Policies for developing local innovation ecosystems in Vietnam
ThS. Nguyễn Huy Công
Bộ Khoa học và Công nghệ
Email: HuyCongimet@gmail.com
Nghiêm Bạch Liên
Thuế Thành phố Hà Nội
Phạm Thùy Dương
Thuế Thành phố Hà Nội
(Quanlynhanuoc.vn) – Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và nâng cao năng suất. Để phát huy vai trò này, cần phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo với sự liên kết chặt chẽ giữa các chủ thể, huy động hiệu quả các nguồn lực và gắn kết nghiên cứu, phát triển công nghệ với nhu cầu thực tiễn. Tại Việt Nam, hệ thống chính sách hỗ trợ đã từng bước được hoàn thiện, tạo nền tảng cho phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo địa phương. Tuy nhiên, hiệu quả thực thi chính sách còn phụ thuộc vào mức độ liên kết giữa các chủ thể, khả năng huy động nguồn lực và sự phù hợp với điều kiện, lợi thế của từng địa phương. Trên cơ sở phân tích thực trạng, bài viết làm rõ những kết quả đạt được, hạn chế và các vấn đề đặt ra, từ đó, đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách nhằm thúc đẩy hệ sinh thái đổi mới sáng tạo địa phương phát triển đồng bộ, hiệu quả và bền vững.
Từ khóa: Việt Nam; hệ sinh thái đổi mới sáng tạo; chính sách đổi mới sáng tạo; đổi mới sáng tạo địa phương.
Abstract: Science, technology, and innovation are important drivers of economic growth and productivity improvement. To fully realize their potential, it is essential to develop innovation ecosystems characterized by strong stakeholder linkages, effective resource mobilization, and close alignment between research, technological development, and practical needs. In Vietnam, the policy framework supporting innovation has been progressively improved, providing a foundation for the development of local innovation ecosystems. However, the effectiveness of policy implementation depends on the degree of collaboration among stakeholders, the capacity to mobilize resources, and the extent to which policies are tailored to the specific conditions and advantages of each locality. Based on an analysis of the current situation, this article examines the achievements, limitations, and outstanding issues, and proposes policy improvement directions to promote the coordinated, effective, and sustainable development of local innovation ecosystems.
Keywords: Vietnam; innovation ecosystem; innovation policy; local innovation.
1. Đặt vấn đề
Trong bối cảnh chuyển đổi số và phát triển kinh tế tri thức, đổi mới sáng tạo ngày càng trở thành động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng, nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Để phát huy vai trò này, cần phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo với sự tham gia và liên kết chặt chẽ giữa Nhà nước, doanh nghiệp, cơ sở giáo dục đại học, tổ chức nghiên cứu, nhà đầu tư và các tổ chức trung gian. Trong đó, địa phương giữ vai trò quan trọng trong huy động nguồn lực, phát huy lợi thế đặc thù và chuyển hóa tri thức, công nghệ thành giá trị kinh tế – xã hội.
Tại Việt Nam, chính sách về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo từng bước được hoàn thiện, tạo nền tảng cho sự hình thành và phát triển các hệ sinh thái đổi mới sáng tạo địa phương. Tuy nhiên, năng lực đổi mới sáng tạo, khả năng tiếp cận vốn, chất lượng nguồn nhân lực, cơ sở hạ tầng và mức độ liên kết giữa các chủ thể còn khác biệt giữa các địa phương. Bên cạnh đó, việc phối hợp thực thi chính sách, huy động nguồn lực và thương mại hóa kết quả nghiên cứu vẫn đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết. Thực tiễn này đòi hỏi phải tiếp tục hoàn thiện chính sách theo hướng kết hợp định hướng chung của quốc gia với đặc thù địa phương, tăng cường liên kết giữa các chủ thể và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực.
2. Phương pháp nghiên cứu
Để đánh giá mức độ ảnh hưởng của một số nhóm chính sách đối với việc hình thành và phát triển liên kết giữa các thành tố trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo địa phương ở Việt Nam, tác giả sử dụng phương pháp điều tra bằng bảng hỏi. Bảng hỏi được thiết kế chủ yếu dưới dạng câu hỏi đóng, sử dụng thang đo Likert 5 mức độ, nhằm thu thập ý kiến đánh giá của những người có kinh nghiệm và hiểu biết liên quan đến chính sách khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Cỡ mẫu tối thiểu được xác định theo công thức Slovin, trong đó n là số lượng mẫu điều tra tối thiểu; N là tổng thể, được xác định là 173.000 nhân lực khoa học và công nghệ Việt Nam (Bộ Khoa học và Công nghệ, 2025a) và ε là sai số tiêu chuẩn, được lựa chọn ở mức 10%. Theo công thức, cỡ mẫu tối thiểu khoảng 100 người. Để tăng độ tin cậy và bảo đảm số lượng quan sát cần thiết cho phân tích, tác giả gửi 200 phiếu khảo sát đến các đối tượng có kinh nghiệm và hiểu biết về chính sách khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo ở Việt Nam. Sau khi kiểm tra và loại bỏ các phiếu không đầy đủ thông tin, 186 phiếu hợp lệ được sử dụng để phân tích.
Dữ liệu thu thập được sử dụng để đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhóm chính sách đến sự hình thành và phát triển liên kết giữa các thành tố trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo địa phương, qua đó, làm rõ những vấn đề đặt ra trong quá trình hoàn thiện chính sách ở Việt Nam.
Bảng 1. Mẫu điều tra, khảo sát
| Chính sách | NN | Mức độ ảnh hưởng |
| Có chính sách ưu đãi tài chính cho các nhà đầu tư vào các dự án của Trung tâm đổi mới sáng tạo | 186 | 4,33 ± 0,79 |
| Chính sách phát triển nhân lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, tinh thần đổi mới sáng tạo với tinh thần kinh thương | 186 | 4,28 ± 0,81 |
| Chính sách ưu tiên phát triển, truyền bá, ứng dụng tri thức khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo phù hợp với địa phương | 186 | 4,23 ± 0,71 |
| Các thủ tục hành chính ở địa phương đơn giản, nhanh chóng | 186 | 4,28 ± 0,78 |
| Có nhiều “kênh” hỗ trợ vốn của nhà nước cho các dự án công nghệ, đổi mới sáng tạo | 186 | 4,25 ± 0,75 |
| Chính sách tạo điều kiện phát triển môi trường liên kết viện, trường và DN tại địa phương | 186 | 4,26 ± 0,71 |
| Ghi chú: 1- Ít quan trọng; 5-Rất quan trọng | ||
3. Chính sách phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo địa phương
3.1. Chính sách tiền đề hỗ trợ phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo địa phương
Thứ nhất, hỗ trợ hình thành và phát triển hệ thống đổi mới sáng tạo. Chính sách khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo ở Việt Nam đang chuyển từ cách tiếp cận chủ yếu hỗ trợ các hoạt động nghiên cứu riêng lẻ sang phát triển hệ thống đổi mới sáng tạo với sự tham gia và liên kết của nhiều chủ thể. Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 xác định Nhà nước thúc đẩy phát triển toàn diện hệ thống đổi mới sáng tạo, lấy doanh nghiệp làm trung tâm, đồng thời tăng cường kết nối giữa doanh nghiệp, cơ sở giáo dục đại học, tổ chức nghiên cứu, tổ chức trung gian, cơ quan nhà nước và các chủ thể liên quan (Quốc hội, 2025a). Đây là cơ sở quan trọng để hình thành mạng lưới đổi mới sáng tạo ở cả cấp quốc gia và địa phương.
Trong hệ thống này, Nhà nước giữ vai trò kiến tạo thông qua hoàn thiện thể chế, xây dựng cơ chế tài chính, phát triển hạ tầng và tạo lập môi trường thuận lợi cho đổi mới sáng tạo; doanh nghiệp giữ vai trò trung tâm trong nhận diện nhu cầu thị trường, đầu tư, tiếp nhận và thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Các cơ sở giáo dục đại học, viện nghiên cứu, tổ chức trung gian và nhà đầu tư có vai trò cung cấp tri thức, công nghệ, nhân lực, vốn và các dịch vụ hỗ trợ. Bên cạnh khuôn khổ pháp lý chung, Nghị định số 97/2025/NĐ-CP ngày 05/5/2025 quy định các cơ chế, chính sách ưu đãi đối với Trung tâm Đổi mới sáng tạo Quốc gia về đầu tư cơ sở vật chất, sử dụng nguồn thu, tín dụng đầu tư, lao động, đất đai, vốn vay ưu đãi và cung cấp dịch vụ công (Chính phủ, 2025). Trung tâm được thực hiện các hoạt động ươm tạo, tư vấn, đào tạo, kết nối đầu tư, tổ chức sự kiện đổi mới sáng tạo và hỗ trợ hình thành các trung tâm đổi mới sáng tạo, quỹ đầu tư mạo hiểm, qua đó góp phần tạo đầu mối kết nối và lan tỏa nguồn lực đổi mới sáng tạo.
Thứ hai, hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo. Quyết định số 844/QĐ-TTg ngày 18/5/2016 phê duyệt Đề án “Hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia đến năm 2025” là một trong những chính sách quan trọng thúc đẩy hình thành và phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo ở Việt Nam. Đề án tập trung xây dựng Cổng thông tin khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia; hình thành các khu tập trung dịch vụ hỗ trợ khởi nghiệp tại các bộ, ngành và địa phương; tổ chức Ngày hội Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia; phát triển hoạt động đào tạo, tư vấn, ươm tạo; hỗ trợ cơ sở vật chất; kết nối doanh nghiệp khởi nghiệp với nhà đầu tư, chuyên gia và thị trường (Thủ tướng Chính phủ, 2016).
Quyết định số 188/QĐ-TTg ngày 09/02/2021 tiếp tục sửa đổi, bổ sung Đề án theo hướng tăng cường liên kết giữa các chủ thể và mở rộng khả năng huy động nguồn lực xã hội (Thủ tướng Chính phủ, 2021). Các chính sách này góp phần hình thành mạng lưới các tổ chức, doanh nghiệp và thiết chế hỗ trợ khởi nghiệp, đồng thời mở rộng khả năng kết nối doanh nghiệp khởi nghiệp với nhà đầu tư, chuyên gia, cơ sở nghiên cứu, cơ sở giáo dục đại học và thị trường.
Thứ ba, phát triển các chương trình hỗ trợ khởi nghiệp và nguồn lực cho đổi mới sáng tạo. Bên cạnh các chính sách hỗ trợ hệ sinh thái ở cấp quốc gia, nhiều chương trình hướng tới học sinh, sinh viên, thanh niên và các nhóm doanh nhân đã được triển khai, như: Quyết định số 1665/QĐ-TTg ngày 30/10/2017 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án Hỗ trợ học sinh, sinh viên khởi nghiệp đến năm 2025; Quyết định số 897/QĐ-TTg ngày 26/7/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình Hỗ trợ thanh niên khởi nghiệp giai đoạn 2022 – 2030. Các chương trình này góp phần đưa kiến thức về khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo và quản trị kinh doanh vào cơ sở giáo dục, tổ chức đoàn thể và mạng lưới thanh niên (Thủ tướng Chính phủ, 2017; Thủ tướng Chính phủ, 2022).
Tuy nhiên, hiệu quả của chính sách hỗ trợ khởi nghiệp phụ thuộc vào khả năng hình thành một chuỗi hỗ trợ liên tục từ đào tạo, lựa chọn ý tưởng, ươm tạo, thử nghiệm, bảo hộ sở hữu trí tuệ đến thương mại hóa và huy động vốn. Đối với cơ sở giáo dục đại học, hoạt động ươm tạo cần gắn với phòng thí nghiệm, nhóm nghiên cứu, doanh nghiệp đối tác và nguồn vốn ban đầu. Đối với địa phương, các chương trình hỗ trợ cần được thiết kế dựa trên nhu cầu và lợi thế cụ thể, chẳng hạn nông nghiệp công nghệ cao, du lịch, logistics, năng lượng sạch, quản lý đô thị hoặc thích ứng với biến đổi khí hậu.
Thứ tư, từng bước hình thành chính sách phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo phù hợp với điều kiện địa phương. Trên cơ sở chính sách của Trung ương, nhiều địa phương đã chủ động xây dựng chương trình, kế hoạch và đề án riêng. Chẳng hạn: TP. Hồ Chí Minh ban hành Quyết định số 672/QĐ-UBND ngày 01/3/2021 về hỗ trợ phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo giai đoạn 2021- 2025; Đà Nẵng ban hành Quyết định số 154/QĐ-UBND ngày 14/01/2025 phê duyệt Đề án “Đà Nẵng – Thành phố đổi mới sáng tạo”.
Sự chủ động của các địa phương cho thấy, chính sách đang từng bước chuyển từ triển khai các chương trình mang tính thống nhất trên phạm vi cả nước sang xây dựng mô hình đổi mới sáng tạo gắn với điều kiện, lợi thế và mục tiêu phát triển của từng địa phương. Đây là tiền đề quan trọng để hình thành các hệ sinh thái đổi mới sáng tạo có tính đặc thù, thay vì áp dụng một mô hình chung cho tất cả địa phương. Tuy nhiên, để chính sách tạo ra tác động thực chất, cần tăng cường khả năng phối hợp giữa chính quyền, doanh nghiệp, cơ sở giáo dục đại học, tổ chức nghiên cứu và các tổ chức trung gian; đồng thời, gắn nguồn lực hỗ trợ với những lĩnh vực mà địa phương có lợi thế và nhu cầu đổi mới rõ ràng.
3.2. Chính sách phát triển tri thức và công nghệ trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo địa phương
Tri thức và công nghệ là nền tảng để hình thành và phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo địa phương. Tại Hà Nội, Điều 23 Luật Thủ đô năm 2024 quy định ưu tiên nguồn lực nhằm xây dựng Thủ đô trở thành trung tâm hàng đầu của cả nước và khu vực về đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, nghiên cứu, phát triển và chuyển giao công nghệ (Quốc hội, 2024). Các lĩnh vực ưu tiên bao gồm: công nghệ số, công nghệ thông tin và truyền thông, công nghệ sinh học, vật liệu mới, công nghệ chế tạo, tự động hóa, công nghệ môi trường, giảm phát thải các-bon và ứng phó với biến đổi khí hậu.
Bên cạnh chính sách phát triển năng lực nghiên cứu và ứng dụng công nghệ, chính sách tài chính cũng tạo điều kiện huy động nguồn lực cho hoạt động đổi mới sáng tạo. Nghị quyết số 198/2025/QH15 ngày 17/5/2025 về một số cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân, cho phép doanh nghiệp trích tối đa 20% thu nhập tính thuế thu nhập doanh nghiệp để lập quỹ phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số (Quốc hội, 2025b). Quy định này góp phần tạo thêm nguồn lực cho doanh nghiệp đầu tư vào nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ.
Tuy nhiên, chính sách phát triển tri thức và công nghệ tại địa phương vẫn cần chú trọng hơn đến khả năng chuyển hóa kết quả nghiên cứu thành sản phẩm, dịch vụ và giá trị kinh tế. Việc đầu tư cơ sở nghiên cứu, phòng thí nghiệm, trung tâm công nghệ và đào tạo nhân lực chỉ phát huy hiệu quả khi gắn với nhu cầu thực tiễn của doanh nghiệp và định hướng phát triển của địa phương.
Sự khác biệt về năng lực đổi mới sáng tạo giữa các địa phương cũng đặt ra yêu cầu điều chỉnh chính sách theo điều kiện cụ thể. Theo kết quả Chỉ số đổi mới sáng tạo cấp địa phương năm 2025, được xây dựng trên 52 chỉ tiêu thuộc bảy trụ cột, Hà Nội đạt 65,68 điểm, đứng đầu cả nước; tiếp theo là TP. Hồ Chí Minh, Quảng Ninh, Hải Phòng, thành phố Huế, Bắc Ninh, Hưng Yên, Đà Nẵng, Khánh Hòa và Cần Thơ (Bộ Khoa học và Công nghệ, 2025b). Kết quả này phản ánh sự khác biệt giữa các địa phương về điều kiện thể chế, nguồn nhân lực, cơ sở hạ tầng, thị trường, năng lực tạo lập tri thức và kết quả đổi mới sáng tạo.
Do đó, chính sách phát triển tri thức và công nghệ cần gắn kết chặt chẽ hơn giữa nghiên cứu, đào tạo, chuyển giao công nghệ và nhu cầu đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp. Đồng thời, cần xác định lĩnh vực ưu tiên phù hợp với lợi thế, nguồn lực và trình độ phát triển của từng địa phương, qua đó nâng cao khả năng ứng dụng tri thức và tạo ra giá trị thực tiễn.
3.3. Chính sách phát triển các thành tố trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo địa phương
Hệ sinh thái đổi mới sáng tạo địa phương bao gồm các chủ thể có chức năng và nguồn lực khác nhau nhưng có mối quan hệ phụ thuộc, bổ trợ lẫn nhau. Có thể phân thành hai nhóm chính: nhóm trực tiếp tạo lập, ứng dụng và thương mại hóa giá trị đổi mới sáng tạo, gồm doanh nghiệp, doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, nhà đầu tư và người tiêu dùng; nhóm cung cấp tri thức, công nghệ và dịch vụ hỗ trợ, gồm cơ sở giáo dục đại học, viện nghiên cứu, tổ chức trung gian, hiệp hội nghề nghiệp, đơn vị tư vấn, cơ quan truyền thông và cơ quan quản lý nhà nước.
Trong hệ sinh thái này, doanh nghiệp giữ vai trò quan trọng trong việc chuyển hóa tri thức và công nghệ thành sản phẩm, dịch vụ đáp ứng nhu cầu thị trường. Tuy nhiên, hạn chế về nguồn lực tài chính làm giảm khả năng đầu tư cho nghiên cứu, đổi mới công nghệ và phát triển sản phẩm của nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa. Năm 2024, hơn 90% doanh nghiệp nhỏ và vừa có quy mô vốn dưới 10 tỷ đồng, trong khi dư nợ tín dụng dành cho khu vực này chỉ chiếm gần 17,6%. Thực trạng đó cho thấy, cần có chính sách hỗ trợ phù hợp với năng lực tài chính và nhu cầu đổi mới của doanh nghiệp (Báo Điện tử Chính phủ, 27/02/2025). Theo hướng này, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp cần kết hợp tư vấn đánh giá trình độ công nghệ, xây dựng lộ trình đổi mới, đào tạo nhân lực, kết nối chuyên gia, tổ chức thử nghiệm và hỗ trợ tiếp cận thị trường. Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, cần khuyến khích sử dụng chung phòng thí nghiệm, trung tâm thiết kế, cơ sở thử nghiệm và dịch vụ chuyên gia nhằm giảm chi phí đầu tư, đồng thời, mở rộng khả năng tiếp cận công nghệ.
Bên cạnh đó, chính sách thu hút đầu tư cần chú trọng khả năng lan tỏa tri thức và công nghệ tới doanh nghiệp trong nước. Việc khuyến khích nhà đầu tư hợp tác với nhà cung cấp nội địa, tổ chức đào tạo kỹ thuật, nghiên cứu chung, chuyển giao quy trình và sử dụng nhân lực địa phương sẽ góp phần nâng cao năng lực công nghệ của doanh nghiệp, tăng mức độ tham gia của doanh nghiệp trong nước vào chuỗi cung ứng. Đối với cơ sở giáo dục đại học và viện nghiên cứu, chính sách cần khuyến khích phát triển các nhóm nghiên cứu liên ngành, phòng thí nghiệm hợp tác, doanh nghiệp khoa học và công nghệ, trung tâm chuyển giao công nghệ và cơ chế chia sẻ lợi ích từ thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Qua đó, tăng cường kết nối giữa hoạt động nghiên cứu, đào tạo với nhu cầu công nghệ của doanh nghiệp và yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội tại địa phương. Đối với các tổ chức trung gian, hiệp hội nghề nghiệp và đơn vị tư vấn, cần thúc đẩy phát triển dịch vụ hỗ trợ về sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn chất lượng, tư vấn pháp lý, môi giới công nghệ, định giá tài sản trí tuệ, kết nối tài chính và tiếp cận thị trường. Các dịch vụ này giúp giảm chi phí giao dịch, hạn chế rủi ro và tạo điều kiện để các chủ thể tham gia hệ sinh thái hợp tác hiệu quả hơn.
Cơ quan báo chí và truyền thông cũng có vai trò hỗ trợ hệ sinh thái thông qua phổ biến tri thức, giới thiệu mô hình đổi mới sáng tạo hiệu quả và cung cấp thông tin về công nghệ, thị trường, chính sách. Qua đó, truyền thông góp phần nâng cao nhận thức, thúc đẩy văn hóa đổi mới sáng tạo và giảm bất cân xứng thông tin giữa các chủ thể.
Như vậy, chính sách phát triển các thành tố cần được thiết kế theo hướng vừa nâng cao năng lực của từng chủ thể, vừa tạo điều kiện để các chủ thể bổ trợ và hợp tác với nhau. Đây là cơ sở để hình thành một hệ sinh thái có khả năng huy động nguồn lực, chia sẻ tri thức và thúc đẩy thương mại hóa kết quả đổi mới sáng tạo.
3.4. Chính sách xác lập nhu cầu đổi mới sáng tạo của địa phương
Nhu cầu đổi mới sáng tạo là căn cứ để xác định lĩnh vực ưu tiên, định hướng hoạt động nghiên cứu và phân bổ nguồn lực trong hệ sinh thái địa phương. Nhu cầu này xuất phát từ hai nguồn chủ yếu. Thứ nhất, yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội, như: nâng cao năng suất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, bảo vệ môi trường, cải thiện chất lượng dịch vụ công và nâng cao đời sống người dân. Thứ hai, nhu cầu đổi mới của doanh nghiệp và các tổ chức, bao gồm phát triển sản phẩm, cải tiến quy trình, giảm chi phí, đáp ứng tiêu chuẩn và mở rộng thị trường.
Một số địa phương đã bước đầu đưa khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo vào định hướng phát triển. Ninh Bình ban hành chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo giai đoạn 2022 – 2030, tầm nhìn đến năm 2040; Hà Nội xây dựng kế hoạch thực hiện chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đến năm 2030; Đà Nẵng triển khai Đề án “Đà Nẵng – Thành phố đổi mới sáng tạo”. Những định hướng này tạo cơ sở để các địa phương xác định lĩnh vực ưu tiên và bố trí nguồn lực phù hợp.
Tuy nhiên, việc xác lập nhu cầu đổi mới sáng tạo cần dựa sát hơn vào những vấn đề thực tiễn của địa phương và nhu cầu cụ thể của doanh nghiệp. Nếu ưu tiên chính sách chủ yếu được xác định từ phía cơ quan quản lý mà chưa có sự tham gia đầy đủ của doanh nghiệp, cơ sở nghiên cứu và người sử dụng, hoạt động nghiên cứu và phát triển công nghệ có thể chưa đáp ứng đúng nhu cầu thực tế. Vì vậy, địa phương cần tăng cường khảo sát nhu cầu công nghệ, dự báo xu hướng thị trường, tổ chức đối thoại thường xuyên giữa các chủ thể và triển khai cơ chế đặt hàng nghiên cứu, phát triển công nghệ dựa trên những vấn đề cần giải quyết. Đồng thời, cần thiết lập cơ chế phản hồi và đánh giá định kỳ để điều chỉnh danh mục ưu tiên theo sự thay đổi của nhu cầu phát triển. Cách tiếp cận này giúp gắn kết hoạt động nghiên cứu và đổi mới sáng tạo với yêu cầu thực tiễn, hạn chế tình trạng đầu tư dàn trải và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực.
3.5. Chính sách tạo lập và thúc đẩy tương tác giữa các thành tố
Hiệu quả của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo địa phương không chỉ phụ thuộc vào năng lực của từng chủ thể mà còn được quyết định bởi chất lượng tương tác và khả năng lưu chuyển tri thức, công nghệ, vốn và nhân lực giữa các chủ thể. Vì vậy, bên cạnh chính sách phát triển từng thành tố, cần có các cơ chế thúc đẩy hợp tác, chia sẻ nguồn lực và hình thành những mối liên kết thực chất trong hệ sinh thái.
Nghị quyết số 198/2025/QH15 cho phép địa phương sử dụng ngân sách để hỗ trợ một phần đầu tư hệ thống kết cấu hạ tầng của khu công nghiệp, cụm công nghiệp và vườn ươm công nghệ, bao gồm thu hồi đất, bồi thường, tái định cư, giao thông, điện, nước, xử lý nước thải và thông tin liên lạc. Đối với khu công nghiệp, cụm công nghiệp thành lập mới, địa phương phải dành bình quân 20 ha hoặc 5% quỹ đất đã đầu tư hạ tầng cho doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp nhỏ và vừa và doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo. Doanh nghiệp đáp ứng điều kiện được giảm tối thiểu 30% tiền thuê lại đất trong năm năm đầu (Quốc hội, 2025b). Những quy định này tạo điều kiện về hạ tầng và không gian để các doanh nghiệp, tổ chức nghiên cứu và chủ thể hỗ trợ tập trung hoạt động, tăng cơ hội hợp tác. Tuy nhiên, hạ tầng vật chất mới tạo tiền đề cho sự liên kết; hiệu quả thực tế còn phụ thuộc vào cơ chế kết nối và các hoạt động hợp tác cụ thể. Vì vậy, chính sách cần khuyến khích triển khai các chương trình nghiên cứu chung, chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực, kết nối đầu tư và thương mại hóa kết quả nghiên cứu giữa doanh nghiệp với viện nghiên cứu, cơ sở giáo dục đại học và các tổ chức trung gian.
Kết quả khảo sát 186 người có kinh nghiệm liên quan đến chính sách khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo vào tháng 12/2025 cho thấy, cả sáu nhóm chính sách đều được đánh giá ở mức cao. Cụ thể, chính sách ưu đãi tài chính cho nhà đầu tư đạt 4,33 điểm; phát triển nhân lực và tinh thần đổi mới sáng tạo đạt 4,28 điểm; đơn giản hóa thủ tục hành chính đạt 4,28 điểm; tạo điều kiện liên kết giữa viện nghiên cứu, cơ sở giáo dục đại học và doanh nghiệp đạt 4,26 điểm; phát triển các kênh hỗ trợ vốn đạt 4,25 điểm; ưu tiên phát triển, truyền bá và ứng dụng tri thức phù hợp với địa phương đạt 4,23 điểm trên thang đo 5 mức.
Theo đó, các chủ thể không chỉ quan tâm đến ưu đãi tài chính và khả năng tiếp cận vốn mà còn đánh giá cao chính sách phát triển nhân lực, cải cách thủ tục hành chính, thúc đẩy liên kết viện – trường – doanh nghiệp và ứng dụng tri thức phù hợp với điều kiện địa phương. Điều này cho thấy chính sách thúc đẩy tương tác cần được triển khai đồng bộ với chính sách phát triển năng lực của từng chủ thể và xác lập nhu cầu đổi mới sáng tạo.
Trên cơ sở đó, địa phương cần xây dựng các cơ chế kết nối thường xuyên, hỗ trợ hình thành mạng lưới hợp tác và khuyến khích chia sẻ nguồn lực giữa các chủ thể. Đồng thời, cần đánh giá hiệu quả chính sách thông qua kết quả hợp tác cụ thể, khả năng ứng dụng công nghệ, mức độ thương mại hóa kết quả nghiên cứu và giá trị gia tăng tạo ra cho doanh nghiệp, địa phương. Đây là cơ sở để chuyển từ hỗ trợ riêng lẻ sang phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo có tính liên kết, khả năng thích ứng và hiệu quả bền vững.
4. Những vấn đề đặt ra trong thực thi và đánh giá chính sách phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo địa phương
4.1. Những hạn chế trong tổ chức thực thi chính sách
Mặc dù khung chính sách phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo ở Việt Nam ngày càng được hoàn thiện, hiệu quả triển khai tại các địa phương còn phụ thuộc vào năng lực tổ chức thực hiện, khả năng huy động nguồn lực và mức độ phối hợp giữa các chủ thể. Chính sách chỉ phát huy tác dụng khi được cụ thể hóa thành các chương trình, hoạt động phù hợp với điều kiện phát triển và nhu cầu đổi mới sáng tạo của từng địa phương.
Một trong những vấn đề đặt ra là sự phân tán nguồn lực và thiếu đồng bộ trong tổ chức thực hiện. Các chương trình hỗ trợ nghiên cứu, phát triển công nghệ, khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo có thể thuộc phạm vi quản lý của nhiều cơ quan, trong khi cơ chế phối hợp, chia sẻ thông tin và theo dõi kết quả chưa được liên kết chặt chẽ. Điều này có thể làm gia tăng chi phí tiếp cận chính sách, gây khó khăn cho doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong việc tìm kiếm thông tin, sử dụng các nguồn hỗ trợ và kết nối với cơ sở nghiên cứu.
Bên cạnh đó, năng lực thực thi và khả năng tiếp cận nguồn lực giữa các địa phương không đồng đều. Những địa phương có tiềm lực kinh tế, nguồn nhân lực chất lượng cao và cơ sở nghiên cứu phát triển thường có điều kiện thuận lợi hơn trong thu hút đầu tư, tiếp nhận công nghệ và hình thành mạng lưới hợp tác. Ngược lại, các địa phương còn hạn chế về nguồn lực có thể gặp khó khăn trong triển khai các chương trình hỗ trợ, phát triển hạ tầng đổi mới sáng tạo và kết nối doanh nghiệp với trường đại học, viện nghiên cứu. Vì vậy, việc áp dụng chính sách cần gắn với điều kiện thực tế, đồng thời có cơ chế hỗ trợ phù hợp với năng lực và nhu cầu của từng địa phương.
Để khắc phục những hạn chế này, cần tăng cường phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước, phân định rõ trách nhiệm của từng chủ thể và nâng cao tính liên thông giữa các chương trình hỗ trợ. Quá trình thực thi cần có cơ chế tiếp nhận phản hồi từ doanh nghiệp, trường đại học, viện nghiên cứu và các tổ chức trung gian để kịp thời điều chỉnh chính sách. Đối với những mô hình hoặc công cụ chính sách mới, có thể triển khai thí điểm trong phạm vi phù hợp, xác định rõ mục tiêu, nguồn lực, tiêu chí đánh giá và điều kiện nhân rộng. Cách tiếp cận này góp phần nâng cao tính linh hoạt trong quản lý, hạn chế việc triển khai hình thức và bảo đảm nguồn lực chính sách được sử dụng đúng trọng tâm.
4.2. Đánh giá hiệu quả và tính bền vững của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo địa phương
Đánh giá hiệu quả chính sách là cơ sở để xác định mức độ đạt được mục tiêu, khả năng sử dụng nguồn lực và những vấn đề cần điều chỉnh trong quá trình thực hiện. Đối với hệ sinh thái đổi mới sáng tạo địa phương, việc đánh giá không nên chỉ dựa vào số lượng doanh nghiệp khởi nghiệp, dự án được hỗ trợ hoặc quy mô vốn đầu tư, mà cần xem xét cả khả năng hình thành liên kết, chuyển giao và thương mại hóa công nghệ, cũng như đóng góp của hoạt động đổi mới sáng tạo đối với phát triển kinh tế – xã hội.
Trên cơ sở đó, hệ thống đánh giá cần bao quát bốn nhóm tiêu chí cơ bản. Thứ nhất, nhóm tiêu chí về nguồn lực đầu vào, gồm kinh phí dành cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, nguồn nhân lực nghiên cứu, cơ sở hạ tầng và khả năng tiếp cận các chương trình hỗ trợ. Thứ hai, nhóm tiêu chí về hoạt động và kết quả, tập trung vào mức độ tham gia nghiên cứu và phát triển của doanh nghiệp, số lượng và chất lượng kết quả nghiên cứu ứng dụng, khả năng chuyển giao công nghệ, thương mại hóa sản phẩm và phát triển doanh nghiệp đổi mới sáng tạo. Thứ ba, nhóm tiêu chí về liên kết hệ sinh thái, phản ánh mức độ hợp tác giữa doanh nghiệp với trường đại học, viện nghiên cứu, tổ chức trung gian và cơ quan quản lý nhà nước; đồng thời, xem xét khả năng chia sẻ tri thức, sử dụng chung nguồn lực và hình thành các mạng lưới đổi mới sáng tạo. Thứ tư, nhóm tiêu chí về tác động và tính bền vững, xem xét đóng góp của đổi mới sáng tạo đối với năng suất lao động, việc làm, năng lực cạnh tranh, giải quyết các vấn đề phát triển của địa phương và khả năng duy trì hoạt động đổi mới sáng tạo trong dài hạn.
Việc xây dựng bộ tiêu chí cần bảo đảm tính thống nhất, khả năng đo lường và phù hợp với đặc điểm của từng địa phương. Các chỉ số cần được xác định rõ về nội dung, phương pháp thu thập dữ liệu, chu kỳ cập nhật và cơ quan chịu trách nhiệm; đồng thời, cần kết hợp giữa chỉ số định lượng với đánh giá định tính để phản ánh đầy đủ kết quả thực hiện chính sách. Việc so sánh giữa các địa phương cần dựa trên những tiêu chí chung, nhưng vẫn tính đến sự khác biệt về quy mô kinh tế, cơ cấu ngành, nguồn lực khoa học và công nghệ, tránh áp dụng một cách máy móc cùng một chuẩn đánh giá cho mọi địa phương.
Bên cạnh đó, đánh giá cần được thực hiện thường xuyên và gắn với quá trình điều chỉnh chính sách. Kết quả đánh giá không chỉ phục vụ công tác tổng kết mà còn phải cung cấp căn cứ để xác định những chương trình có hiệu quả, nhận diện các điểm nghẽn trong liên kết hệ sinh thái và phân bổ nguồn lực theo nhu cầu thực tế. Việc công khai thông tin phù hợp và tăng cường sự tham gia của doanh nghiệp, cơ sở nghiên cứu cùng các tổ chức liên quan cũng góp phần nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm giải trình trong thực thi chính sách.
Kết quả khảo sát 186 phiếu hợp lệ của nghiên cứu cho thấy, các nhóm chính sách được hỏi đều nhận được mức đánh giá tương đối cao về tầm quan trọng, với điểm trung bình từ 4,23 đến 4,33 trên thang đo 5 mức. Kết quả này phản ánh sự quan tâm của người trả lời đối với các chính sách hỗ trợ tài chính, phát triển nhân lực, đơn giản hóa thủ tục hành chính, ưu tiên tri thức phù hợp với địa phương và tăng cường liên kết giữa các chủ thể.
5. Kết luận
Phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo địa phương là quá trình đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ giữa hoàn thiện thể chế, huy động nguồn lực, nâng cao năng lực các chủ thể và thúc đẩy liên kết trong hệ sinh thái. Tại Việt Nam, hệ thống chính sách hỗ trợ đã từng bước được hoàn thiện, tạo nền tảng cho phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp ở các địa phương. Tuy nhiên, hiệu quả chính sách vẫn chịu ảnh hưởng bởi sự phân tán nguồn lực, liên kết chưa chặt chẽ giữa các chủ thể, mức độ gắn kết chưa đồng đều giữa nghiên cứu, phát triển công nghệ với nhu cầu thực tiễn, cũng như những hạn chế trong tổ chức thực thi và đánh giá tác động chính sách. Do đó, hoàn thiện chính sách cần hướng tới cách tiếp cận phát triển hệ sinh thái một cách tổng thể, trong đó tăng cường vai trò điều phối của Nhà nước, phát huy vai trò trung tâm của doanh nghiệp, thúc đẩy hợp tác giữa doanh nghiệp với cơ sở giáo dục đại học, tổ chức nghiên cứu và các tổ chức trung gian. Đồng thời, cần gắn các chương trình hỗ trợ với nhu cầu và lợi thế của từng địa phương, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực và xây dựng cơ chế đánh giá dựa trên kết quả, tác động và tính bền vững. Việc triển khai đồng bộ các định hướng này sẽ góp phần nâng cao hiệu quả thực thi chính sách, tăng cường năng lực liên kết và chuyển hóa tri thức, công nghệ thành giá trị kinh tế – xã hội, qua đó, thúc đẩy hệ sinh thái đổi mới sáng tạo địa phương phát triển phù hợp với điều kiện thực tiễn và đóng góp vào năng lực đổi mới sáng tạo quốc gia.
Tài liệu tham khảo:
Báo Điện tử Chính phủ (27/02/2025). Thường trực Chính phủ làm việc với các doanh nghiệp nhỏ và vừa. https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/tong-thuat-thuong-truc-chinh-phu-lam-viec-voi-cac-doanh-nghiep-vua-va-nho-119250227145355305.htm?
Bộ Khoa học và Công nghệ (2025a). Nhân lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo Việt Nam 2024. Nxb Khoa học và Kỹ thuật.
Bộ Khoa học và Công nghệ (2025b). Báo cáo Chỉ số đổi mới sáng tạo cấp địa phương năm 2025: Thực trạng mô hình phát triển kinh tế – xã hội dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
Chính phủ (2025). Nghị định số 97/2025/NĐ-CP ngày 05/5/2025 quy định cơ chế, chính sách ưu đãi đối với Trung tâm Đổi mới sáng tạo Quốc gia.
Quốc hội (2024). Luật Thủ đô năm 2024.
Quốc hội (2025a). Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo số 93/2025/QH15 ngày 27/6/2025.
Quốc hội (2025b). Nghị quyết số 198/2025/QH15 ngày 17/5/2025 về một số cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân.
Thủ tướng Chính phủ (2016). Quyết định số 844/QĐ-TTg ngày 18/5/2016 phê duyệt Đề án “Hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia đến năm 2025”.
Thủ tướng Chính phủ (2021). Quyết định số 188/QĐ-TTg ngày 09/02/2021 sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 844/QĐ-TTg ngày 18/5/2016 về việc phê duyệt Đề án “Hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia đến năm 2025”.



