Sự tham gia của người dân vào quy trình xây dựng pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số

Participation of the people in the law-making process in the context of digital transformation

Lê Quang Huy
Học viên cao học, Trường Đại học Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội
Email: qhuyle2910@gmail.com

(Quanlynhanuoc.vn) – Sự tham gia của người dân vào quy trình xây dựng pháp luật là yêu cầu cốt lõi của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; đồng thời, là điều kiện quan trọng để chính sách, pháp luật phản ánh đúng thực tiễn, phù hợp lợi ích công và có tính khả thi cao. Trong bối cảnh chuyển đổi số, quyền tham gia của người dân thuận lợi hơn khi có thêm không gian, phương thức và công cụ mới thông qua cổng tham vấn trực tuyến, dữ liệu mở, truyền thông chính sách số, phân tích dữ liệu góp ý và phản hồi điện tử.

Từ khóa: Người dân; xây dựng pháp luật; chuyển đổi số; tham vấn chính sách; Nhà nước pháp quyền.

Abstract: The participation of the people in the law-making process constitutes a core requirement of the socialist rule-of-law state of Vietnam; simultaneously, it serves as an essential condition for policies and legislation to accurately reflect practical realities, align with the public interest, and possess a high degree of feasibility. In the context of digital transformation, the people’s right to participation is more easily exercised through new spaces, modalities, and instruments, including online consultation portals, open data, digital policy communication, analysis of public feedback data, and electronic response mechanisms.

Keywords: People; law-making; digital transformation; policy consultation; rule-of-law state.

1. Đặt vấn đề

Xây dựng pháp luật là hoạt động trung tâm của quản lý nhà nước và quản trị quốc gia hiện đại. Chất lượng pháp luật không chỉ thể hiện ở kỹ thuật lập pháp, tính hợp hiến, hợp pháp, thống nhất và khả thi của văn bản mà còn ở mức độ phản ánh đúng nhu cầu xã hội, lợi ích chính đáng của Nhân dân và yêu cầu phát triển đất nước. Một chính sách, một đạo luật nếu được chuẩn bị trong phạm vi hẹp, thiếu thông tin từ thực tiễn và chưa lắng nghe đầy đủ đối tượng chịu tác động thì khó tạo đồng thuận, khó đi vào cuộc sống và phát sinh chi phí thực thi lớn.

Trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, sự tham gia của người dân vào quy trình xây dựng pháp luật bắt nguồn từ bản chất của quyền lực nhà nước. Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) khẳng định Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân. Điều 28 Hiến pháp quy định công dân có quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận và kiến nghị với cơ quan nhà nước về các vấn đề của cơ sở, địa phương và cả nước. Vì vậy, Nhân dân không chỉ là đối tượng thi hành pháp luật sau khi văn bản được ban hành mà còn là chủ thể tham gia hình thành chính sách, cung cấp thông tin từ thực tiễn, kiểm nghiệm tính khả thi của quy định và giám sát việc thực hiện quyền lực nhà nước ngay từ khâu xây dựng pháp luật. Sự tham gia này góp phần hạn chế cách tiếp cận chủ quan, bổ sung góc nhìn của nhóm chịu tác động và tạo cơ sở xã hội cho việc tổ chức thi hành sau khi văn bản được ban hành.

Chuyển đổi số tạo ra điều kiện mới để mở rộng và nâng cao chất lượng sự tham gia của Nhân dân. Thông qua cổng thông tin điện tử, nền tảng tham vấn trực tuyến, dữ liệu mở, truyền thông chính sách số và các công cụ phân tích ý kiến, người dân có thể tiếp cận dự thảo nhanh hơn, góp ý thuận tiện hơn và theo dõi thông tin về quá trình xây dựng văn bản dễ dàng hơn. Tuy nhiên, số hóa kênh lấy ý kiến không tự động làm cho tham vấn trở nên thực chất; chất lượng tham gia vẫn phụ thuộc vào thời điểm tham vấn, chất lượng thông tin đầu vào và cơ chế tiếp thu, giải trình.

Yêu cầu đặt ra hiện nay là bảo đảm sự tham gia thực chất, bao trùm, minh bạch và có giải trình trong toàn bộ chu trình xây dựng pháp luật. Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị yêu cầu phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và sự tham gia rộng rãi, thực chất của người dân, tổ chức, doanh nghiệp trong xây dựng và thi hành pháp luật; đồng thời xác định công tác xây dựng và thi hành pháp luật là “đột phá của đột phá” trong hoàn thiện thể chế phát triển đất nước.

2. Thực trạng sự tham gia của người dân vào quy trình xây dựng pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số

Sự tham gia của người dân trong xây dựng pháp luật có thể được nhìn nhận từ tiếp cận thông tin, góp ý, tham vấn đến đối thoại và phản biện. Giá trị của sự tham gia tăng lên khi người dân không chỉ được biết nội dung dự thảo mà còn được hiểu vấn đề chính sách, được góp ý ở thời điểm còn khả năng lựa chọn phương án, được biết ý kiến của mình được xử lý như thế nào. Do đó, tham gia thực chất không được đo bằng số lượng kênh góp ý mà phải xem xét cả chất lượng thông tin, tính đại diện của chủ thể tham gia, khả năng tác động đến nội dung dự thảo và trách nhiệm giải trình của cơ quan chủ trì.

Cách tiếp cận này đòi hỏi sự tham gia theo toàn bộ chu trình chính sách. Ở giai đoạn nhận diện vấn đề, ý kiến từ người dân, doanh nghiệp, tổ chức đại diện giúp phát hiện khoảng trống pháp luật, chi phí tuân thủ và vướng mắc trong thi hành. Ở giai đoạn lựa chọn chính sách, tham vấn giúp kiểm tra mức độ hợp lý của các phương án. Khi soạn thảo, ý kiến xã hội giúp kiểm tra tính rõ ràng và khả năng thực hiện của quy định. Sau khi văn bản có hiệu lực, phản hồi của người dân tiếp tục là nguồn dữ liệu để theo dõi thi hành, rà soát và kiến nghị sửa đổi.

Cơ sở hiến định của quyền tham gia được thể hiện trực tiếp tại Điều 28 Hiến pháp năm 2013. Quy định này đặt ra trách nhiệm của Nhà nước trong việc tạo điều kiện để công dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội, công khai, minh bạch trong tiếp nhận và phản hồi ý kiến, kiến nghị. Việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp theo Nghị quyết số 203/2025/QH15 tiếp tục củng cố vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong thể hiện ý chí, nguyện vọng, phát huy quyền làm chủ và phản ánh ý kiến, kiến nghị của Nhân dân đến cơ quan nhà nước.

Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 cùng với Nghị định số 78/2025/NĐ-CP và Nghị định số 187/2025/NĐ-CP đã tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lý cho việc lấy ý kiến trong quá trình xây dựng văn bản. Quy trình hiện hành đặt ra trách nhiệm đăng tải hồ sơ dự thảo theo quy định, lấy ý kiến đối tượng chịu tác động trực tiếp, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan, chuyên gia, nhà khoa học; đồng thời tổng hợp, nghiên cứu, tiếp thu, giải trình ý kiến. Đây là nền tảng quan trọng để chuyển hoạt động lấy ý kiến từ thủ tục hành chính sang một khâu cung cấp dữ liệu cho quyết định chính sách.

Từ ngày 01/9/2026, Luật Tiếp cận thông tin năm 2026 có hiệu lực, cùng với Nghị định số 337/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành. Khung pháp lý mới tiếp tục củng cố điều kiện để người dân tiếp cận thông tin do cơ quan nhà nước nắm giữ theo phạm vi luật định. Bên cạnh đó, Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở năm 2022 khẳng định các quyền được công khai thông tin, tham gia ý kiến, kiểm tra, giám sát, kiến nghị, phản ánh. Các quy định này tạo nền tảng pháp lý liên thông giữa quyền được biết, quyền tham gia và quyền giám sát.

Chuyển đổi số đã tạo ra những thực tiễn mới đáng chú ý. Trong đợt lấy ý kiến nhân dân về dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013, tiện ích lấy ý kiến trên ứng dụng VNeID được triển khai từ ngày 06/5 – 29/5/2025, song song với các kênh của Quốc hội, Chính phủ và hình thức góp ý bằng văn bản. Có hơn 280 triệu lượt ý kiến góp ý đã được tổng hợp, nghiên cứu, tiếp thu và giải trình trước khi Quốc hội xem xét, thông qua Nghị quyết số 203/2025/QH15 (Diệu Anh, 2025).

Trường hợp lấy ý kiến sửa đổi Hiến pháp cho thấy, công nghệ số có thể mở rộng đáng kể quy mô tham gia, rút ngắn thời gian thu nhận dữ liệu và tạo điều kiện để cơ quan nhà nước tổng hợp ý kiến trên diện rộng. Đồng thời, việc kết hợp VNeID với các kênh truyền thống cho thấy, tham gia số không nhất thiết thay thế tham vấn trực tiếp, mà có thể bổ sung cho nhau. Đây là minh họa rõ cho khả năng sử dụng hạ tầng định danh số để kết nối người dân với một quy trình xây dựng pháp luật có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.

Một bước phát triển mới khác là việc Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 35/2026/QĐ-TTg ngày 13/7/2026 về Quy chế quản lý, vận hành, khai thác Cổng pháp luật quốc gia (Thủ tướng Chính phủ, 2026). Cùng với Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật, Cổng thông tin điện tử Chính phủ, Cổng thông tin điện tử Quốc hội và các chuyên mục lấy ý kiến của bộ, ngành, đây là điều kiện để từng bước tổ chức lại không gian tiếp cận pháp luật, tiếp nhận kiến nghị và tham vấn chính sách trên môi trường số theo hướng thống nhất hơn. Tuy nhiên, thực tiễn nêu trên cũng cho thấy, vấn đề trọng tâm đã chuyển từ “có kênh góp ý hay không” sang “thiết kế kênh tham gia như thế nào”. Một dự thảo dù được đăng tải công khai nhưng nếu chỉ có toàn văn pháp lý dài, thiếu bản tóm tắt vấn đề, thiếu bảng so sánh phương án, thiếu câu hỏi tham vấn trọng tâm thì người không có chuyên môn pháp lý vẫn khó tham gia có chất lượng. Vì vậy, minh bạch về tài liệu cần đi cùng khả năng tiếp cận về ngôn ngữ, cấu trúc thông tin và giải thích tác động của chính sách.

Thời điểm tham vấn cũng có ý nghĩa quyết định. Nếu người dân chỉ được tiếp cận khi phương án chính sách đã cơ bản định hình, dư địa điều chỉnh sẽ hẹp hơn so với việc được tham gia từ giai đoạn nhận diện vấn đề, tổng kết thi hành, đánh giá tác động và lựa chọn phương án. Đây không chỉ là câu chuyện về “lấy ý kiến sớm hay muộn” mà liên quan trực tiếp đến khả năng để thông tin từ xã hội tác động đến quyết định chính sách. Bởi vậy, tham gia thực chất cần được tổ chức theo nhiều vòng, tương ứng với các giai đoạn quan trọng của quá trình xây dựng pháp luật.

Cơ chế tiếp thu, giải trình cũng cần được tổ chức theo cách người tham gia có thể kiểm chứng. Trường hợp sửa đổi Hiến pháp năm 2025 cho thấy, có thể công khai báo cáo tổng hợp, tiếp thu, giải trình ở quy mô rất lớn. Kinh nghiệm này cần được chuẩn hóa cho các dự thảo khác thông qua một cấu trúc giải trình rõ: nhóm vấn đề được góp ý, chủ thể góp ý, nội dung được tiếp thu, phần dự thảo được chỉnh sửa và lý do không tiếp thu. Khi đó, giải trình không chỉ là tài liệu trong hồ sơ nội bộ mà trở thành cơ chế phản hồi đối với xã hội.

Chuyển đổi số đặt ra yêu cầu về tính đại diện và chất lượng dữ liệu. Kênh trực tuyến thuận lợi cho người có thiết bị, kết nối internet và kỹ năng số, nhưng có thể tạo bất lợi cho người cao tuổi, người khuyết tật, người dân vùng khó khăn hoặc nhóm có khả năng đọc hiểu pháp luật hạn chế. Mặt khác, dữ liệu góp ý số có thể chứa ý kiến trùng lặp, ý kiến theo chiến dịch hoặc nội dung thiếu căn cứ. Vì vậy, số lượng ý kiến không thể thay thế việc phân tích tính đại diện, căn cứ và mức độ liên quan của từng nhóm ý kiến.

Vấn đề bảo vệ dữ liệu cá nhân cũng phải được đặt trong thiết kế cơ chế tham gia số. Người dân có thể cung cấp thông tin định danh, nơi cư trú, nghề nghiệp, quan điểm chính sách hoặc dữ liệu gắn với tình huống cụ thể. Nếu không có quy tắc rõ về thu thập, mục đích sử dụng, phạm vi công khai, thời hạn lưu trữ và quyền truy cập, niềm tin vào kênh góp ý trực tuyến có thể bị ảnh hưởng. Vì vậy, bảo đảm an toàn dữ liệu không phải yêu cầu kỹ thuật phụ trợ mà là một điều kiện của quyền tham gia trong môi trường số.

3. Giải pháp tăng cường sự tham gia thực chất của người dân vào quy trình xây dựng pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số

Một là, xác lập chuẩn mực tham gia thực chất và tạo điều kiện để người dân tham gia từ sớm quy trình xây dựng chính sách.

Cần chuyển mạnh từ quan niệm “đã lấy ý kiến” sang quan niệm “tham gia có chất lượng”. Sự tham gia của người dân chỉ có ý nghĩa thực chất khi được tiếp cận thông tin đầy đủ, dễ hiểu; được góp ý ở thời điểm còn khả năng điều chỉnh chính sách; được lựa chọn kênh tham gia phù hợp; được biết ý kiến đã được xử lý ra sao và được theo dõi kết quả tiếp thu, giải trình. Vì vậy, đánh giá chất lượng hồ sơ xây dựng văn bản quy phạm pháp luật không nên dừng ở việc có đăng tải dự thảo, có tổ chức hội nghị, có tổng hợp ý kiến, mà phải xem xét nhóm chịu tác động đã được tiếp cận chưa, thông tin có đủ rõ chưa, phương án chính sách có được giải thích chưa và ý kiến xã hội có tác động thực sự đến nội dung dự thảo hay không.

Cần lấy ý kiến nhân dân tham gia sớm hơn vào quy trình xây dựng chính sách, nhất là ở các khâu nhận diện yêu cầu điều chỉnh, tổng kết thực tiễn, đánh giá tác động và lựa chọn phương án. Nhiều quy định sau khi ban hành gặp khó khăn trong thực hiện không hẳn vì kỹ thuật lập pháp yếu mà vì ngay từ đầu chưa lắng nghe đầy đủ ý kiến tham gia của đối tượng chịu tác động. Đối với những lĩnh vực liên quan trực tiếp đến đời sống dân sinh, như: đất đai, giáo dục, y tế, môi trường, an sinh xã hội, thuế, phí, lao động, dữ liệu cá nhân và chuyển đổi số, cần tổ chức khảo sát đối tượng chịu tác động, nhóm thảo luận chuyên đề, tham vấn trực tuyến có cấu trúc, hội nghị công dân và lấy ý kiến thông qua tổ chức đại diện. Khi Nhân dân được tham gia từ sớm, chính sách có thêm dữ liệu thực tiễn và giảm độ vênh giữa ý chí quản lý với đời sống xã hội.

Hai là, phát triển Cổng pháp luật quốc gia thành nền tảng tham vấn chính sách, pháp luật thống nhất và có khả năng liên thông dữ liệu.

Sau khi Quyết định số 35/2026/QĐ-TTg có hiệu lực, trọng tâm cần phát huy Cổng Pháp luật quốc gia như một điểm truy cập thống nhất cho hoạt động tham vấn. Cổng cần liên thông với Cổng thông tin điện tử Quốc hội, Cổng thông tin điện tử Chính phủ, Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật, hệ thống của các bộ, ngành và các giải pháp định danh, xác thực điện tử phù hợp. Việc liên thông giúp người dân không phải tìm kiếm dự thảo ở nhiều địa chỉ và giúp cơ quan quản lý hạn chế dữ liệu trùng lặp.

Mỗi dự thảo nên có một mã hồ sơ thống nhất và trang theo dõi riêng, hiển thị tối thiểu: cơ quan chủ trì, giai đoạn xử lý, thời hạn góp ý, toàn văn dự thảo, tờ trình, báo cáo đánh giá tác động, bảng so sánh, bản tóm tắt chính sách, câu hỏi trọng tâm và báo cáo tiếp thu, giải trình. Người dân sau khi gửi ý kiến cần nhận được mã xác nhận để theo dõi trạng thái “đã tiếp nhận”, “đã phân loại”, “đã xem xét” hoặc “đã phản hồi”, trừ trường hợp pháp luật quy định khác. Đây là chức năng kỹ thuật đơn giản nhưng có ý nghĩa lớn đối với niềm tin tham gia.

Cổng tham vấn cần hỗ trợ truy cập trên thiết bị di động, tìm kiếm theo lĩnh vực, địa bàn và nhóm đối tượng chịu tác động. Đối với dự thảo có ảnh hưởng rộng, nên bổ sung đồ họa, hỏi đáp chính sách, video giải thích ngắn hoặc tình huống minh họa. Với nhóm người khuyết tật cần bảo đảm tiêu chuẩn tiếp cận số. Với chính sách tác động đến cộng đồng dân tộc thiểu số hoặc nhóm có hạn chế về ngôn ngữ pháp lý, cần có cách trình bày và kênh hỗ trợ phù hợp. Mục tiêu là làm cho thông tin pháp lý có thể hiểu được trước khi yêu cầu người dân góp ý.

Ba là, chuẩn hóa cơ chế tiếp thu, giải trình và sử dụng dữ liệu góp ý như một nguồn dữ liệu chính sách.

Cần xây dựng một mẫu “ma trận tiếp thu, giải trình” dùng thống nhất cho các dự thảo có phạm vi tác động rộng. Ma trận có thể gồm các cột: nhóm vấn đề; chủ thể hoặc nhóm chủ thể góp ý; nội dung góp ý; kết quả xử lý; vị trí dự thảo được chỉnh sửa; lý do không tiếp thu. Phần công khai cần bảo đảm không làm lộ dữ liệu cá nhân không cần thiết. Cấu trúc này giúp người dân nhìn thấy đường đi của ý kiến; đồng thời, tạo điều kiện để cơ quan thẩm định, thẩm tra kiểm tra mức độ nghiêm túc của quá trình tham vấn. Dữ liệu góp ý cần được lưu trữ dưới dạng có cấu trúc để có thể phân tích theo chủ đề, nhóm đối tượng, địa bàn và mức độ đồng thuận. Công nghệ xử lý ngôn ngữ, dữ liệu lớn và AI có thể hỗ trợ phát hiện ý kiến trùng lặp, nhóm chủ đề, tóm tắt luận điểm và xác định vấn đề nhận được nhiều quan tâm. Tuy nhiên, thuật toán không được thay thế việc đọc và đánh giá nội dung có căn cứ, đặc biệt đối với ý kiến thiểu số, ý kiến của nhóm yếu thế hoặc đề xuất có hàm lượng chuyên môn cao.

Cùng với báo cáo cuối kỳ, cơ quan chủ trì nên công khai cập nhật theo từng mốc quan trọng của dự thảo, nhất là khi phương án chính sách thay đổi đáng kể sau tham vấn. Khi không tiếp thu một nhóm ý kiến có tác động lớn đến quyền, nghĩa vụ của người dân hoặc doanh nghiệp, phần giải trình cần nêu rõ căn cứ pháp lý, căn cứ thực tiễn và đánh giá tác động có liên quan. Cơ chế này biến giải trình thành trách nhiệm thực chất, thay vì chỉ là phần mô tả thủ tục trong hồ sơ xây dựng văn bản.

Bốn là, phát huy vai trò của các thiết chế đại diện, phản biện xã hội và bảo đảm tính đa dạng của chủ thể tham gia.

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội, hiệp hội nghề nghiệp, liên đoàn, viện nghiên cứu, trường đại học, tổ chức xã hội và báo chí cần được phát huy như những “cầu nối” giữa cơ quan soạn thảo và các nhóm xã hội. Đối với mỗi dự thảo có tác động lớn, cơ quan chủ trì nên kết hợp ba lớp kênh: lấy ý kiến mở trên môi trường số; tham vấn có mục tiêu thông qua tổ chức đại diện; tham vấn trực tiếp đối với nhóm chịu tác động rõ nhất. Cách kết hợp này vừa mở rộng phạm vi tham gia, vừa tăng chiều sâu và tính đại diện của dữ liệu góp ý.

Đối với các nhóm có nguy cơ bị loại khỏi quá trình tham gia số, cần thiết kế phương thức hỗ trợ cụ thể. Có thể tổ chức điểm hỗ trợ góp ý tại cơ sở, lồng ghép tham vấn với hội nghị cộng đồng, cung cấp tài liệu tóm tắt dễ đọc và cho phép góp ý bằng nhiều phương thức như trực tuyến, trực tiếp, điện thoại hoặc văn bản. Với người khuyết tật, nền tảng số phải hỗ trợ công nghệ trợ năng; với người có kỹ năng số hạn chế, cán bộ cơ sở hoặc tổ chức đại diện cần hỗ trợ tiếp cận mà không làm thay đổi nội dung ý kiến của người tham gia.

Tính đa dạng cũng đòi hỏi công khai cơ cấu chủ thể đã tham gia. Báo cáo tham vấn nên cho biết các nhóm nào đã được lấy ý kiến, nhóm nào phản hồi thấp và còn thiếu tiếng nói của ai. Đây là chỉ báo quan trọng hơn số lượng ý kiến tuyệt đối. Một dự thảo nhận nhiều góp ý nhưng tập trung chủ yếu ở nhóm có khả năng tiếp cận cao vẫn có thể bỏ sót lợi ích của nhóm chịu tác động khác. Công khai cơ cấu tham gia giúp cơ quan soạn thảo chủ động bổ sung vòng tham vấn nếu dữ liệu ban đầu chưa cân bằng.

Năm là, gắn sự tham gia của người dân với theo dõi thi hành, đánh giá sau ban hành và trách nhiệm của đội ngũ làm công tác pháp luật.

Quy trình tham gia cần tiếp tục sau khi văn bản được ban hành. Trên Cổng Pháp luật quốc gia và hệ thống liên thông, nên bố trí chức năng phản ánh theo từng văn bản, điều khoản hoặc nhóm thủ tục để người dân, doanh nghiệp phản ánh khó khăn trong thi hành. Dữ liệu này cần được chuyển đến cơ quan có trách nhiệm và liên kết với hoạt động rà soát, hệ thống hóa, kiểm tra văn bản. Đối với đạo luật có tác động lớn, có thể công khai báo cáo phản hồi sau một khoảng thời gian thực hiện để nhận diện sớm quy định phát sinh chi phí hoặc cách hiểu không thống nhất.

Đồng thời, cần nâng cao năng lực của đội ngũ xây dựng pháp luật về thiết kế tham vấn, truyền thông chính sách, phân tích dữ liệu, đánh giá tác động, đối thoại công và bảo vệ dữ liệu cá nhân. Năng lực này phải trở thành một bộ phận của năng lực nghề nghiệp, không phải kỹ năng bổ trợ. Cơ quan chủ trì cần phân công rõ người chịu trách nhiệm về kế hoạch tham vấn, quản trị dữ liệu góp ý và báo cáo giải trình; chất lượng tham vấn cần được xem là tiêu chí đánh giá chất lượng hồ sơ và trách nhiệm của người đứng đầu đơn vị chủ trì soạn thảo.

Việc sử dụng công nghệ cũng phải đi đôi với quy tắc trách nhiệm. Khi AI được dùng để phân loại, tóm tắt hoặc phân tích ý kiến, cơ quan sử dụng phải kiểm soát sai lệch, bảo vệ dữ liệu cá nhân và lưu vết quá trình xử lý. Kết quả do công cụ tạo ra chỉ có giá trị hỗ trợ, không thay thế quyết định hành chính và trách nhiệm giải trình của con người. Cách tiếp cận này giúp tận dụng được sức mạnh của dữ liệu số nhưng vẫn bảo đảm nguyên tắc quyền lực nhà nước phải gắn với trách nhiệm.

4. Kết luận

Sự tham gia của người dân vào quy trình xây dựng pháp luật là biểu hiện trực tiếp của quyền làm chủ và là nguồn thông tin quan trọng để pháp luật bám sát thực tiễn, nâng cao tính khả thi. Chuyển đổi số mở rộng quy mô và tốc độ tham gia, nhưng hiệu quả chỉ được bảo đảm khi người dân được tham gia đúng thời điểm, có thông tin dễ tiếp cận, có kênh phù hợp và có thể kiểm chứng việc tiếp thu, giải trình. Trong giai đoạn mới, cần phát triển Cổng pháp luật quốc gia thành hạ tầng tham vấn thống nhất; tổ chức tham vấn theo nhiều vòng; chuẩn hóa dữ liệu góp ý và cơ chế giải trình; phát huy thiết chế đại diện; đồng thời, gắn phản hồi của người dân với theo dõi thi hành. Khi đó, ý kiến của người dân thực sự trở thành nguồn dữ liệu chính sách và nguồn lực trí tuệ phục vụ nâng cao chất lượng pháp luật.

Tài liệu tham khảo:
Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Chính phủ (2025). Nghị định số 78/2025/NĐ-CP ngày 01/4/2025 quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
Chính phủ (2025). Nghị định số 187/2025/NĐ-CP ngày 01/7/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 78/2025/NĐ-CP ngày 01/4/2025 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và Nghị định số 79/2025/NĐ-CP ngày 01/4 2025 của Chính phủ về kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa và xử lý văn bản quy phạm pháp luật
Chính phủ (2026). Nghị định số 337/2026/NĐ-CP ngày 26/8/2026 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Tiếp cận thông tin.
Cổng thông tin điện tử Quốc hội (2025). Trên 280 triệu lượt ý kiến góp ý về sửa Hiến pháp 2013 đã được tiếp thu, giải trình, ngày 13/6/2025.
Cổng Thông tin điện tử Chính phủ (2025). Hướng dẫn thực hiện góp ý sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp trên VNeID, ngày 29/5/2025.
Diệu Anh (06/6/2025). Trên 280 triệu lượt ý kiến góp ý vào dự thảo Nghị quyết sửa đổi Hiến pháp năm 2013. Báo Chính phủ. https://baochinhphu.vn/tren-280-trieu-luot-y-kien-gop-y-vao-du-thao-nghi-quyet-sua-doi-hien-phap-nam-2013-102250606110105076.htm
Quốc hội (2013). Hiến pháp năm 2013.
Quốc hội (2025). Nghị quyết số 203/2025/QH15 ngày 16/6/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Quốc hội (2025). Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025.
Quốc hội (2026). Luật Tiếp cận thông tin năm 2026.
Quốc hội (2022). Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở năm 2022.
Thủ tướng Chính phủ (2026). Quyết định số 35/2026/QĐ-TTg ngày 13/7/2026 ban hành Quy chế quản lý, vận hành, khai thác Cổng Pháp luật quốc gia.