợp khảo cứu đều cấp quyền cư trú ổn định nhiều năm kèm lộ trình thường trú rõ ràng. Trong khi đó, Nghị định số 221/2025/NĐ-CP tuy lần đầu thiết lập thẻ miễn thị thực đặc biệt thời hạn tới 5 năm cho nhà khoa học, tổng công trình sư và nhân lực công nghiệp công nghệ số chất lượng cao, nhưng chỉ cấp tạm trú 90 ngày cho mỗi lần nhập cảnh (Chính phủ, 2025b). Cần nâng công cụ này thành thẻ cư trú dành cho nhân tài, cấp tạm trú bằng đúng thời hạn thẻ, tích hợp miễn giấy phép lao động và mở lộ trình thường trú sau 3 năm – nội dung phù hợp để thể chế hóa bằng một nghị quyết của Quốc hội về cơ chế đặc biệt, theo tiền lệ Nghị quyết số 98/2023/QH15 về thí điểm cơ chế đặc thù phát triển TP. Hồ Chí Minh (Quốc hội, 2023).

Ba là, đo năng lực bằng thị trường và thực tiễn nghề nghiệp, không đo bằng bằng cấp và quốc tịch. EU công nhận kinh nghiệm nghề nghiệp tương đương bằng đại học trong công nghệ thông tin; Xin-ga-po dùng ngưỡng lương làm thước đo chính; Hàn Quốc dành cửa cho ứng viên tiềm năng qua hội đồng liên bộ. Ở Việt Nam, tiêu chí quốc tịch tại Phụ lục I của Nghị định số 221/2025/NĐ-CP loại trừ ngay từ đầu phần lớn kỹ sư thiết kế vi mạch và chuyên gia trí tuệ nhân tạo giàu kinh nghiệm thực chiến đến từ Đài Loan (Trung Quốc), Ấn Độ – nguồn nhân lực Việt Nam cần nhất khi hướng tới mục tiêu đào tạo ít nhất 50.000 nhân lực trình độ đại học trở lên cho ngành bán dẫn đến năm 2030 (Thủ tướng Chính phủ, 2024). Chính phủ cần chỉ đạo bãi bỏ tiêu chí quốc tịch, chuyển sang thang điểm hoặc ngưỡng lương thị trường, đồng thời cho phép ứng viên tự nộp hồ sơ trực tuyến, không qua bảo lãnh.

Bốn là, thiết kế đòn bẩy thuế theo con người thay vì theo hoạt động. Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 đã tạo bước tiến quan trọng khi miễn thuế tiền lương từ thực hiện nhiệm vụ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và miễn thuế 5 năm đối với nhân lực công nghệ cao thực hiện nghiên cứu, phát triển công nghệ chiến lược (Quốc hội, 2025b). Tuy nhiên, diện được miễn thuế phụ thuộc vào các danh mục và tiêu chí do pháp luật chuyên ngành quy định; khi những văn bản này chưa ban hành đồng bộ thì ưu đãi vẫn nằm trên giấy. Thời hạn miễn 5 năm cũng tạo ra một “vách đá thuế” ngay khi chuyên gia bắt đầu tạo ra giá trị lan tỏa lớn nhất. Điểm thuận lợi là chính Luật này đã mở sẵn cánh cửa pháp lý: khi ưu đãi thuế giữa Luật với nghị quyết của Quốc hội khác nhau thì áp dụng theo nghị quyết của Quốc hội (Quốc hội, 2025b) – cơ sở để Chính phủ trình Quốc hội ban hành cơ chế thuế theo con người với thời hạn ưu đãi kéo dài hơn, song song với việc khẩn trương ban hành các danh mục, tiêu chí còn thiếu.

Năm là, đưa tài trợ khoa học đi thẳng đến cá nhân nhà khoa học, song song với khoán mạnh cho tổ chức, trên nền cơ chế chấp nhận rủi ro có hiệu lực pháp lý đủ cao. Việt Nam đã có nền tảng quan trọng: Nghị định số 229/2026/NĐ-CP lần đầu đưa nguyên tắc “chấp nhận rủi ro khoa học, rủi ro công nghệ trong phạm vi có kiểm soát” vào hệ thống tài trợ, chuyển sang tài trợ theo kết quả đầu ra và cho phép nhà khoa học nước ngoài tham gia nghiên cứu, dùng chung hạ tầng kỹ thuật (Chính phủ, 2026). Việc cần làm là bổ sung hợp phần tài trợ trực tiếp cho cá nhân nhà khoa học quốc tế theo mô hình hai tầng của Hàn Quốc, đồng thời luật hóa nguyên tắc chấp nhận rủi ro và miễn trừ trách nhiệm ở tầm luật – bởi một nghị định không thể vô hiệu hóa nghĩa vụ pháp lý phát sinh từ pháp luật về ngân sách, đấu thầu, thanh tra, kiểm toán và trách nhiệm công vụ.

Sáu là, coi quyền của gia đình là biến số quyết định và gắn thu hút ngoại lực với cơ chế chuyển giao bắt buộc. Cả bốn trường hợp khảo cứu đều xử lý triệt để vấn đề an sinh gia đình: EU cho thân nhân tiếp cận thị trường lao động không điều kiện, Xinh-ga-po cấp Thư đồng ý, Hàn Quốc cấp quy chế cư trú cho cả gia đình. Ở Việt Nam, Nghị định số 249/2025/NĐ-CP đã quy định khá đầy đủ về tiền lương thỏa thuận theo thị trường, hỗ trợ nhà ở và học phí cho con dưới 18 tuổi, song quyền lao động của vợ hoặc chồng mới dừng ở mức “hỗ trợ giới thiệu, tạo điều kiện tiếp cận cơ hội việc làm” (Chính phủ, 2025c). Chừng nào quyền này chưa được nâng thành quyền pháp định, mọi ưu đãi khác đều bị giảm hiệu lực. Kinh nghiệm Oyatoi cũng cho thấy chỉ khi mỗi chuyên gia quốc tế trực tiếp dẫn dắt một nhóm nhà nghiên cứu trẻ trong nước thì việc thuê chuyên gia nước ngoài mới chuyển hóa thành năng lực nội sinh.

Bảy là, nguồn lực nhân tài quan trọng bậc nhất của Việt Nam nằm ngay trong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Nghị quyết số 23-NQ/TW mở ra hướng tiếp cận rất mới khi yêu cầu bảo đảm điều kiện để đội ngũ chuyên gia, trí thức, nhà khoa học và nhân tài người Việt Nam ở nước ngoài “tham gia lâu dài hoặc đóng góp linh hoạt từ xa”, xây dựng mạng lưới hệ sinh thái kết nối bền vững và cơ sở dữ liệu về người Việt Nam ở nước ngoài (Bộ Chính trị, 2026). Đây là sự thừa nhận chính thức mô hình “tuần hoàn và kết nối trí tuệ”: thay vì chỉ kêu gọi hồi hương toàn thời gian – điều khó khả thi khi buộc họ từ bỏ sự nghiệp học thuật đã gây dựng, Nhà nước tạo cơ chế để họ làm cố vấn bán thời gian, làm việc từ xa hoặc chủ trì các nhiệm vụ khoa học trọng điểm trong khi vẫn duy trì phòng thí nghiệm ở nước ngoài.

6. Kết luận

Kinh nghiệm của Liên minh châu Âu, Xinh-ga-po, Hàn Quốc và Nhật Bản hội tụ về một thông điệp nhất quán: nhân tài di chuyển theo hướng của tự do học thuật, minh bạch thể chế, an sinh cho gia đình và cơ hội phát triển đột phá; quốc gia nào tối ưu hóa đồng thời cả bốn cấu phần này sẽ thắng trong cuộc cạnh tranh nhân tài toàn cầu, không phụ thuộc quy mô nền kinh tế. Thu hút và trọng dụng nhân tài, vì vậy, không còn là giải pháp tình thế mà đã trở thành “đột phá của đột phá chiến lược”. Khi thể chế được hoàn thiện theo các định hướng nêu trên, Việt Nam sẽ lái được dòng tuần hoàn chất xám của nhân loại hội tụ vào, góp phần hiện thực hóa khát vọng trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.

Tài liệu tham khảo:
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2023). Nghị quyết số 45-NQ/TW ngày 24/11/2023 của Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ trí thức, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh, bền vững trong giai đoạn mới.
Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.
Bộ Chính trị (2026). Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 02/8/2026 về công tác người Việt Nam ở nước ngoài.
Chính phủ (2025a). Nghị định số 219/2025/NĐ-CP ngày 07/8/2025 quy định về người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam.
Chính phủ (2025b). Nghị định số 221/2025/NĐ-CP ngày 08/8/2025 quy định về việc miễn thị thực có thời hạn cho người nước ngoài thuộc diện đối tượng đặc biệt cần ưu đãi phục vụ phát triển kinh tế – xã hội.
Chính phủ (2025c). Nghị định số 249/2025/NĐ-CP ngày 19/9/2025 quy định cơ chế, chính sách thu hút chuyên gia khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Chính phủ (2025d). Nghị định số 267/2025/NĐ-CP ngày 14/10/2025 quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo về chương trình, nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo và một số quy định về thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Chính phủ (2026). Nghị định số 229/2026/NĐ-CP ngày 25/6/2026 quy định về tổ chức và hoạt động của Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia.
Quốc hội (2023). Nghị quyết số 98/2023/QH15 ngày 24/6/2023 về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển Thành phố Hồ Chí Minh.
Quốc hội (2025a). Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025.
Quốc hội (2025b). Luật Thuế thu nhập cá nhân năm 2025.
Thủ tướng Chính phủ (2024). Quyết định số 1017/QĐ-TTg ngày 21/9/2024 phê duyệt Chương trình “Phát triển nguồn nhân lực ngành công nghiệp bán dẫn đến năm 2030, định hướng đến năm 2050”.
Agency for Science, Technology and Research (2025). About A*STAR: Research institutes and talent programmes. Singapore.
Bùi Tất Thắng (2016). The KIST in South Korea and the issues on the establishment of the V-KIST in Vietnam. Journal of Science and Technology Policy and Management, Vol. 5, No. 2, pp. 1-16.
Defaye, N., Simova, T., Greco, G. M., Dengo, N., Kilbo Edlund, K., Bencze, N., Lewandowska, A. J., & Shawrav, M. M. (2025). Statement by the MCAA and Eurodoc: Towards an attractive and inclusive European Research Area (ERA): Removing legal and administrative barriers for mobile researchers in Europe. Zenodo. https://doi.org/10.5281/zenodo.17608024
European Commission (2021). Horizon Europe – the EU research and innovation programme 2021-2027. Luxembourg. Publications Office of the European Union.European Parliament & Council of the European Union (2016). Directive (EU) 2016/801 of 11 May 2016 on the conditions of entry and residence of third-country nationals for the purposes of research, studies, training, voluntary service, pupil exchange schemes or educational projects and au pairing. Official Journal of the European Union, L 132, 21.5.2016, pp. 21-57.
European Parliament & Council of the European Union (2021). Directive (EU) 2021/1883 of 20 October 2021 on the conditions of entry and residence of third-country nationals for the purpose of highly qualified employment, and repealing Council Directive 2009/50/EC. Official Journal of the European Union, L 382, 28.10.2021, pp. 1-38.
Immigration Services Agency of Japan (2023). Establishment of Japan System for Special Highly-Skilled Professionals (J-Skip) and Future Creation Individual Visa (J-Find). Tokyo. Ministry of Justice.
INSEAD & Portulans Institute (2025). The Global Talent Competitiveness Index 2025. Fontainebleau, France. INSEAD.
Koh, W. T. H., & Phan, P. (2010). The national innovation system of Singapore. In V. K. Narayanan & G. C. O’Connor (Eds.), Encyclopedia of technology and innovation management. Chichester. Wiley, pp. 327-340.
Ministry of Justice & Ministry of Science and ICT (2026). Expansion of the Top-Tier Visa (F-2-T) to professors and researchers in science and technology. Seoul. https://www.korea.net
Ministry of Manpower (2026). Overseas Networks & Expertise Pass: Eligibility and conditions. Singapore. https://www.mom.gov.sg/passes-and-permits/overseas-networks-expertise-pass
Ministry of Science and ICT (2026). Brain to Korea Project: Brain Pool and Brain Pool Plus programs. Seoul. Truy cập ngày 20/8/2026, từ https://www.msit.go.kr
RIKEN (2025). The RIKEN story: A century of research. Wako, Japan. RIKEN.
Umetani, N. (n.d.). Oyatoi gaikokujin [Người nước ngoài được thuê]. Nihon Daihyakka Zensho (Nipponica). Tokyo. Shogakukan. https://kotobank.jp/word/お雇い外国人-1514533