Transforming cultural heritage values into resources for the development of cultural industries in Ninh Binh Province
ThS. Đinh Thị Hoa
Trường Chính trị Trường Chinh tỉnh Ninh Bình
Email: dinhhoannpl@gmail.com
TS. Nguyễn Tử Hoài Sơn
Trường Chính trị Trường Chinh tỉnh Ninh Bình
Email: nguyentuhoaison@gmail.com
(Quanlynhannuoc.vn) – Với tiềm năng từ hệ thống di sản văn hóa vật thể, phi vật thể, các giá trị lịch sử – văn hóa gắn với Cố đô Hoa Lư, Quần thể danh thắng Tràng An, lễ hội truyền thống, nghệ thuật dân gian, làng nghề, ẩm thực và tri thức văn hóa cộng đồng. Vấn đề đặt ra là cần chuyển hóa giá trị di sản văn hóa thành nguồn lực phát triển công nghiệp văn hóa ở tỉnh Ninh Bình trong bối cảnh phát huy giá trị di sản gắn với phát triển kinh tế – xã hội. Trên cơ sở làm rõ mối quan hệ giữa bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa và phát triển công nghiệp văn hóa, bài viết chỉ ra những hạn chế trong quá trình khai thác và chuyển hóa các giá trị này và đề xuất một số giải pháp góp phần chuyển hóa giá trị di sản văn hóa thành nguyồn lực phát triển công nghiệp văn hóa ở Ninh Bình.
Từ khóa: Công nghiệp văn hóa; giá trị di sản văn hóa; nguồn lực phát triển; Ninh Bình.
Abstract: With its potential stemming from tangible and intangible cultural heritage, historical and cultural values associated with the ancient capital of Hoa Lu, the Trang An scenic complex, traditional festivals, folk art, craft villages, cuisine, and community cultural knowledge, Ninh Binh province faces the challenge of transforming cultural heritage values into resources for developing the cultural industry. This is done in the context of leveraging heritage values in conjunction with socio-economic development. Based on clarifying the relationship between preserving and promoting cultural heritage values and developing the cultural industry, this article points out the limitations in the process of exploiting and transforming these values and proposes several solutions to contribute to the transformation of cultural heritage values into resources for developing the cultural industry in Ninh Binh.
Keywords: Cultural industries, cultural heritage value, development resources, Ninh Binh.
1. Đặt vấn đề
Trong tiến trình phát triển đất nước, văn hóa ngày càng được xác định không chỉ là nền tảng tinh thần của xã hội mà còn là nguồn lực nội sinh quan trọng cho phát triển kinh tế – xã hội. Đặc biệt, sự phát triển của công nghiệp văn hóa đang mở ra hướng đi mới trong khai thác các giá trị văn hóa, biến những giá trị vốn có của cộng đồng thành sản phẩm, dịch vụ có giá trị gia tăng cao, đồng thời góp phần bảo tồn và lan tỏa bản sắc văn hóa, Ninh Bình cần xác định rõ tầm nhìn, định vị thương hiệu và chiến lược phát triển dài hạn để hiện thực hóa các chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước và định hướng phát triển của tỉnh Ninh Bình trở thành trung tâm du lịch – công nghiệp văn hoá quốc gia và quốc tế. Sau sáp nhập, Ninh Bình không chỉ mở rộng về địa lý, mà còn là sự kết hợp của nguồn lực, văn hóa và kinh tế, tạo hiệu ứng cộng hưởng mạnh mẽ, không ngẫu nhiên mà nhiều năm liền Ninh Bình được vinh danh trên các bảng xếp hạng quốc tế: Top 14 điểm đến hấp dẫn nhất châu Á (2020), Top 23 điểm đến đáng trải nghiệm nhất thế giới (2023) (Anh Thư, 05/7/2024). Đây chính là nền tảng để công nghiệp văn hóa của Ninh Bình vươn ra toàn cầu. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra hiện nay không chỉ là bảo tồn di sản, mà quan trọng hơn là làm thế nào để chuyển hóa các giá trị di sản thành nguồnlực phát triển, hình thành các sản phẩm và ngành công nghiệp văn hóa có sức cạnh tranh, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người dân và đóng góp vào tăng trưởng kinh tế của tỉnh. Từ yêu cầu đó, bài viết tập trung làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn và đề xuất một số giải pháp nhằm chuyển hóa giá trị di sản văn hóa thành nguồn lực phát triển công nghiệp văn hóa ở Ninh Bình trong giai đoạn mới.
2. Nhận thức và tiềm năng chuyển hóa giá trị di sản văn hóa thành nguồn lực phát triển công nghiệp văn hóa
2.1. Di sản văn hóa là nguồn lực đặc biệt của phát triển công nghiệp văn hóa
Giá trị di sản văn hóa là những ý nghĩa, lợi ích và tầm quan trọng về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, kinh tế và xã hội mà các sản phẩm vật chất hoặc tinh thần do cha ông để lại mang đến cho cộng đồng. Các giá trị cốt lõi của di sản văn hóa bao gồm: giá trị lịch sử lưu giữ các dấu ấn, sự kiện và tiến trình phát triển của quá khứ, giúp thế hệ sau hiểu rõ về cội nguồn và quá trình dựng nước, giữ nước; giá trị văn hóa – xã hội là biểu tượng sống động của bản sắc dân tộc, giúp gắn kết cộng đồng và bồi đắp lòng tự hào, tinh thần đoàn kết; giá trị khoa học – cung cấp những tư liệu quý giá để nghiên cứu về lịch sử, khảo cổ, kiến trúc, nhân học và sự tiến hóa của xã hội loài người; giá trị kinh tế trở thành nguồn tài nguyên quan trọng để phát triển du lịch, tạo việc làm, tăng thu nhập cho địa phương và thúc đẩy các ngành công nghiệp sáng tạo phát triển.
Nguồn lực phát triển công nghiệp văn hóa là tổng thể các yếu tố về tài nguyên văn hóa, con người, tài chính, công nghệ và thể chế chính sách được huy động, khai thác nhằm sáng tạo, sản xuất, cung ứng các sản phẩm và dịch vụ văn hóa mang lại giá trị kinh tế – xã hội cao. Đặc biệt là nguồn lực Di sản văn hóa (tài nguyên văn hóa) bao gồm: hệ thống di tích lịch sử, di sản văn hóa vật thể và phi vật thể, lễ hội truyền thống; bản sắc dân tộc (Các giá trị cốt lõi, tri thức dân gian, nghệ thuật truyền thống và sự đa dạng văn hóa của các vùng miền). Đây là chất liệu đầu vào quan trọng để chuyển hóa thành các sản phẩm công nghiệp văn hóa như du lịch văn hóa, điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn và thủ công mỹ nghệ.
Di sản văn hóa không chỉ là những giá trị cần được lưu giữ cho các thế hệ tương lai mà còn chứa đựng tiềm năng kinh tế, xã hội và sáng tạo rất lớn. Giá trị của di sản có thể được nhìn nhận trên nhiều phương diện: giá trị lịch sử, giá trị thẩm mỹ, giá trị giáo dục, giá trị khoa học, giá trị cộng đồng và giá trị kinh tế. Khi được khai thác hợp lý, các giá trị đó có thể trở thành nguyên liệu đầu vào cho nhiều lĩnh vực của công nghiệp văn hóa như du lịch văn hóa, điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, thiết kế, thủ công mỹ nghệ, quảng cáo, truyền thông, xuất bản, thời trang, ẩm thực và nội dung số. Do đó, chuyển hóa giá trị di sản thành nguồn lực phát triển không đồng nghĩa với thương mại hóa di sản một cách đơn thuần. Bản chất của quá trình này là phát hiện, sáng tạo, tổ chức và gia tăng giá trị của di sản trên cơ sở bảo đảm tính chân thực, tính bền vững và lợi ích của cộng đồng.
2.2. Mối quan hệ và vai trò của giá trị di sản với phát triển công nghiệp văn hóa ở tỉnh Ninh Bình
Nếu bảo tồn là quá trình gìn giữ và trao truyền giá trị thì phát triển công nghiệp văn hóa tạo ra cơ chế để các giá trị đó được sáng tạo lại, sản xuất, quảng bá, phân phối và tiêu dùng trong đời sống đương đại. Có thể hình dung quá trình chuyển hóa theo chuỗi: Di sản → nhận diện giá trị → sáng tạo → sản phẩm văn hóa → thương hiệu → thị trường → giá trị kinh tế → tái đầu tư cho bảo tồn và phát triển.Đây là chuỗi giá trị mà Ninh Bình cần từng bước xây dựng, qua đó chuyển từ tư duy “khai thác tài nguyên văn hóa” sang tư duy “kiến tạo hệ sinh thái công nghiệp văn hóa”.
Mối quan hệ giữa giá trị di sản và công nghiệp văn hóa thể hiện: Quan hệ nguồn lực và sự chuyển hóa như Di sản (quần thể Tràng An, Cố đô Hoa Lư, hàng nghìn di tích, làng nghề thủ công) cung cấp chất liệu văn hóa gốc. Công nghiệp văn hóa dùng sự đổi mới sáng tạo, công nghệ và phương thức sản xuất hiện đại để thương mại hóa, biến di sản thành sản phẩm và dịch vụ có giá trị kinh tế. Quan hệ tương hỗ, bền vững như việc khai thác di sản thông qua công nghiệp văn hóa tạo ra nguồn thu tài chính trực tiếp, ngược lại nguồn lực đó được đầu tư trở lại cho công tác bảo tồn, tu bổ và phục dựng di sản.
Vai trò của giá trị di sản trong phát triển công nghiệp văn hóa ở Ninh Bình.
Di sản văn hóa đóng vai trò là nguồn tài nguyên nền tảng, nguyên liệu sáng tạo không thể thay thế và là động lực cốt lõi để phát triển các ngành công nghiệp văn hóa. Thể hiện là: nguồn lực và nguyên liệu sáng tạo, nó cung cấp chất liệu lịch sử, tri thức dân gian, hình ảnh và bản sắc để chuyển hóa thành các sản phẩm, dịch vụ có giá trị kinh tế cao trong các ngành như du lịch văn hóa, điện ảnh, thời trang, thiết kế và nghệ thuật; định vị thương hiệu địa phương: các danh hiệu UNESCO giúp Ninh Bình nổi bật trên bản đồ du lịch toàn cầu, tạo sức mạnh mềm và lợi thế cạnh tranh vượt trội so với các địa phương khác, tạo ra sự khác biệt, giúp các địa phương và quốc gia xây dựng thương hiệu độc đáo, nâng cao sức hút trong việc thu hút du khách, đầu tư và hội nhập quốc tế; thúc đẩy chuyển dịch mô hình bảo tồn góp phần chuyển đổi từ cách bảo tồn tĩnh (“đóng băng” trong bảo tàng) sang mô hình “di sản sống” – nơi di sản tham gia trực tiếp vào chuỗi giá trị kinh tế, tạo sinh kế bền vững cho cộng đồng; đa dạng hóa sản phẩm văn hóa du lịch với các giá trị di sản kết hợp với lễ hội truyền thống (như Lễ hội Hoa Lư), nghệ thuật (hát Xẩm) và các làng nghề (thêu ren Ninh Hải, gốm, cói Kim Sơn) hình thành hệ sinh thái kinh tế trải nghiệm phong phú. Nâng cao vai trò chủ thể của cộng đồng, đặt người dân và nghệ nhân vào trung tâm của quá trình sáng tạo, trao truyền và thụ hưởng lợi ích kinh tế từ chính di sản mà họ nắm giữ. Giá trị di sản văn hóa và thiên nhiên tại Ninh Bình đóng vai trò là “nguyên liệu đầu vào” cốt lõi và là động lực nội sinh quan trọng để phát triển các ngành công nghiệp văn hóa, đặc biệt là du lịch di sản và kinh tế sáng tạo.Thúc đẩy chuyển đổi kinh tế xanh: di sản thiên nhiên và văn hóa giúp Ninh Bình chuyển dịch thành công mô hình tăng trưởng kinh tế từ “nâu” sang “xanh”, gắn phát triển công nghiệp văn hóa với bảo vệ môi trường
Mặt khác, phát triển công nghiệp văn hóa là phương thức quan trọng để chuyển hóa các tài nguyên di sản tĩnh thành nguồn lực kinh tế động, gia tăng giá trị và sức cạnh tranh cho văn hóa. Vai trò của công nghiệp văn hóa đối với di sản thể hiện: Biến di sản thành tài sản thông qua việc sử dụng năng lực sáng tạo và công nghệ để đưa các giá trị truyền thống vào chuỗi sản xuất kinh tế, tạo ra sản phẩm và dịch vụ có giá trị cao; gia tăng hàm lượng văn hóa: thay vì khai thác ồ ạt, công nghiệp văn hóa chú trọng làm sâu sắc thêm ý nghĩa, câu chuyện và hồn cốt văn hóa trong từng sản phẩm; lan tỏa sức mạnh mềm: định hình thương hiệu quốc gia và nâng cao vị thế thông qua các sản phẩm sáng tạo mang đậm bản sắc riêng; thúc đẩy bảo tồn bền vững: nguồn thu từ công nghiệp văn hóa tạo ra nguồn lực tài chính quay trở lại hỗ trợ công tác trùng tu, bảo vệ và trao truyền di sản cho thế hệ sau.
2.3. Tiềm năng chuyển hóa giá trị di sản thành nguồn lực phát triển công nghiệp văn hóa ở tỉnh Ninh Bình
Thứ nhất, vùng đất Cố đô nghìn năm giờ đây được tiếp thêm sức sống từ sự kết tinh của ba vùng đất địa linh nhân kiệt, giàu truyền thống. Sau khi mở rộng địa giới hành chính, tỉnh Ninh Bình mới sở hữu khối tài sản văn hóa vô cùng phong phú: với hơn 5.000 di tích lịch sử, văn hóa, trong đó có 1.106 di tích đã được xếp hạng, gồm 01 di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới, 10 di tích quốc gia đặc biệt, 264 di tích quốc gia và 834 di tích cấp tỉnh; cùng với 33 di sản văn hóa phi vật thể quốc gia nhiều di tích gắn liền với các triều đại Đinh – Tiền Lê – Lý – Trần như Cố đô Hoa Lư – kinh đô của Nhà nước phong kiến trung ương tập quyền đầu tiên của Việt Nam; đền Trần – chùa Phổ Minh gắn với triều Trần; Phủ Dầy – trung tâm thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu; Tam Chúc, Bái Đính, Đọi Sơn, chùa Cổ Lễ, chùa Keo Hành Thiện; hệ thống các công trình kiến trúc Công giáo, tiêu biểu là Nhà thờ đá Phát Diệm; cùng nhiều di sản khảo cổ, lịch sử, kiến trúc nghệ thuật, lễ hội và nghệ thuật trình diễn dân gian đặc sắc (Bùi Văn Mạnh, 19/10/2026). Không chỉ có giá trị vật thể, Ninh Bình cũng là địa phương có hệ thống di sản văn hóa phi vật thể đặc sắc với 40 di sản đã được công nhận, trong đó có Di sản “Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt” được UNESCO ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại (Uỷ ban nhân dân tỉnh Ninh Bình, 2026). Đây là nền tảng quan trọng để Ninh Bình phát triển mạnh mẽ du lịch, kinh tế di sản và công nghiệp văn hoá, hướng tới mục tiêu trở thành thành phố trực thuộc trung ương – đô thị di sản thiên niên kỷ, thành phố sáng tạo toàn cầu. 6 tháng đầu năm 2026, số lượt khách đến tham quan dịch trên địa bàn tỉnh Ninh Bình ước đạt trên 17.613.000 lượt khách (trong đó, khách nội địa là trên 15.805.000 lượt, khách quốc tế là trên 1.808.000 lượt), tăng 23,34% so với cùng kỳ năm trước. Tổng thu hoạt động du lịch 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt trên 17.966 tỷ đồng, tăng 21,75% so với cùng kỳ năm trước (Sở Du lịch tỉnh Ninh Bình, 2026).
Thứ hai, Ninh Bìnhlà nơi hội tụ các trung tâm tôn giáo lớn của Việt Nam. Chùa Bái Đính, chùa Tam Chúc, Nhà thờ đá Phát Diệm hay Vương cung Thánh đường Sở Kiện đều là những công trình kiến trúc mang giá trị lịch sử và nghệ thuật đặc sắc, có sức hút quốc tế. Ninh Bình cũng chính là Cố đô, nơi khai mở kỷ nguyên độc lập tự chủ của dân tộc dưới các triều đại Đinh, Tiền Lê, Lý và Trần. Bề dày lịch sử ấy tạo nên nền móng vững chắc để xây dựng thương hiệu “đô thị di sản thiên niên kỷ”.
Thứ ba, Ninh Bình sở hữu nhiềugiá trị di sản giàu bản sắc văn hóa dân gian. Những làn điệu hát Xẩm, hát Chèo, hát Ca trù, hát Dậm, hát Văn hay hát Trống quân vẫn vang vọng trong đời sống cộng đồng. Các làng nghề truyền thống như đá mỹ nghệ Ninh Vân, thêu ren Văn Lâm, gốm Bồ Bát, đúc đồng Tống Xá, mộc La Xuyên không chỉ lưu giữ tinh hoa lao động, mà còn mở ra hướng phát triển du lịch trải nghiệm, gắn với sản phẩm đặc sản địa phương. Những lễ hội như Lễ hội Tràng An, Lễ hội Hoa Lư, hay sự kiện Đại lễ Vesak tại chùa Tam Chúc không chỉ giữ gìn văn hóa truyền thống mà còn trở thành sản phẩm du lịch đặc sắc, góp phần đưa hình ảnh Ninh Bình ra thế giới.
Tuy vậy, việc chuyển hóa các giá trị di sản thành nguồn lực phát triển công nghiệp văn hóa ở tỉnh Ninh Bình còn nhiều hạn chế như: tư duy khai thác di sản còn thiên về phát triển du lịch, trong khi các lĩnh vực công nghiệp văn hóa khác chưa được khai thác tương xứng. Sản phẩm văn hóa có thương hiệu và khả năng cạnh tranh quốc tế còn hạn chế. Nhiều sản phẩm vẫn dừng ở mức phục vụ nhu cầu tham quan, mua sắm tại chỗ, chưa hình thành được chuỗi giá trị dài và thị trường rộng. Năng lực sáng tạo và đội ngũ nhân lực công nghiệp văn hóa chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu. Sự kết nối giữa văn hóa, công nghệ, kinh tế, du lịch, truyền thông và thiết kế còn chưa chặt chẽ. Ứng dụng công nghệ số trong khai thác di sản chưa tương xứng với tiềm năng. Công nghệ thực tế ảo, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và các nền tảng số còn nhiều dư địa để phát triển. Cơ chế liên kết giữa Nhà nước – doanh nghiệp – cộng đồng – nhà khoa học – nghệ sĩ chưa thật sự hiệu quả. Đây là vấn đề quan trọng bởi công nghiệp văn hóa muốn phát triển phải có sự tham gia của nhiều chủ thể.
Nguyên nhân của những hạn chế, tồn tại nêu trên chủ yếu là do: Nhận thức về vai trò nguồn lực, động lực của văn hóa cũng như ngành công nghiệp văn hóa trong phát triển kinh tế – xã hội ở một số cấp, ngành, đơn vị và một bộ phận nhân dân chưa đầy đủ, toàn diện; thiếu quy hoạch, chiến lược, kế hoạch tổng thể và quản lý chi tiết đối với từng ngành công nghiệp văn hóa theo hướng phát triển bền vững; các doanh nghiệp đầu tư kinh doanh, hoạt động trong lĩnh vực văn hóa còn thiếu và yếu về trình độ khoa học, công nghệ và năng lực sáng tạo, năng lực cạnh tranh thấp; chưa có cơ chế, chính sách đặc thù, phù hợp để thu hút, khuyến khích các nguồn lực xã hội, nhất là các nhà đầu tư lớn trong và ngoài nước vào phát triển các ngành công nghiệp văn hóa trên địa bàn tỉnh Ninh Bình; chất lượng môi trường hỗ trợ sáng tạo, cơ sở vật chất và nguồn nhân lực trong lĩnh vực công nghiệp văn hóa còn nhiều hạn chế.
3. Một số giải pháp
Một là, đổi mới nhận thức về giá trị kinh tế của di sản.
Trước hết cần chuyển từ quan niệm “bảo tồn để lưu giữ” sang “bảo tồn để phát triển bền vững”, trong đó bảo tồn và phát triển phải hỗ trợ lẫn nhau.Cần coi di sản là một loại tài sản đặc biệt của địa phương. Tài sản đó không thể khai thác bằng cách tiêu dùng dần mà phải được gia tăng giá trị thông qua sáng tạo. Cần tạo chuyển biến căn bản trong nhận thức của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội về vai trò của di sản và công nghiệp văn hóa để thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa. Nâng cao nhận thức giá trị của văn hóa không chỉ là di sản mà còn là động lực phát triển trong đông đảo quần chúng nhân dân để mỗi cá nhân, mỗi tổ chức đều tham gia vào tiến trình bảo tồn và sáng tạo văn hóa thì công nghiệp văn hóa mới thật sự trở thành động lực phát triển bền vững của tỉnh Ninh Bình mới trong tương lai. Gắn phát triển du lịch với bảo tồn di sản, coi văn hóa là sức mạnh mềm, thị trường là động lực. Tiếp tục xác định du lịch là trục động lực định hướng, dẫn dắt các ngành, lĩnh vực liên quan phát triển theo hướng xanh, thông minh, bền vững và bao trùm, trên nền tảng hệ thống di sản hỗn hợp, độc đáo, cảnh quan sinh thái đa dạng và không gian văn hóa – tâm linh đặc sắc, giàu bản sắc, điển hình của vùng đất cố đô và đồng bằng sông Hồng. Phấn đấu đến năm 2030 công nghiệp văn hoá, du lịch đóng góp khoảng 10% GRDP của tỉnh (Tỉnh uỷ Ninh Bình, 2026).
Hai là, xây dựng bản đồ cơ sở dữ liệu về nguồn lực di sản văn hóa và quy hoạch không gian phát triển.
Ninh Bình cần tiến hành tổng kiểm kê, số hóa và xây dựng cơ sở dữ liệu về di sản văn hóa, bao gồm di tích, lễ hội, nghề truyền thống, nghệ thuật dân gian, ẩm thực, nhân vật lịch sử, địa danh, câu chuyện văn hóa và tri thức bản địa.Trên cơ sở đó xây dựng “Bản đồ nguồn lực văn hóa Ninh Bình”, làm cơ sở cho các doanh nghiệp, nghệ sĩ, nhà nghiên cứu và cộng đồng khai thác, sáng tạo sản phẩm. Đẩy mạnh chuyển đổi số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo. Chuyển đổi số cần trở thành một phương thức quan trọng để gia tăng giá trị di sản. Có thể xây dựng hệ thống dữ liệu số về di sản; tham quan di sản bằng công nghệ thực tế ảo; ứng dụng AI để hỗ trợ thuyết minh đa ngôn ngữ; xây dựng kho tư liệu số; phát triển nền tảng kể chuyện số về Hoa Lư và Tràng An. Đặc biệt, cần chú trọng đào tạo nhân lực có năng lực “văn hóa – công nghệ – kinh tế – sáng tạo”, đáp ứng yêu cầu mới của công nghiệp văn hóa. Tổ chức lại không gian, định hướng phát triển hạ tầng du lịch phù hợp với địa giới hành chính mới và định hướng phát triển xanh, bền vững gắn với bảo tồn di sản. Quản lý chặt chẽ quy hoạch, kiến trúc cảnh quan đô thị và nông thôn, đảm bảo sự hài hòa giữa khu vực di sản với đô thị. Đặc biệt cần tổ chức không gian phát triển du lịch theo hướng lấy Di sản thế giới Tràng An làm trung tâm động lực, vừa là lõi bảo tồn, vừa là đầu mối kết nối các không gian du lịch của cả tỉnh theo hướng: 01 trung tâm, 02 trục du lịch động lực; 03 không gian chiến lược; 03 vành đai du lịch và 09 cụm du lịch; hướng tới quy hoạch không gian phát triển công nghiệp văn hóa theo hướng liên kết vùng, xây dựng các cụm văn hóa sáng tạo ở đô thị trung tâm với hạ tầng đồng bộ, phát triển các tuyến du lịch văn hóa – di sản kết nối liên tỉnh, xây dựng bản đồ di sản số và phát triển sản phẩm du lịch theo chủ đề.
Ba là, tập trung phát triển sản phẩm công nghiệp văn hóa có thương hiệu riêng.
Cần lựa chọn một số giá trị đặc sắc để tập trung xây dựng thương hiệu, tránh tình trạng sản phẩm văn hóa phát triển manh mún.Có thể ưu tiên các nhóm:công nghiệp du lịch văn hóa: phát triển tour trải nghiệm lịch sử, văn hóa, sinh thái và cộng đồng; công nghiệp điện ảnh và nội dung số: xây dựng Ninh Bình trở thành không gian sáng tác, bối cảnh điện ảnh và sản xuất nội dung; nghệ thuật biểu diễn: phát triển các chương trình nghệ thuật về Hoa Lư, Tràng An, lịch sử và văn hóa Ninh Bình; thiết kế và thủ công mỹ nghệ: kết hợp chất liệu truyền thống với thiết kế đương đại; ẩm thực: xây dựng thương hiệu ẩm thực Ninh Bình gắn với câu chuyện văn hóa và trải nghiệm; công nghiệp sáng tạo số: phát triển phim hoạt hình, trò chơi, ứng dụng, trải nghiệm thực tế ảo và các sản phẩm giáo dục số về di sản. Trước hết, cần tiếp tục định vị và phát triển thương hiệu du lịch của tỉnh gắn với các giá trị “Thiên nhiên – Di sản – Văn hoá – Lịch sử – Tâm linh – Cộng đồng”; xây dựng và triển khai thống nhất, đồng bộ Bộ nhận diện hình ảnh, thương hiệu du lịch “Tuyệt sắc miền cố đô”. Đồng thời, đổi mới mạnh mẽ phương thức xúc tiến quảng bá, kết hợp các hình thức truyền thông, xây dựng hình ảnh bên trong điểm đến với các phương thức truyền thông, xúc tiến quảng bá hiện đại, thông minh trên các nền tảng số. Phát triển ứng dụng du lịch thông minh, số hóa dữ liệu, sử dụng AI kết hợp với các nền tảng số, mạng xã hội để tiếp cận thị trường khách du lịch quốc tế. Thực hiện các dự án, đề án, kế hoạch truyền thông thường kỳ, mạnh mẽ về du lịch và công nghiệp văn hóa trên địa bàn tỉnh, đẩy mạnh truyền thông đa kênh, ứng dụng công nghệ số; thực hiện đào tạo đội ngũ thuyết minh viên, hướng dẫn viên tại các điểm đến, đào tạo, hướng dẫn để mỗi người dân sẽ là một “đại sứ du lịch”. Bên cạnh đó cần tăng cường tham gia các hội chợ, triển lãm du lịch quốc tế và mời các đoàn Famtrip, presstrip, đoàn làm phim đến tỉnh khảo sát và quảng bá hình ảnh du lịch Ninh Bình.
Bốn là, phát triển nguồn nhân lực sáng tạo.
Công nghiệp văn hóa trước hết là ngành kinh tế dựa trên sức sáng tạo của con người.Ninh Bình cần có chính sách thu hút nghệ sĩ, nhà thiết kế, chuyên gia truyền thông, nhà làm phim, chuyên gia công nghệ và doanh nhân sáng tạo; đồng thời tăng cường đào tạo nguồn nhân lực tại chỗ.Các cơ sở giáo dục, trường chính trị, trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp cần được kết nối trong đào tạo, nghiên cứu và phát triển sản phẩm. Cần phối hợp giữa chính quyền địa phương, doanh nghiệp và cơ sở đào tạo, tập trung vào kỹ năng nghề nghiệp, công nghệ số, ngoại ngữ và tư duy đổi mới sáng tạo. Chú trọng nâng cao trình độ giảng viên, liên kết đào tạo, ưu tiên phát triển nhân lực tinh hoa để biến di sản văn hóa thành động lực tăng trưởng xanh, bền vững. Tập trung đào tạo các chuyên gia có tư duy đổi mới, sáng tạo, khả năng lan tỏa bản sắc văn hóa và xây dựng thương hiệu du lịch- công nghiệp văn hóa ở Ninh Bình, cần hỗ trợ các cơ sở giáo dục tăng cường hợp tác với doanh nghiệp để xây dựng chương trình đào tạo nhân lực ngành du lịch – công nghiệp văn hóa và chuẩn đầu ra về đào tạo khung năng lực; tăng thời lượng thực hành, liên kết cho học sinh, sinh viên đi thực tập, học viên cao học và nghiên cứu sinh, giảng viên, giáo viên kiến tập tại các doanh nghiệp và cơ sở dịch vụ du lịch- công nghiệp văn hóa; xây dựng và triển khai hiệu quả các chương trình tuyên truyền nâng cao nhận thức về phát triển du lịch- công nghiệp văn hóa của Tỉnh.
Năm là, hình thành hệ sinh thái liên kết nhà nước – doanh nghiệp – cộng đồng.
Nhà nước giữ vai trò kiến tạo thể chế, quy hoạch, đầu tư hạ tầng và bảo đảm môi trường thuận lợi.Doanh nghiệp là lực lượng chủ yếu tổ chức sản xuất, đầu tư, phân phối và đưa sản phẩm ra thị trường.Cộng đồng là chủ thể lưu giữ và trao truyền di sản.Nhà khoa học, nghệ sĩ và đội ngũ sáng tạo đóng vai trò nghiên cứu, đổi mới và sáng tạo sản phẩm.Sự liên kết của các chủ thể này sẽ tạo nên hệ sinh thái công nghiệp văn hóa Ninh Bình, trong đó lợi ích kinh tế phải gắn với lợi ích xã hội và bảo tồn di sản.
Sáu là, gắn phát triển công nghiệp văn hóa với sinh kế của người dân.
Một trong những thước đo quan trọng của việc chuyển hóa di sản thành nguồn lực phát triển là người dân địa phương có được hưởng lợi hay không.Cần khuyến khích cộng đồng tham gia cung cấp dịch vụ du lịch, sản xuất sản phẩm thủ công, biểu diễn nghệ thuật, phát triển ẩm thực, lưu trú, hướng dẫn trải nghiệm và sáng tạo nội dung.Khi người dân có thu nhập ổn định từ di sản, họ sẽ trở thành lực lượng quan trọng nhất trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản. Tỉnh cần nghiên cứu xây dựng và ban hành cơ chế, chính sách hỗ trợ đặc thù, đột phá đủ sức thu hút, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển công nghiệp văn hóa. Tập trung vào các chính sách hỗ trợ phát triển sản phẩm du lịch mới, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực du lịch nói chung và nguồn nhân lực công nghiệp văn hóa nói riêng, xúc tiến quảng bá du lịch ở trong nước và nước ngoài; cần tăng cường hỗ trợ kỹ thuật, nhân lực và truyền thông; bố trí ngân sách ổn định cho các dự án bảo tồn, phát triển, sáng tạo văn hóa. Với lợi thế của hàng trăm làng nghề, cần ưu tiên thúc đẩy phát triển du lịch biển gắn với làng nghề và cộng đồng. Tăng cường gắn kết phát triển nông nghiệp, nông thôn mới với phát triển du lịch; xây dựng các thôn xóm xanh, sạch đẹp, an toàn và hấp dẫn, trở thành nơi đáng sống, đáng đến với khách du lịch. Hỗ trợ cộng đồng sáng tạo, phát triển các sản phẩm thủ công truyền thống, sản phẩm OCOP và nông sản, phục vụ nhu cầu mua sắm và trải nghiệm của khách du lịch. Đồng thời, tạo lập nhiều không gian nghiên cứu, đổi mới sáng tạo, đẩy mạnh tổ chức các cuộc thi trực tiếp và trực tuyến về thiết kế, sáng tạo mẫu mã sản phẩm phù hợp với nhu cầu, thị hiếu của thị trường, qua đó nâng cao giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của sản phẩm du lịch – văn hóa địa phương.
4. Kết luận
Ninh Bình đang đứng trước cơ hội lớn để chuyển từ một địa phương có thế mạnh về tài nguyên du lịch và di sản trở thành một trung tâm phát triển công nghiệp văn hóa của khu vực phía Bắc. Muốn biến cơ hội thành hiện thực, cần thay đổi căn bản cách tiếp cận: di sản không chỉ là đối tượng cần bảo tồn mà còn là nguồn lực để sáng tạo; sáng tạo không chỉ tạo ra giá trị tinh thần mà còn tạo ra giá trị kinh tế; phát triển kinh tế từ di sản phải quay trở lại phục vụ bảo tồn và nâng cao chất lượng cuộc sống của cộng đồng. Theo đó, hướng đi phù hợp của Ninh Bình là xây dựng mô hình: “Bảo tồn di sản → sáng tạo giá trị mới → hình thành sản phẩm văn hóa → phát triển thị trường → tạo nguồn thu → tái đầu tư cho bảo tồn và cộng đồng”. Nếu thực hiện tốt chuỗi giá trị này, những giá trị lịch sử, văn hóa và thiên nhiên đặc sắc của Ninh Bình sẽ không chỉ được gìn giữ mà còn được tái sinh trong đời sống đương đại, trở thành nguồn lực nội sinh quan trọng cho phát triển kinh tế – xã hội, nâng cao vị thế của tỉnh và góp phần xây dựng Ninh Bình trở thành địa phương có thương hiệu văn hóa mạnh, giàu bản sắc và có sức cạnh tranh trong thời kỳ hội nhập quốc tế.
Tài liệu tham khảo:
Anh Thư (05/7/2024). Tour khám phá Ninh Bình lọt vào top trải nghiệm du lịch cuốn hút nhất thế giới. https://vntravel.org.vn/tour-kham-pha-ninh-binh-lot-top-trai-nghiem-du-lich-cuon-hut-nhat-the-gioi-a4850.html
Bùi Văn Mạnh (19/10/2026). Ninh Bình phát triển du lịch văn hóa trong không gian phát triển mới. Báo Ninh Bình. https://baoninhbinh.org.vn/ninh-binh-phat-trien-du-lich-van-hoa-trong-khong-gian-moi-261018112954747.html
Sở Du lịch tỉnh Ninh Bình (2026). Báo cáo số 216/BC-SDL ngày 24/6/2026 về công tác di lịch 6 tháng đầu năm; phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2026.
Tỉnh ủy Ninh Bình (2026). Nghị quyết số 07-NQ/TU ngày 30/01/2026 về chiến lược phát triển công nghiệp văn hoá, du lịch tỉnh Ninh Bình đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Bình (2026). Quyết định số 1974/QĐ-UBND ngày 01/6/2026 về việc phê duyệt Đề án “Chiến lược phát triển công nghiệp văn hóa, du lịch tỉnh Ninh Bình đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2025”.



