Promoting community agency in implementing policies for developing grassroots cultural life in Vietnam today
TS. Lê Thị Thu Phượng
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Email: Phuonghcma73@gmail.com
(Quanlynhanuoc.vn) – Đời sống văn hóa cơ sở được tạo lập trong cộng đồng dân cư, vì vậy, hiệu quả chính sách phụ thuộc vào mức độ người dân có thể tham gia xác định nhu cầu, tổ chức hoạt động và giám sát kết quả. Từ phân tích văn bản chính sách và một số nguồn thực tiễn giai đoạn 2020 – 2026, bài viết đánh giá sự tham gia của cộng đồng theo phạm vi, mức độ và chất lượng. Kết quả cho thấy, cơ hội tham gia đã mở rộng nhưng chủ yếu vẫn ở khâu thực hiện; khả năng tác động đến kế hoạch, phân bổ nguồn lực và đánh giá còn hạn chế. Bài viết đề xuất củng cố tham vấn từ địa bàn dân cư, đổi mới vận hành thiết chế, tăng trách nhiệm giải trình và nâng năng lực cấp xã.
Từ khóa: Đời sống văn hóa cơ sở; cộng đồng; thực thi chính sách; chính quyền địa phương hai cấp; thiết chế văn hóa.
Abstract: Grassroots cultural life is created within local communities; therefore, policy effectiveness depends on residents’ ability to participate in identifying needs, organizing activities, and monitoring outcomes. Drawing on policy documents and selected practical sources from 2020–2026, the article assesses community participation by its scope, degree, and quality. The findings indicate that opportunities for participation have expanded, but participation remains concentrated in the implementation stage, while community influence remains limited in planning, resource allocation, and evaluation. The article recommends strengthening consultation at the residential level, improving the operation of cultural institutions, reinforcing accountability, and building commune-level capacity.
Keywords: Grassroots cultural life; community; policy implementation; two-tier local government; cultural institutions.
1. Đặt vấn đề
Xây dựng đời sống văn hóa cơ sở là quá trình chuyển các giá trị, chuẩn mực và định hướng chính sách thành thực hành hằng ngày trong gia đình, thôn, tổ dân phố và các không gian sinh hoạt chung. Kết quả của quá trình này không chỉ được quyết định bởi nguồn lực đầu tư hay số hoạt động đã tổ chức mà còn bởi khả năng người dân tham gia lựa chọn nội dung, tổ chức thực hiện và giám sát. Vì vậy, cộng đồng cần được nhìn nhận như một chủ thể tham gia kiến tạo môi trường văn hóa, thay vì chỉ là đối tượng thụ hưởng hoặc lực lượng hưởng ứng phong trào.
Yêu cầu đó được đặt ra rõ hơn khi chính sách văn hóa chuyển sang cách tiếp cận lấy con người làm trung tâm. Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam và Nghị quyết số 28/2026/QH16 ngày 24/4/2026 của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam nhấn mạnh việc phát huy nguồn lực xã hội, mở rộng khả năng hưởng thụ và sáng tạo văn hóa của người dân (Bộ Chính trị, 2026). Các quy định về phong trào, hương ước, quy ước và danh hiệu văn hóa cũng tiếp tục được hoàn thiện qua Quyết định số 2214/QĐ-TTg ngày 28/12/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình thực hiện Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” giai đoạn 2021 – 2026, Nghị định số 61/2023/NĐ-CP ngày 16/8/2023 của Chính phủ về xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước của cộng đồng dân cư và Nghị định số 86/2023/NĐ-CP ngày 07/12/2023 quy định khung tiêu chuẩn và trình tự, thủ tục, hồ sơ xét tặng các danh hiệu văn hóa (Thủ tướng Chính phủ, 2021; Chính phủ, 2023a; Chính phủ, 2023b). Tuy nhiên, khuôn khổ pháp lý chỉ phát huy ý nghĩa khi tiếng nói của cộng đồng có khả năng tác động đến quyết định thực thi.
Việc vận hành chính quyền địa phương hai cấp đặt sự tham gia của cộng đồng trong một bối cảnh mới. Nhiều nhiệm vụ về văn hóa, gia đình, thư viện và thông tin được phân định trực tiếp cho cấp xã. Thay đổi này vừa mở ra khả năng xử lý nhu cầu sát địa bàn, vừa đặt ra yêu cầu duy trì tiếng nói của từng thôn, tổ dân phố khi quy mô đơn vị hành chính tăng. Bài viết tập trung đánh giá mức độ tham gia của cộng đồng và những điều kiện cần thiết để bảo đảm vai trò chủ thể trong bối cảnh đó.
2. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
Vai trò chủ thể của cộng đồng được xem xét theo ba phương diện: phạm vi tham gia, tức cộng đồng có mặt ở những khâu nào; mức độ tham gia, từ được thông tin, được hỏi ý kiến đến cùng quyết định và chất lượng tham gia, thể hiện qua tính đại diện, khả năng phản hồi và tác động thực tế của ý kiến cộng đồng. Bài viết sử dụng phương pháp phân tích chính sách và phân tích tài liệu, dựa trên văn bản của Đảng, Nhà nước cùng một số thông tin thực tiễn tại thành phố Quảng Ninh, tỉnh Lâm Đồng và tỉnh Tây Ninh. Các trường hợp địa phương được dùng để nhận diện xu hướng không đại diện cho toàn quốc. Do mô hình chính quyền địa phương hai cấp mới vận hành, phần phân tích chủ yếu làm rõ những thay đổi về cơ chế tham gia, cơ hội và rủi ro bước đầu.
3. Thực trạng phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng trong thực thi chính sách xây dựng đời sống văn hóa cơ sở
3.1. Cộng đồng tham gia nhiều hơn nhưng ít tác động đến quyết định
Các quy định hiện hành đã mở rộng cơ sở để người dân tham gia xây dựng hương ước, quy ước, duy trì câu lạc bộ, tổ chức hoạt động văn hóa và thực hiện nếp sống văn minh. Chương trình “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” cũng đề cao tinh thần tự quản và trách nhiệm của cộng đồng. Nhờ đó, sự tham gia của người dân đã vượt ra ngoài phạm vi thụ hưởng, gắn nhiều hơn với việc tổ chức hoạt động và duy trì các giá trị chung.
Mặc dù vậy, cộng đồng thường được mời tham gia khi nội dung cơ bản đã được xác định. Việc khảo sát nhu cầu riêng của thanh niên, người cao tuổi, lao động nhập cư, đồng bào dân tộc thiểu số hoặc nhóm yếu thế chưa trở thành hoạt động thường xuyên. Ở nhiều nơi, người dân cũng chưa biết ý kiến nào được tiếp thu, nội dung nào chưa thể thực hiện và vì sao. Vì vậy, điểm nghẽn không nằm ở số người tham dự mà ở khả năng ý kiến cộng đồng làm thay đổi ưu tiên, nội dung và cách sử dụng nguồn lực.
3.2. Thiết chế văn hóa chưa vận hành theo nhu cầu cộng đồng
Nhà văn hóa, thư viện và trung tâm văn hóa – thể thao là nơi chính sách được chuyển thành hoạt động cụ thể. Tuy nhiên, thực tiễn tại tỉnh Tây Ninh cho thấy, hiệu quả vận hành giữa các địa bàn còn chênh lệch, nhất là trong bối cảnh sắp xếp đơn vị hành chính và thay đổi nhu cầu cư dân (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, 01/6/2026a). Hạn chế không chỉ nằm ở cơ sở vật chất mà còn ở thời gian mở cửa, nội dung ít đổi mới, nhân lực kiêm nhiệm và việc chưa nhận diện đầy đủ các nhóm sử dụng.
Khi thiết chế chủ yếu hoạt động theo lịch hành chính hoặc các đợt cao điểm, người dân dễ trở thành người tham dự thụ động. Nếu câu lạc bộ, nghệ nhân, giáo viên, người trẻ và các nhóm tự nguyện được tham gia lựa chọn nội dung, thiết chế có thể trở thành nơi học tập, sáng tạo và kết nối thường xuyên. Do đó, hiệu quả cần được đo thêm bằng tần suất sử dụng, mức độ đa dạng của người tham gia, tỷ lệ hoạt động do cộng đồng đề xuất và sự hài lòng của cư dân, thay vì chỉ dựa vào số công trình hoặc số buổi sinh hoạt.
3.3. Chuyển đổi số mở rộng kênh tham gia nhưng chưa bảo đảm phản hồi
Việc hiện đại hóa thông tin cơ sở giúp người dân tiếp cận nhanh hơn với chủ trương, lịch hoạt động và các vấn đề của địa bàn. Tại tỉnh Lâm Đồng, ứng dụng công nghệ thông tin đã mở rộng kênh cung cấp thông tin và tiếp nhận phản ánh (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, 01/6/2026b). Tuy nhiên, chênh lệch về thiết bị, kỹ năng và hạ tầng số vẫn hạn chế khả năng tham gia của người cao tuổi, người dân vùng xa và nhóm có điều kiện khó khăn. Nhiều kênh còn thiên về đăng tải thông tin, trong khi đầu mối, thời hạn và kết quả xử lý kiến nghị chưa được công khai rõ.
Vì vậy, kênh số cần được kết hợp với hội nghị cộng đồng, sinh hoạt thôn, tổ dân phố và khảo sát trực tiếp. Công nghệ phù hợp với việc cung cấp thông tin nhanh và theo dõi kiến nghị; đối thoại trực tiếp lại cần thiết để tiếp cận những người ít sử dụng công nghệ và làm rõ các nhu cầu phức tạp. Chất lượng tham gia phụ thuộc vào khả năng phản hồi và giải trình, không phải vào số lượng kênh được thiết lập.
3.4. Đánh giá còn nặng về chỉ tiêu, chưa phản ánh tác động xã hội
Việc chuẩn hóa tiêu chuẩn danh hiệu và tổ chức tổng kết phong trào giúp tăng tính thống nhất trong quản lý. Kế hoạch tổng kết tại Quảng Ninh cho thấy, hương ước, quy ước, danh hiệu văn hóa và chương trình phong trào đã được đặt trong cùng một hệ thống đánh giá (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, 03/6/2026). Tuy nhiên, số danh hiệu, số hoạt động hoặc tỷ lệ hoàn thành chỉ tiêu chưa phản ánh đầy đủ chất lượng đời sống văn hóa: một thiết chế được đầu tư chưa chắc được sử dụng thường xuyên, và nhiều hoạt động chưa chắc đáp ứng đúng nhu cầu.
Giám sát chỉ có ý nghĩa khi người dân được theo dõi việc sử dụng nguồn lực, phản ánh chất lượng hoạt động, kiến nghị điều chỉnh và nhận được trả lời. Vì vậy, hệ thống đánh giá vì thế cần bổ sung khả năng tiếp cận, tần suất sử dụng thiết chế, mức độ hài lòng, tính đại diện, tỷ lệ kiến nghị được xử lý và những thay đổi có thể nhận biết trong đời sống cộng đồng. Các chỉ số này giúp giám sát xã hội bổ sung cho kiểm tra hành chính từ trên xuống.
3.5. Mô hình chính quyền địa phương hai cấp và yêu cầu duy trì tiếng nói từ cơ sở
Mô hình chính quyền địa phương hai cấp làm thay đổi trực tiếp không gian thực thi chính sách văn hóa. Khi cấp huyện kết thúc hoạt động và nhiều nhiệm vụ được chuyển cho cấp xã, chính quyền xã, phường, đặc khu có thể xử lý trực tiếp hơn các vấn đề phát sinh, giảm một tầng trung gian và gắn kế hoạch văn hóa với các nhiệm vụ dân sinh khác. Nghị định số 137/2025/NĐ-CP ngày 12/6/2025 của Chính phủ quy định về phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương hai cấp trong lĩnh vực văn hóa, thể thao và du lịch, (Chính phủ, 2025). Thông tư số 10/2025/TT-BVHTTDL ngày 19/6/2025 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan chuyên môn cấp tỉnh và Phòng Văn hóa – Xã hội cấp xã (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, 2025b). Đây là điều kiện thuận lợi để phản hồi của người dân được xử lý nhanh hơn và nguồn lực được bố trí sát địa bàn.
Tuy nhiên, thẩm quyền gần cấp xã hơn chưa đồng nghĩa với mọi cộng đồng đều được tiếp cận thuận lợi hơn. Sau sắp xếp, nhiều xã, phường có diện tích và dân số lớn; trụ sở, thiết chế trung tâm và đội ngũ chuyên môn có thể cách xa một số thôn, tổ dân phố. Phòng Văn hóa – Xã hội lại đảm nhiệm nhiều lĩnh vực trong khi nhân lực văn hóa cơ sở vốn mỏng. Nếu quy trình tham vấn và phân bổ nguồn lực tập trung quanh trung tâm hành chính mới, nhu cầu của các địa bàn hợp thành, nhóm ít sử dụng công nghệ hoặc cộng đồng có bản sắc riêng dễ bị mờ nhạt. Vì vậy, tác động của mô hình chính quyền địa phương hai cấp phụ thuộc vào khả năng cấp xã duy trì các điểm nối với thôn, tổ dân phố và mạng lưới tự quản, chứ không chỉ vào việc chuyển giao thẩm quyền.
4. Hạn chế và nguyên nhân
Những kết quả trên cho thấy, ba hạn chế có tính xuyên suốt. (1) Sự tham gia chưa cân đối giữa các khâu: cộng đồng hiện diện rõ trong hưởng ứng và tổ chức hoạt động, nhưng còn ít khả năng tác động đến ưu tiên, phân bổ nguồn lực và tiêu chí đánh giá. (2) Tính đại diện chưa đồng đều; nhóm thường xuyên dự họp có lợi thế hơn thanh niên, lao động nhập cư, nhóm yếu thế và cư dân ở xa trung tâm hành chính. (3) Cơ chế phản hồi còn thiếu tính ràng buộc, nên ý kiến của người dân chưa chắc được tiếp thu, giải trình hoặc chuyển thành điều chỉnh cụ thể. Trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp, các hạn chế này có thể rõ hơn nếu quy mô địa bàn tăng nhưng kênh tham gia ở thôn, tổ dân phố không được duy trì.
Các hạn chế bắt nguồn trước hết từ tư duy thực thi còn coi cộng đồng chủ yếu là lực lượng huy động để hoàn thành chỉ tiêu, chưa coi sự tham gia là một điều kiện của chất lượng quyết định. Quy trình khảo sát, tham vấn, phản hồi và giải trình chưa được thiết kế thành chuỗi công việc thống nhất; trách nhiệm giữa chính quyền, Mặt trận, đoàn thể, ban quản lý thiết chế và nhóm tự quản còn phân tán. Bên cạnh đó, đội ngũ văn hóa cơ sở mỏng, ít được bồi dưỡng về điều phối cộng đồng, truyền thông số và sử dụng dữ liệu. Việc chuyển sang mô hình chính quyền địa phương hai cấp làm khối lượng nhiệm vụ và phạm vi quản lý tăng nhanh, trong khi dữ liệu, thiết chế và mạng lưới cộng tác viên của các đơn vị cũ chưa kịp liên thông. Do đó, phân cấp về thẩm quyền chưa tự động tạo ra sự tham gia sâu hơn của người dân.
5. Giải pháp phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng
Một là, bảo đảm tham vấn từ thôn, tổ dân phố. Kế hoạch văn hóa hằng năm cần bắt đầu từ việc nhận diện nhu cầu ở từng khu vực dân cư. Cấp xã nên kết hợp thảo luận tại thôn, tổ dân phố, khảo sát ngắn và tham vấn trực tiếp những nhóm ít tham gia hội họp; dự thảo kế hoạch và dự kiến phân bổ nguồn lực cần được công khai bằng ngôn ngữ dễ hiểu. Sau tham vấn, cơ quan xây dựng kế hoạch phải thông báo nội dung được tiếp thu, nội dung chưa thể thực hiện và lý do. Với xã, phường mới có địa bàn rộng, mỗi khu vực hợp thành cần có đầu mối liên hệ và kênh phản ánh riêng, tránh để việc lấy ý kiến chỉ tập trung quanh trụ sở chính quyền.
Hai là, duy trì thiết chế gần dân, vận hành theo nhu cầu. Sắp xếp đơn vị hành chính cần đi cùng việc rà soát nhà văn hóa, thư viện, điểm sinh hoạt và câu lạc bộ của các đơn vị cũ. Tinh gọn đầu mối quản lý không nên dẫn đến thu hẹp không gian sinh hoạt của cư dân, nhất là ở khu vực xa trung tâm. Cấp xã cần xác định chức năng của từng điểm thiết chế, duy trì lịch hoạt động phù hợp và tạo điều kiện để nghệ nhân, giáo viên, người trẻ, người cao tuổi cùng đề xuất chương trình. Việc đánh giá nên dựa vào mức độ sử dụng, khả năng tiếp cận của từng khu vực và tỷ lệ hoạt động do cộng đồng cùng tổ chức; những điểm hoạt động kém cần được điều chỉnh nội dung hoặc phương thức quản lý thay vì chỉ duy trì hình thức.
Ba là, công khai nguồn lực và xử lý phản hồi đúng hạn. Kinh phí ngân sách và các khoản xã hội hóa cho hoạt động văn hóa cần được công khai về nguồn, mục đích, nội dung chi và kết quả. Ban công tác Mặt trận, đại diện thôn, tổ dân phố hoặc nhóm sử dụng thiết chế có thể tham gia theo dõi và kiến nghị điều chỉnh. Cấp xã cũng cần công bố đầu mối tiếp nhận phản ánh, thời hạn trả lời và kết quả xử lý trên cả kênh trực tiếp và nền tảng số phù hợp. Cơ chế phản hồi có thời hạn giúp phân biệt tham vấn thực chất với việc lấy ý kiến mang tính thủ tục; đồng thời, tạo niềm tin để người dân tiếp tục tham gia và đóng góp tự nguyện.
Bốn là, nâng cao năng lực cấp xã, sử dụng dữ liệu phục vụ điều chỉnh. Đội ngũ Phòng Văn hóa – Xã hội cần được bồi dưỡng về khảo sát nhu cầu, tổ chức đối thoại, điều phối mạng lưới thiết chế, truyền thông số và xử lý phản hồi. Cùng với cán bộ chuyên môn, địa phương cần phát huy nghệ nhân, trưởng nhóm, người điều hành câu lạc bộ và cá nhân có uy tín như những hạt nhân kết nối với từng cộng đồng. Dữ liệu của các đơn vị cũ cần được chuẩn hóa và sử dụng để theo dõi tần suất hoạt động, mức độ tham gia của từng khu vực, nhóm chưa được tiếp cận, mức độ hài lòng và tỷ lệ kiến nghị được xử lý. Mục tiêu của dữ liệu là hỗ trợ điều chỉnh chính sách, không phải tăng thêm biểu mẫu báo cáo.
6. Kết luận
Điểm cốt lõi rút ra từ bài viết là cộng đồng chỉ thực sự giữ vai trò chủ thể khi sự tham gia tạo ra hệ quả trong thực thi chính sách: nhu cầu được phản ánh vào kế hoạch, ý kiến được tiếp thu hoặc giải trình, nguồn lực được giám sát và kết quả được dùng để điều chỉnh hoạt động. Tiêu chuẩn này càng quan trọng trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp, khi cấp xã vừa có thêm thẩm quyền vừa quản lý địa bàn rộng hơn. Vì vậy, hiệu quả không nên chỉ đo bằng số hoạt động hoặc mức độ hưởng ứng mà bằng khả năng duy trì mối liên hệ thường xuyên giữa chính quyền cấp xã với từng cộng đồng dân cư. Cách tiếp cận đó giúp phân cấp gắn với dân chủ ở cơ sở và tạo nền tảng để đời sống văn hóa phát triển từ nhu cầu, sáng kiến và năng lực tự tổ chức của người dân.
Tài liệu tham khảo:
Bộ Chính trị (2026). Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 về phát triển văn hóa Việt Nam.
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (03/6/2025). Quảng Ninh: Tổ chức đánh giá 25 năm thực hiện phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”. https://bvhttdl.gov.vn/quang-ninh-to-chuc-danh-gia-25-nam-thuc-hien-phong-trao-toan-dan-doan-ket-xay-dung-doi-song-van-hoa-20250603090300167.htm
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2025a). Thông tư số 09/2025/TT-BVHTTDL ngày 12/6/2025 quy định về phân cấp, phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương hai cấp trong lĩnh vực văn hóa, thể thao và du lịch.
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2025b). Thông tư số 10/2025/TT-BVHTTDL ngày 19/6/2025 hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan chuyên môn cấp tỉnh và Phòng Văn hóa – Xã hội cấp xã.
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (01/6/2026a). Tây Ninh: Thiết chế văn hóa cơ sở trước yêu cầu đổi mới phương thức vận hành. https://bvhttdl.gov.vn/tay-ninh-thiet-che-van-hoa-co-so-truoc-yeu-cau-doi-moi-phuong-thuc-van-hanh.htm
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (01/6/2026b). Lâm Đồng: Đẩy mạnh chuyển đổi số, nâng cao hiệu quả hoạt động thông tin cơ sở. https://bvhttdl.gov.vn/lam-dong-day-manh-chuyen-doi-so-nang-cao-hieu-qua-hoat-dong-thong-tin-co-so.htm
Chính phủ (2023a). Nghị định số 61/2023/NĐ-CP ngày 16/8/2023 về xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước của cộng đồng dân cư.
Chính phủ (2023b). Nghị định số 86/2023/NĐ-CP ngày 07/12/2023 quy định khung tiêu chuẩn và trình tự, thủ tục, hồ sơ xét tặng các danh hiệu văn hóa.
Chính phủ (2025a). Nghị định số 137/2025/NĐ-CP ngày 12/6/2025 quy định về phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương hai cấp trong lĩnh vực văn hóa, thể thao và du lịch.
Chính phủ (2025b). Nghị định số 150/2025/NĐ-CP ngày 12/6/2025 quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và cấp xã; được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 370/2025/NĐ-CP ngày 31/12/2025.
Quốc hội (2025). Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025.
Quốc hội (2026). Nghị quyết số 28/2026/QH16 ngày 24/4/2026 về phát triển văn hóa Việt Nam.
Thủ tướng Chính phủ (2021). Quyết định số 2214/QĐ-TTg ngày 28/12/2021 phê duyệt Chương trình thực hiện Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” giai đoạn 2021 – 2026.



