Thực trạng truyền thông chính trị đối với người lao động trong các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân ở Hà Nội

Current situation of political communication with workers in private-sector enterprises in Hanoi

NCS. Đặng Anh Phương
Công ty TNHH Đầu tư và Sản xuất Đại Việt (Daveco Group)
Email: phuong@daveco.com.vn

(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết đánh giá thực trạng truyền thông chính trị đối với người lao động trong các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân ở thành phố Hà Nội và xác định những vấn đề đặt ra đối với quản lý nhà nước. Tiếp cận truyền thông chính trị như một quá trình tương tác hai chiều, bài viết phân tích văn bản chính sách, pháp luật, tổng hợp số liệu thống kê chính thức, trong đó có kết quả sơ bộ Tổng điều tra kinh tế năm 2026 và đối chiếu thực hành đã công bố với khuyến nghị quốc tế. Kết quả cho thấy khuôn khổ chính sách, nội dung và hệ sinh thái kênh truyền thông đã được mở rộng; truyền thông pháp luật, đối thoại và chăm lo quyền lợi người lao động ngày càng gắn kết. Tuy nhiên, độ bao phủ vẫn chưa đều, phương thức một chiều vẫn phổ biến, dữ liệu đánh giá còn phân tán và phản hồi chưa luôn được chuyển thành hành động. Bài viết sử dụng thống nhất khái niệm “doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân” theo tinh thần Nghị quyết số 68-NQ/TW, áp dụng chuỗi đánh giá điều kiện – quá trình – đầu ra – kết quả và đề xuất khuyến nghị nhằm tăng tính bao trùm, khả năng đáp ứng và an toàn dữ liệu.

Từ khóa: Truyền thông chính trị; người lao động; doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân; quản lý nhà nước; Hà Nội.

Abstract: This article assesses the current state of political communication regarding workers in private-sector enterprises in Hanoi and identifies the challenges facing state management. Approaching political communication as a two-way interactive process, the article analyzes policy and legal documents reviewed as of September 30, 2026, compiles official statistical data including preliminary results from the 2026 National Economic Census and compares published practices with international recommendations. The results show that the policy framework, content, and ecosystem of communication channels have expanded; legal communication, dialogue, and the protection of workers’ rights are becoming increasingly integrated. However, coverage remains uneven, one-way communication methods are still prevalent, evaluation data remains scattered, and feedback is not always translated into action. This article consistently uses the term “private-sector enterprises” in accordance with the spirit of Resolution No. 68-NQ/TW, applies an evaluation framework covering conditions, processes, outputs, and outcomes, and proposes recommendations to enhance inclusivity, responsiveness, and data security.

Keywords: Political communication; workers; private-sector enterprises; public governance; Hanoi.

1. Đặt vấn đề

Kinh tế tư nhân được xác định là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc dân. Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị đặt mục tiêu đến năm 2030 kinh tế tư nhân đóng góp khoảng 55-58% GDP và giải quyết việc làm cho khoảng 84-85% tổng số lao động, đồng thời nhấn mạnh củng cố niềm tin, bảo đảm quyền tài sản, quyền tự do kinh doanh và xây dựng quan hệ giữa chính quyền với doanh nghiệp minh bạch, liêm chính, đồng hành (Bộ Chính trị, 2025). Như vậy, khu vực kinh tế tư nhân sẽ là nơi làm việc của đại bộ phận lực lượng lao động; người lao động ở đây vừa là lực lượng sản xuất, vừa là công dân có quyền tiếp cận thông tin, đối thoại, tham gia và giám sát việc thực hiện chính sách liên quan đến việc làm, thu nhập và an sinh.

Hà Nội là địa bàn có quy mô doanh nghiệp rất lớn. Kết quả Tổng điều tra kinh tế năm 2026 cho thấy, năm 2025 Thành phố có 164.783 doanh nghiệp đang hoạt động, chiếm 19,2% tổng số doanh nghiệp cả nước, sử dụng khoảng 2,77 triệu lao động (Thời báo Tài chính Việt Nam, 2026); trên phạm vi cả nước, gần 830 nghìn trong số 859.048 doanh nghiệp đang hoạt động thuộc khu vực ngoài nhà nước (Cục Thống kê, 2026). Khu vực kinh tế tư nhân hiện đóng góp khoảng 45-50% GRDP và tạo ra khoảng 80% việc làm mới hằng năm của Thủ đô (Báo Người Hà Nội, 2026). Quy mô lớn đi kèm khác biệt về ngành nghề, địa bàn, loại hợp đồng, ca làm việc, trình độ, khả năng tiếp cận số và mức độ hiện diện của tổ chức đảng, công đoàn.

Trong môi trường truyền thông lai ghép, người lao động nhận thông tin từ cơ quan nhà nước, công đoàn, doanh nghiệp, báo chí, ứng dụng nhắn tin và mạng xã hội; thông điệp chính thống phải cạnh tranh với nội dung ngắn, giàu cảm xúc, được thuật toán phân phối và có thể thiếu bối cảnh. Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị vừa đặt yêu cầu đổi mới quản trị trên nền dữ liệu, vừa đặt ra trách nhiệm bảo đảm an ninh, an toàn và quyền lợi của con người trong không gian số (Bộ Chính trị, 2024). Từ bối cảnh đó, bài viết trả lời hai câu hỏi: truyền thông chính trị đối với người lao động trong các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân ở Hà Nội hiện nay đạt được gì, vướng ở đâu; và quản lý nhà nước cần điều chỉnh theo hướng nào.

2. Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

2.1. Cơ sở lý thuyết

Truyền thông chính trị được tiếp cận là quá trình có mục đích, trong đó các chủ thể chính trị, quản lý nhà nước, tổ chức công đoàn, doanh nghiệp, báo chí và người lao động tạo lập, chuyển tải, diễn giải và phản hồi thông tin về giá trị chính trị, chủ trương, chính sách, pháp luật và các vấn đề công liên quan đến đời sống lao động. Trong không gian công cộng bị phân mảnh, truyền thông chính trị không còn là dòng chảy một chiều từ chủ thể quyền lực tới công chúng mà đòi hỏi lắng nghe, giải trình và đồng kiến tạo ý nghĩa (Bennett & Pfetsch, 2018). Khuyến nghị quốc tế cũng coi truyền thông công là chức năng chiến lược của quản trị, phục vụ đối thoại, niềm tin và kết quả chính sách chứ không chỉ quảng bá hoạt động của cơ quan công quyền (OECD, 2021).

Khái niệm “doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân” được sử dụng theo tinh thần Nghị quyết số 68-NQ/TW để chỉ các doanh nghiệp do tổ chức, cá nhân trong nước sở hữu hoặc chi phối và không thuộc diện doanh nghiệp nhà nước theo khoản 11 Điều 4 Luật Doanh nghiệp (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2025), gồm công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân (Văn phòng Quốc hội, 2025a). Phạm vi này rộng hơn loại hình “doanh nghiệp tư nhân” do một cá nhân làm chủ theo Luật Doanh nghiệp; việc dùng thống nhất cụm từ này giúp tránh đồng nhất đối tượng nghiên cứu với một loại hình pháp lý cụ thể và phù hợp với cách dùng trong Nghị quyết số 48/2026/NQ-HĐND (Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội, 2026). Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là thành phần kinh tế riêng, không phải trọng tâm của bài viết.

2.2. Phương pháp nghiên cứu

Bài viết sử dụng phương pháp phân tích văn bản chủ trương, chính sách, pháp luật; tổng hợp số liệu thống kê chính thức; và đối chiếu các thực hành đã được cơ quan có thẩm quyền công bố với khuyến nghị của OECD, Tổ chức Lao động quốc tế và Hiệp hội quốc tế về Đo lường và Đánh giá truyền thông (AMEC). Mốc rà soát văn bản là ngày 30/9/2026; các dự án luật đang được chuẩn bị trình Quốc hội được nêu riêng, không sử dụng như căn cứ pháp lý hiện hành. Thực trạng được nhận diện theo chuỗi điều kiện – quá trình – đầu ra – kết quả: điều kiện gồm căn cứ pháp lý, nguồn lực, dữ liệu, quyền tiếp cận nơi làm việc và cơ chế phối hợp; quá trình gồm khảo sát nhu cầu, phân đoạn công chúng, xây dựng thông điệp, lựa chọn kênh và xử lý phản hồi; đầu ra gồm sản phẩm, sự kiện, độ phủ và tương tác; kết quả là thay đổi về hiểu biết, niềm tin có căn cứ, chất lượng đối thoại và hành vi tham gia hợp pháp (AMEC, 2025; OECD, 2021).

Ba nguyên tắc được dùng để đọc bằng chứng: tách độ phủ tiềm năng khỏi tiếp cận hữu ích; tách sự hài lòng tức thời khỏi niềm tin và hành vi bền vững; tách im lặng khỏi đồng thuận, bởi ít kiến nghị có thể do quy trình tốt nhưng cũng có thể do thiếu kênh hoặc e ngại bất lợi. Do chưa sử dụng bộ dữ liệu khảo sát sơ cấp đại diện, các nhận định về mức độ tiếp cận, tin tưởng hoặc thay đổi hành vi không được lượng hóa bằng tỷ lệ tự tạo; đây là giới hạn cần công khai để tránh biến mô tả hoạt động thành kết luận về hiệu quả.

3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận

3.1. Khuôn khổ thể chế

Hành lang pháp lý liên quan đến truyền thông chính trị với người lao động đã được bổ sung đáng kể. Bộ luật Lao động năm 2019 quy định đối thoại tại nơi làm việc và thương lượng tập thể; Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở năm 2022 xác lập những nội dung người lao động được biết, tham gia ý kiến, quyết định và kiểm tra, giám sát; Luật Công đoàn năm 2024 tiếp tục xác định chức năng đại diện, chăm lo, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động (Quốc hội, 2019, 2022, 2024a). Luật số 97/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung Luật Công đoàn và Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở có hiệu lực từ ngày 01/7/2025 (Quốc hội, 2025e). Các văn bản hợp nhất Luật Doanh nghiệp, Luật Công đoàn và Bộ luật Lao động là nguồn tra cứu thuận tiện, song chỉ mang tính kỹ thuật, không tự tạo ra hiệu lực pháp lý độc lập (Văn phòng Quốc hội, 2025a, 2025b, 2026).

Đối với khu vực kinh tế tư nhân, khuôn khổ chính sách đã chuyển nhanh từ định hướng sang cơ chế cụ thể. Nghị quyết số 198/2025/QH15 của Quốc hội quy định việc thanh tra, kiểm tra một doanh nghiệp không quá một lần trong năm (trừ trường hợp có dấu hiệu vi phạm rõ ràng) cùng các chính sách hỗ trợ về mặt bằng, tín dụng, thuế và mua sắm công; Chính phủ ban hành Nghị quyết số 138/NQ-CP và Nghị quyết số 139/NQ-CP để tổ chức thực hiện (Chính phủ, 2025a, 2025b; Quốc hội, 2025g). Luật số 76/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung Luật Doanh nghiệp bổ sung quy định về chủ sở hữu hưởng lợi và điều chỉnh khái niệm doanh nghiệp nhà nước (Quốc hội, 2025d). Luật Thủ đô số 02/2026/QH16, có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, là căn cứ để Hội đồng nhân dân Thành phố ban hành Nghị quyết số 48/2026/NQ-HĐND về hỗ trợ doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân, trong đó điều kiện hưởng hỗ trợ gắn với tạo việc làm bền vững cho người lao động và thực hiện trách nhiệm xã hội (Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội, 2026; Quốc hội, 2026a). Chỉ thị số 12-CT/TW ngày 19/8/2026 của Ban Bí thư, thay thế Chỉ thị số 33-CT/TW năm 2019, yêu cầu đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục và tăng cường phối hợp giữa cấp ủy với Công đoàn, Đoàn Thanh niên trong khu vực kinh tế tư nhân (Ban Bí thư, 2026).

Nhóm luật về thông tin và quản trị số tạo lớp điều kiện mới cho nội dung, kênh và dữ liệu truyền thông: Luật Dữ liệu có hiệu lực từ ngày 01/7/2025; Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân từ ngày 01/01/2026; Luật An ninh mạng và Luật Báo chí từ ngày 01/7/2026; Luật Tiếp cận thông tin số 01/2026/QH16 từ ngày 01/9/2026 (Quốc hội, 2024b, 2025a, 2025b, 2025c, 2026b). Ở cấp điều hành, Quyết định số 407/QĐ-TTg và Chỉ thị số 7/CT-TTg đặt yêu cầu truyền thông chính sách sớm, chủ động, có sự tham gia; Kế hoạch số 263/KH-UBND của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội cụ thể hóa việc tuyên truyền Nghị quyết số 68-NQ/TW (Thủ tướng Chính phủ, 2022, 2023; Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội, 2025). Hệ thống văn bản vẫn đang thay đổi: các dự án Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở (sửa đổi), Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động và một số luật khác, Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa đang được chuẩn bị trình Quốc hội tại Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XVI (Báo Điện tử Chính phủ, 2026). Vì vậy, truyền thông phải tách bạch văn bản đã có hiệu lực với dự thảo.

3.2. Những chuyển biến tích cực

Thứ nhất, mục tiêu truyền thông được đặt gần hơn với quản trị đáp ứng. Truyền thông không chỉ nhằm phổ biến kết quả ban hành mà còn hỗ trợ xây dựng chính sách, giải thích tác động và tiếp nhận phản ứng xã hội, phù hợp với khuyến nghị coi truyền thông công là chức năng chiến lược của quản trị (OECD, 2021, 2025b).

Thứ hai, nội dung dành cho người lao động đã mở rộng từ tuyên truyền chủ trương chung sang các vấn đề tác động trực tiếp tới quyết định hằng ngày như hợp đồng, tiền lương, bảo hiểm xã hội, an toàn, vệ sinh lao động, nhà ở, học nghề và dịch vụ công. Luật Việc làm số 74/2025/QH15, có hiệu lực từ ngày 01/01/2026, làm mới chính sách việc làm, bảo hiểm thất nghiệp và phát triển kỹ năng; đây là nhóm nội dung cần được giải thích theo tình huống, không chỉ đọc lại điều khoản (Quốc hội, 2025f).

Thứ ba, vai trò trung gian của công đoàn và các thiết chế phổ biến, giáo dục pháp luật rõ hơn. Hoạt động truyền thông pháp luật cho công nhân Khu công nghiệp Nội Bài năm 2025 và việc Công đoàn Hà Nội tuyên truyền Luật Thủ đô tới đoàn viên, người lao động năm 2026 cho thấy nội dung pháp luật đã được đưa trực tiếp tới nơi làm việc (Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật thành phố Hà Nội, 2025, 2026). Riêng 7 tháng đầu năm 2026, Công đoàn Hà Nội thành lập 1.381 công đoàn cơ sở và kết nạp 53.474 đoàn viên, tập trung vào khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước (Báo Nhân Dân, 21/7/2026); đây là tiền đề để mở rộng kênh truyền thông trực tiếp.

Thứ tư, hệ sinh thái kênh đa dạng hơn. Bên cạnh hội nghị, sinh hoạt công đoàn, bảng tin và tài liệu in, các chủ thể sử dụng cổng thông tin, báo điện tử, mạng xã hội, nhóm nhắn tin, ứng dụng nội bộ và mã phản hồi. Sự kết hợp trực tiếp – số giúp thông tin đến với người làm ca, người làm việc phân tán và tạo dữ liệu về câu hỏi thường gặp, nếu được thu thập hợp pháp và phân tích đúng mục đích.

Thứ năm, năng lực cập nhật và điều kiện dữ liệu được cải thiện. Các văn bản mới về kinh tế tư nhân, Thủ đô, tiếp cận thông tin, dữ liệu, công đoàn và việc làm được ban hành dày trong giai đoạn 2024-2026 buộc hệ thống truyền thông cập nhật nhanh hơn. Tổng điều tra kinh tế năm 2026 đã công bố kết quả sơ bộ và dự kiến công bố kết quả chính thức vào tháng 12/2026; nếu được khai thác ở dạng tổng hợp, bảo vệ bí mật thống kê và dữ liệu cá nhân, kết quả có thể giúp lập bản đồ doanh nghiệp theo ngành, địa bàn, loại hình sở hữu và mức sẵn sàng số (Cục Thống kê, 2026).

Những chuyển biến trên làm tăng khả năng tiếp xúc của người lao động với nguồn thông tin chính thức, gắn thông tin chính trị – pháp lý với quyền lợi và dịch vụ cụ thể, đồng thời mở rộng khả năng phản hồi. Tuy nhiên, bằng chứng công khai hiện chủ yếu phản ánh hoạt động và độ phủ, chưa đủ để kết luận đồng đều về thay đổi nhận thức, niềm tin hoặc hành vi của toàn bộ người lao động trong các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân.

3.3. Hạn chế, điểm nghẽn và nguyên nhân

Một là, độ bao phủ còn không đều. Mạng lưới công đoàn và hạ tầng truyền thông thuận lợi hơn ở doanh nghiệp lớn, địa bàn tập trung; doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ, phân tán và nhóm lao động có quan hệ việc làm linh hoạt dễ nằm ngoài các đợt truyền thông trực tiếp. Với 164.783 doanh nghiệp đang hoạt động và quy mô bình quân chưa đến 17 lao động/doanh nghiệp (Thời báo Tài chính Việt Nam, 2026), cách tổ chức dựa trên hội nghị tập trung hoặc đầu mối có sẵn khó bảo đảm bao trùm nếu không có cơ chế phân tầng và chia sẻ trách nhiệm.

Hai là, phương thức một chiều và nội dung chưa phân đoạn vẫn phổ biến. Nội dung thường được soạn theo logic của cơ quan phát hành, dài, thiên về thuật ngữ pháp lý; câu hỏi “người lao động cần quyết định gì, bằng bước nào, tại đâu” chưa luôn được đặt ở trung tâm. Lao động trẻ, lao động làm ca, lao động di cư, lao động lớn tuổi, lao động khuyết tật và quản lý tuyến đầu có nhu cầu, vốn từ và thời điểm tiếp nhận khác nhau; một thông điệp chung cho tất cả có thể tạo độ phủ danh nghĩa nhưng làm tăng khoảng cách tiếp cận hữu ích.

Ba là, quyền tiếp cận nơi làm việc phụ thuộc nhiều vào người sử dụng lao động. Thời gian ca sản xuất, không gian, danh sách người tham dự, hệ thống nhắn tin và bảng tin thường do doanh nghiệp quản lý. Nếu cơ quan tổ chức chỉ tiếp cận người lao động qua danh sách do quản lý trực tiếp lựa chọn, phản hồi thu được dễ thiên về nhóm thuận lợi và khó phản ánh đầy đủ tiếng nói khác biệt.

Bốn là, phối hợp và dữ liệu còn phân mảnh. Cơ quan quản lý lao động, tư pháp, thông tin, công đoàn, chính quyền cơ sở, hiệp hội doanh nghiệp và báo chí cùng tham gia nhưng mục tiêu, lịch truyền thông, cơ sở dữ liệu và quy trình phản hồi chưa thống nhất. Cùng một chủ đề có thể được phổ biến nhiều lần cho nhóm dễ tiếp cận, trong khi nhóm khó tiếp cận vẫn thiếu thông tin; kiến nghị liên ngành không có đầu mối chịu trách nhiệm đến cùng làm suy giảm niềm tin vào kênh phản hồi.

Năm là, đo lường thiên về đầu ra và vòng phản hồi chưa khép kín. Số hội nghị, lượt người, tin bài và lượt xem thuận tiện cho báo cáo nhưng không cho biết người lao động đã hiểu đúng điểm nào, biết sử dụng cơ chế nào hay có cảm thấy an toàn khi góp ý. Nhiều hệ thống truyền thông công vẫn thiếu năng lực đo kết quả, trong khi chuẩn đánh giá quốc tế yêu cầu mục tiêu, chỉ báo và phương pháp phải được xác lập trước hoạt động (AMEC, 2025; OECD, 2025b). Nếu người lao động nhiều lần góp ý nhưng không thấy kết quả, hoạt động lấy ý kiến có thể làm tăng hoài nghi.

Sáu là, rủi ro của môi trường số gia tăng. Thuật toán có thể khuếch đại nội dung gây phẫn nộ; tài khoản giả và nội dung do trí tuệ nhân tạo tạo ra làm tăng chi phí kiểm chứng. Người lao động có thể ngại dùng kênh nội bộ nếu không biết ai được xem dữ liệu và phản hồi có ảnh hưởng đến quan hệ việc làm hay không; chênh lệch kỹ năng số khiến chiến lược “chuyển hết lên trực tuyến” có nguy cơ loại trừ (OECD, 2023; Quốc hội, 2025a, 2025c). Niềm tin còn chịu tác động của trải nghiệm chính sách: tiếp xúc chính trị chân thực có thể củng cố niềm tin, nhưng hiệu quả phụ thuộc vào tính xác thực và chất lượng tương tác (Weinberg, 2024).

Các hạn chế trên có năm nhóm nguyên nhân. Thứ nhất, nguyên nhân thể chế: trách nhiệm liên ngành, chuẩn dữ liệu và cơ chế buộc phản hồi chưa đủ cụ thể. Thứ hai, nguyên nhân kinh tế – tổ chức: số lượng doanh nghiệp lớn, quy mô nhỏ, phân tán; năng suất và liên kết của nhiều doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân trong nước với khu vực có vốn đầu tư nước ngoài còn hạn chế, trong khi việc làm phi chính thức vẫn là thách thức đối với việc bảo đảm quyền và tiếng nói của người lao động (International Labour Organization [ILO], 2026; OECD, 2025a). Thứ ba, nguyên nhân năng lực: kỹ năng phân đoạn, đối thoại, đánh giá và xử lý khủng hoảng không đồng đều. Thứ tư, nguyên nhân công nghệ: nền tảng thay đổi nhanh, dữ liệu phân mảnh và rủi ro an ninh. Thứ năm, nguyên nhân nhận thức: còn coi truyền thông là khâu phổ biến một chiều, trong khi truyền thông chính trị hiện đại đòi hỏi lắng nghe, giải trình và đồng kiến tạo ý nghĩa (Bennett & Pfetsch, 2018; ILO, 2024).

4. Kết luận và khuyến nghị

Truyền thông chính trị đối với người lao động trong các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân ở thành phố Hà Nội hiện nay đã có nền tảng thể chế rộng hơn, nội dung gần quyền lợi thiết thực hơn và hệ sinh thái kênh đa dạng hơn. Nghị quyết số 68-NQ/TW, Nghị quyết số 198/2025/QH15, Luật Thủ đô năm 2026, Nghị quyết số 48/2026/NQ-HĐND và Chỉ thị số 12-CT/TW tạo thêm căn cứ để gắn truyền thông với phát triển doanh nghiệp, việc làm bền vững và xây dựng tổ chức đảng, đoàn thể trong khu vực này. Tuy nhiên, bằng chứng công khai hiện vẫn thiên về hoạt động và độ phủ; các điểm nghẽn chủ yếu là độ bao phủ không đều, phương thức một chiều, phụ thuộc quyền tiếp cận của doanh nghiệp, phối hợp và dữ liệu phân mảnh, đo lường thiên về đầu ra, phản hồi chưa khép kín và rủi ro số gia tăng.

Thứ nhất, xác định đúng đối tượng và khoảng trống tiếp cận. Thành phố cần xây dựng bản đồ công chúng lao động dựa trên kết quả chính thức của Tổng điều tra kinh tế năm 2026 và dữ liệu đăng ký doanh nghiệp, lao động, công đoàn; phân biệt doanh nghiệp đăng ký với doanh nghiệp đang hoạt động; tách bạch doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân với doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; nhận diện nhóm không có công đoàn, làm ca, di cư, khuyết tật hoặc hạn chế kỹ năng số. Dữ liệu chỉ dùng để phân bổ nguồn lực, không biến thành hồ sơ theo dõi quan điểm cá nhân.

Thứ hai, thể chế hóa trách nhiệm phối hợp và khả năng tiếp cận nơi làm việc. Cơ chế liên ngành cần quy định đầu mối, chủ đề ưu tiên, quy trình chia sẻ thông tin và thời hạn phản hồi; việc thực hiện Chỉ thị số 12-CT/TW cần gắn với cơ chế này để tổ chức đảng, công đoàn, đoàn thanh niên thống nhất thông điệp và đầu mối tiếp nhận ý kiến. Hiệp hội doanh nghiệp và người sử dụng lao động cần được huy động để bố trí thời gian, không gian, hạ tầng và bảo đảm không gây bất lợi cho người phản hồi (Ban Bí thư, 2026; ILO, 2024).

Thứ ba, lấy quyết định của người lao động làm trung tâm nội dung. Mỗi chủ đề cần trả lời: điều gì thay đổi, ai chịu tác động, quyền và nghĩa vụ nào phát sinh, áp dụng từ khi nào, cần làm gì, hỏi ai và sử dụng cơ chế nào nếu không được giải quyết. Mốc ban hành, mốc hiệu lực và tình trạng dự thảo phải được tách bạch; với chính sách hỗ trợ theo Nghị quyết số 48/2026/NQ-HĐND, cần giải thích rõ điều kiện tạo việc làm bền vững để người lao động thấy mối liên hệ giữa ưu đãi dành cho doanh nghiệp với quyền lợi của mình.

Thứ tư, thiết kế phản hồi hai chiều an toàn và khép kín. Người lao động cần có nhiều lựa chọn như trao đổi trực tiếp, công đoàn, đường dây tư vấn, biểu mẫu ẩn danh và kênh số có thông báo quyền riêng tư; mỗi phản hồi phải có mã theo dõi, phân loại thẩm quyền, thời hạn và thông báo kết quả. Báo cáo công khai nên nêu chủ đề, tỷ lệ xử lý, thay đổi đã thực hiện và lý do chưa xử lý, không công bố dữ liệu có thể suy ngược danh tính.

Thứ năm, tổ chức hệ sinh thái kênh lai ghép với chủ thể trung gian đáng tin cậy. Kênh trực tiếp phù hợp với vấn đề phức tạp, nhạy cảm; kênh số phù hợp với cập nhật nhanh và tiếp cận người làm việc phân tán. Cán bộ công đoàn, chuyên gia pháp luật, báo chí và quản lý tuyến đầu cần được cung cấp tài liệu chuẩn, cập nhật phiên bản và quy trình đính chính; không nên phụ thuộc duy nhất vào nền tảng thương mại.

Thứ sáu, chuyển đánh giá từ sản lượng sang kết quả và công bằng. Bộ chỉ báo tối thiểu cần bao quát tiếp cận hữu ích, hiểu đúng, cảm nhận an toàn, chất lượng phản hồi, tỷ lệ vấn đề được giải quyết và thay đổi trong hành vi sử dụng quyền, dịch vụ; dữ liệu được phân tách theo quy mô doanh nghiệp, ca làm, giới, tuổi và mức hiện diện công đoàn khi mẫu đủ an toàn (AMEC, 2025; OECD, 2021).

Thứ bảy, quản trị dữ liệu, an ninh mạng và rủi ro trí tuệ nhân tạo ngay từ thiết kế: chỉ thu dữ liệu cần thiết, thông báo mục đích và thời hạn lưu, tách thông tin định danh, kiểm soát nhà cung cấp nền tảng; quyết định ảnh hưởng đến quyền lợi phải có con người kiểm tra. Việc thực hiện Luật Tiếp cận thông tin năm 2026 phải đồng thời tuân thủ Luật Dữ liệu, Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân và Luật An ninh mạng (Quốc hội, 2024b, 2025a, 2025c, 2026b).

Bảy khuyến nghị trên có quan hệ phụ thuộc lẫn nhau: không thể đo lường tốt nếu chưa xác định đúng công chúng, không thể có phản hồi thật nếu người lao động không an toàn, và không thể tạo niềm tin nếu phản hồi không chuyển thành xử lý. Trọng tâm quản lý nhà nước vì vậy là vòng tuần hoàn hiểu công chúng – giải thích rõ – tạo điều kiện tham gia – phản hồi có trách nhiệm – đo kết quả – điều chỉnh chính sách, góp phần xây dựng niềm tin có căn cứ, quan hệ lao động hài hòa và phát triển bền vững các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân của Thủ đô.

Tài liệu tham khảo:
AMEC (2025). Barcelona principles 4.0. International Association for Measurement and Evaluation of Communication. https://amecorg.com/amec-resources-centre-communication-measurement-evaluation-tools/barcelona-principles-4-0/
Bennett, W. L., & Pfetsch, B. (2018). Rethinking political communication in a time of disrupted public spheres. Journal of Communication, 68(2), 243-253. https://doi.org/10.1093/joc/jqx017
Ban Bí thư (2026). Chỉ thị số 12-CT/TW ngày 19/8/2026 về đổi mới, nâng cao chất lượng công tác xây dựng Đảng trong khu vực kinh tế tư nhân.
Báo Điện tử Chính phủ (26/8/2026). Bổ sung dự án Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở (sửa đổi) vào Chương trình lập pháp năm 2026. https://baochinhphu.vn/bo-sung-du-an-luat-thuc-hien-dan-chu-o-co-so-sua-doi-vao-chuong-trinh-lap-phap-nam-2026-102260826151534676.htm
Báo điện tử VietnamPlus (10/9/2026). Thủ tướng họp về các dự án Luật Đấu thầu, Luật Đầu tư, Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa. https://www.vietnamplus.vn/thu-tuong-hop-ve-cac-du-an-luat-dau-thau-luat-dau-tu-luat-phat-trien-doanh-nghiep-nho-va-vua-post1135267.vnp
Báo Người Hà Nội (18/9/2026). Động lực để doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân Hà Nội phát triển trong thời kỳ mới. https://nguoihanoi.vn/dong-luc-de-doanh-nghiep-khu-vuc-kinh-te-tu-nhan-ha-noi-phat-trien-trong-thoi-ky-moi-102522.html
Báo Nhân Dân (21/7/2026). Mở rộng ngôi nhà chung Công đoàn Thủ đô. https://nhandan.vn/mo-rong-ngoi-nha-chung-cong-doan-thu-do-post976971.html
Báo Nhân Dân (14/9/2026). Trình Quốc hội 3 dự án luật quan trọng về lao động, tiền lương và bảo hiểm xã hội vào tháng 10. https://nhandan.vn/trinh-quoc-hoi-3-du-an-luat-quan-trong-ve-lao-dong-tien-luong-va-bao-hiem-xa-hoi-vao-thang-10-post988503.html
Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân.
Chính phủ (2025a). Nghị quyết số 138/NQ-CP ngày 16/5/2025 ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân.
Chính phủ (2025b). Nghị quyết số 139/NQ-CP ngày 17/5/2025 ban hành Kế hoạch triển khai Nghị quyết số 198/2025/QH15 ngày 17/5/2025 của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân.
Cục Thống kê (30/6/2026). Kết quả sơ bộ Tổng điều tra kinh tế năm 2026. https://www.nso.gov.vn/bai-top/2026/06/ket-qua-so-bo-tong-dieu-tra-kinh-te-nam-2026/
Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội (2026). Nghị quyết số 48/2026/NQ-HĐND quy định về hỗ trợ doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân.
Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật thành phố Hà Nội (12/4/2025). Truyền thông pháp luật cho công nhân lao động Khu công nghiệp Nội Bài. https://pbgdpl.hanoi.gov.vn/pho-bien-giao-duc-phap-luat/-/asset_publisher/sxBNLsQSLyY8/content/truyen-thong-phap-luat-cho-cong-nhan-lao-ong-khu-cong-nghiep-noi-bai
Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật thành phố Hà Nội (17/6/2026). Công đoàn Hà Nội đẩy mạnh chăm lo người lao động, đưa Luật Thủ đô vào cuộc sống. https://pbgdpl.hanoi.gov.vn/chi-tiet-tim-kiem/ /asset_publisher/kyB8zPQFRdzV/content/cong-oan-ha-noi-ay-manh-cham-lo-nguoi-lao-ong-ua-luat-thu-o-vao-cuoc-song
International Labour Organization. (2024). Social dialogue report 2024: Peak-level social dialogue for economic development and social progress. International Labour Office. https://doi.org/10.54394/LIXW6848
International Labour Organization. (2026). Employment and social trends 2026. International Labour Office. https://doi.org/10.54394/AHRT2681
OECD. (2021). OECD report on public communication: The global context and the way forward. OECD Publishing. https://doi.org/10.1787/22f8031c-en
OECD. (2023). Good practice principles for public communication responses to mis- and disinformation (OECD Public Governance Policy Papers, No. 30). OECD Publishing. https://doi.org/10.1787/6d141b44-en
OECD. (2025a). OECD economic surveys: Viet Nam 2025. OECD Publishing. https://doi.org/10.1787/fb37254b-en
OECD. (2025b). Public communication scan of France: Evaluating public communication performance to strengthen public trust. OECD Publishing. https://doi.org/10.1787/7450361a-en
Quốc hội (2019). Bộ luật Lao động năm 2019.
Quốc hội (2022). Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở năm 2022.
Quốc hội (2024a). Luật Công đoàn năm 2024.
Quốc hội (2024b). Luật Dữ liệu năm 2024.
Quốc hội (2025a). Luật An ninh mạng năm 2025.
Quốc hội (2025b). Luật Báo chí năm 2025.
Quốc hội (2025c). Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025.
Quốc hội (2025d). Luật số 76/2025/QH15 ngày 17/6/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Doanh nghiệp năm 2025.
Quốc hội (2025e). Luật số 97/2025/QH15 ngày 27/6/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Luật Công đoàn, Luật Thanh niên và Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở năm 2025.
Quốc hội (2025f). Luật Việc làm năm 2025.
Quốc hội (2025g). Nghị quyết số 198/2025/QH15 ngày 17/5/2025 về một số cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân.
Quốc hội (2026a). Luật Thủ đô năm 2026.
Quốc hội (2026b). Luật Tiếp cận thông tin năm 2026.
Thời báo Tài chính Việt Nam (04/8/2026). Doanh nghiệp Hà Nội tăng sức bật, dẫn đầu quy mô vốn. https://thoibaotaichinhvietnam.vn/doanh-nghiep-ha-noi-tang-suc-bat-dan-dau-quy-mo-von-201738.html
Thủ tướng Chính phủ (2022). Quyết định số 407/QĐ-TTg ngày 30/3/2022 phê duyệt Đề án “Tổ chức truyền thông chính sách có tác động lớn đến xã hội trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật giai đoạn 2022-2027”.
Thủ tướng Chính phủ (2023). Chỉ thị số 07/CT-TTg ngày 21/3/2023 về việc tăng cường công tác truyền thông chính sách.
Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội (2025). Kế hoạch số 263/KH-UBND ngày 26/9/2025 tuyên truyền thực hiện Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị, Chương trình hành động của Chính phủ, Kế hoạch hành động của Thành ủy thực hiện Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân.
Văn phòng Quốc hội (2025a). Văn bản hợp nhất số 67/VBHN-VPQH ngày 15/8/2025 hợp nhất Luật Doanh nghiệp.
Văn phòng Quốc hội (2025b). Văn bản hợp nhất số 90/VBHN-VPQH ngày 22/8/2025 hợp nhất Luật Công đoàn.
Văn phòng Quốc hội (2026). Văn bản hợp nhất số 18/VBHN-VPQH ngày 12/02/2026 hợp nhất Bộ luật Lao động.
Weinberg, J. (2024). Building trust in political office: Testing the efficacy of political contact and authentic communication. Political Studies, 72(4), 1438-1457. https://doi.org/10.1177/00323217231185706