Phát triển du lịch cộng đồng bền vững: Kinh nghiệm từ một số mô hình và hàm ý đối với tỉnh Thái Nguyên

Sustainable community-based tourism development: lessons from selected models and implications for Thai Nguyen province

ThS. Nguyễn Thị Thanh Hương
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

(Quanlynhanuoc.vn) – Du lịch cộng đồng bền vững đòi hỏi người dân tham gia thực chất vào quyết định, tổ chức hoạt động và phân phối lợi ích. Trên cơ sở phân tích tài liệu và so sánh ba trường hợp Mai Hịch (Việt Nam), Mae Kampong (Thái Lan) và Tenganan Pegringsingan (Indonesia), bài viết nhận diện năm điều kiện có tính liên kết: quyền chủ thể của cộng đồng; thiết chế quản trị tại chỗ; cơ chế chia sẻ lợi ích; bảo tồn tài nguyên văn hóa, tự nhiên; và liên kết với Nhà nước, doanh nghiệp, tổ chức hỗ trợ. Kết quả cho thấy không có mô hình duy nhất có thể sao chép nguyên trạng; giá trị của kinh nghiệm nằm ở cơ chế vận hành và khả năng thích ứng với điều kiện địa phương.

Từ khóa: Du lịch cộng đồng; phát triển bền vững; quản trị cộng đồng; bảo tồn văn hóa; Thái Nguyên.

Abstract: Sustainable community-based tourism requires the substantive participation of local residents in decision-making, the organization of tourism activities, and the distribution of benefits. Drawing on document analysis and a comparative study of three cases – Mai Hich (Vietnam), Mae Kampong (Thailand), and Tenganan Pegringsingan (Indonesia) – this article identifies five interrelated conditions: community ownership and agency; local governance institutions; benefit-sharing mechanisms; the conservation of cultural and natural resources; and linkages with government agencies, businesses, and supporting organizations. The findings indicate that no single model can be replicated wholesale; rather, the value of these experiences lies in their operational mechanisms and adaptability to local conditions.

Keywords: Community-based tourism; sustainable development; community governance; cultural heritage conservation; Thai Nguyen Province.

1. Mở đầu

Du lịch cộng đồng được xem là phương thức phát triển du lịch gắn với sinh kế, bảo tồn văn hóa và bảo vệ môi trường tại điểm đến. Tuy nhiên, việc sử dụng nhà dân, lao động địa phương hoặc yếu tố văn hóa bản địa chưa đủ để một sản phẩm trở thành du lịch cộng đồng theo nghĩa thực chất. Vấn đề cốt lõi là cộng đồng có quyền tham gia quyết định, tổ chức hoạt động, kiểm soát tác động và hưởng lợi công bằng hay không. Khoảng cách giữa tên gọi và cơ chế vận hành khiến nhiều mô hình tuy mang nhãn “cộng đồng” nhưng vẫn phụ thuộc vào dự án, doanh nghiệp hoặc một nhóm hộ có lợi thế (Goodwin & Santilli, 2009; Dodds và cộng sự, 2018).

Ở Việt Nam, Quyết định số 922/QĐ-TTg ngày 02/8/2022 định hướng phát triển du lịch nông thôn theo hướng bền vững, bao trùm, gắn với chuyển đổi số, bảo tồn văn hóa, cảnh quan và môi trường (Thủ tướng Chính phủ, 2022). Đối với Thái Nguyên, không gian phát triển mới sau khi hợp nhất tỉnh Thái Nguyên và tỉnh Bắc Kạn từ ngày 01/7/2025 tạo điều kiện kết nối văn hóa trà, di tích cách mạng, hồ Núi Cốc, hồ Ba Bể cùng hệ sinh thái và bản sắc Việt Bắc (Cổng Thông tin điện tử tỉnh Thái Nguyên, 2026). Kế hoạch số 64/KH-UBND năm 2026 tiếp tục xác định du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái, du lịch nông nghiệp – trải nghiệm và chuyển đổi số là những hướng quan trọng trong giai đoạn 2026-2030 (UBND tỉnh Thái Nguyên, 2026). Cơ hội đó đồng thời đặt ra yêu cầu phát triển có chọn lọc, tránh đồng nhất sản phẩm và thương mại hóa tài nguyên văn hóa.

Bài viết phân tích, so sánh ba trường hợp Mai Hịch (Việt Nam), Mae Kampong (Thái Lan) và Tenganan Pegringsingan (Indonesia) nhằm trả lời hai câu hỏi: những cơ chế nào tạo nên khả năng duy trì của các mô hình du lịch cộng đồng; và Thái Nguyên có thể tiếp nhận các kinh nghiệm đó như thế nào mà không sao chép hình thức? Ba trường hợp khác nhau về điều kiện hình thành, mức độ hỗ trợ bên ngoài và nền tảng văn hóa, nhưng cùng cho phép xem xét năm chiều cạnh: quyền chủ thể của cộng đồng, thiết chế quản trị, phân phối lợi ích, bảo tồn tài nguyên và liên kết hỗ trợ. Tnh bền vững của du lịch cộng đồng không do một sản phẩm đơn lẻ quyết định mà hình thành từ cấu trúc quản trị liên kết, trong đó cộng đồng có quyền thực chất, lợi ích được phân phối có nguyên tắc, tài nguyên được khai thác trong giới hạn và các chủ thể bên ngoài đóng vai trò hỗ trợ thay vì thay thế cộng đồng.

2. Cơ sở lý luận và khung phân tích

Khái niệm du lịch cộng đồng được tiếp cận theo nhiều cách. Cách hiểu hẹp nhấn mạnh hình thức du lịch do cộng đồng sở hữu hoặc quản lý; cách hiểu rộng chú trọng lợi ích kinh tế – xã hội mà hoạt động du lịch đem lại cho cư dân. Tiêu chuẩn du lịch cộng đồng ASEAN xác định đây là hoạt động du lịch do cộng đồng sở hữu và vận hành, được quản lý hoặc điều phối ở cấp cộng đồng, góp phần nâng cao phúc lợi thông qua hỗ trợ sinh kế bền vững, bảo vệ truyền thống văn hóa – xã hội và tài nguyên tự nhiên, văn hóa có giá trị (ASEAN Secretariat, 2016). Định nghĩa này đặt bốn nội dung trong một chỉnh thể: quyền sở hữu/vận hành; năng lực điều phối; cải thiện phúc lợi; và bảo tồn tài nguyên. Nếu thiếu một trong các nội dung đó, du lịch cộng đồng dễ bị thu hẹp thành dịch vụ lưu trú tại nhà dân hoặc một sản phẩm phụ trợ cho chuỗi du lịch do chủ thể bên ngoài chi phối.

Từ góc độ phát triển, “cộng đồng” không phải một chủ thể đồng nhất. Trong cùng một địa bàn có thể tồn tại khác biệt về nguồn lực, giới, tuổi, vị thế xã hội, khả năng tiếp cận đất đai, vốn và thông tin. Vì vậy, sự tham gia cần được đánh giá theo mức độ ảnh hưởng đến quyết định chứ không chỉ theo số người có mặt trong hoạt động. Một cuộc họp đông người chưa chắc tạo ra quyền tham gia nếu phương án đã được quyết định từ trước; nhiều hộ cùng bán hàng chưa chắc tạo ra lợi ích bao trùm nếu chỉ một nhóm nắm luồng khách và dữ liệu thị trường. Goodwin và Santilli (2009) cho rằng hai tiêu chí thường được dùng để nhận diện du lịch cộng đồng là quyền sở hữu/quản lý của cộng đồng và lợi ích dành cho cộng đồng, đồng thời cảnh báo sự không thống nhất giữa cách dùng khái niệm trong học thuật và thực tiễn. Do đó, bài viết sử dụng “quyền chủ thể thực chất” làm tiêu chí xuất phát.

Phát triển bền vững trong du lịch cộng đồng không chỉ là cân bằng cơ học giữa kinh tế, xã hội và môi trường. Ba mặt này được nối với nhau bằng cơ chế quản trị. Khi cộng đồng có quyền xác lập quy tắc tiếp nhận khách, lựa chọn sản phẩm, kiểm soát xây dựng và sử dụng quỹ chung, lợi ích kinh tế có thể tạo nguồn lực cho bảo tồn và phúc lợi xã hội. Ngược lại, nếu mục tiêu tăng khách chi phối mọi quyết định, thành công ngắn hạn có thể dẫn đến quá tải, tăng giá đất, thương mại hóa nghi lễ, rác thải, cạnh tranh nội bộ và phụ thuộc vào nền tảng trung gian. Nghiên cứu tổng hợp của Dodds và cộng sự (2018) cho thấy năng lực lãnh đạo, kế hoạch kinh doanh, tiếp cận thị trường, sự tham gia của các bên, quản trị lợi ích và nguồn lực hỗ trợ là những điều kiện quan trọng, trong khi kỳ vọng phi thực tế, thiếu kỹ năng và xung đột lợi ích là các rào cản phổ biến.

Trên cơ sở đó, bài viết xây dựng khung phân tích gồm năm chiều cạnh. Thứ nhất, quyền chủ thể của cộng đồng, thể hiện ở quyền tham gia xác định mục tiêu, quy mô và quy tắc hoạt động. Thứ hai, thiết chế quản trị tại chỗ, gồm ban quản lý, hợp tác xã, tổ dịch vụ hoặc cơ chế tương đương có phân công và trách nhiệm rõ ràng. Thứ ba, phân phối lợi ích, bao gồm thu nhập trực tiếp, cơ hội việc làm, quỹ cộng đồng và khả năng tiếp cận của nhóm ít nguồn lực. Thứ tư, bảo tồn văn hóa và môi trường, được thể hiện bằng quy tắc sử dụng tài nguyên, giới hạn sức chứa và cơ chế tái đầu tư. Thứ năm, liên kết hỗ trợ, phản ánh cáchthức Nhà nước, doanh nghiệp, tổ chức xã hội và cơ sở đào tạo cung cấp hạ tầng, kỹ năng, tiêu chuẩn và thị trường mà không tước quyền tự quyết của cộng đồng. Năm chiều cạnh này được dùng thống nhất để so sánh ba trường hợp và rút ra hàm ý cho Thái Nguyên.

3. Phương pháp nghiên cứu

Bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu trường hợp so sánh kết hợp phân tích tài liệu. Tư liệu được lựa chọn từ ba nhóm: công trình học thuật về du lịch cộng đồng và các trường hợp nghiên cứu; tiêu chuẩn, văn bản chính sách và tài liệu của cơ quan nhà nước, tổ chức quốc tế; thông tin công khai của các mạng lưới du lịch cộng đồng có liên quan. Các nguồn được đọc theo năm chiều cạnh của khung phân tích. Những số liệu không xác định được xuất xứ hoặc có khác biệt giữa các tài liệu không được dùng làm căn cứ kết luận. Cách xử lý này đặc biệt cần thiết vì tài liệu quảng bá thường nhấn mạnh thành tích, trong khi các nghiên cứu học thuật cho thấy cùng một mô hình có thể đồng thời tạo sinh kế, củng cố bản sắc và phát sinh bất bình đẳng hoặc áp lực thương mại hóa.

Ba trường hợp được chọn theo logic khác biệt có chủ đích. Mai Hịch đại diện cho mô hình ở miền núi Việt Nam được thúc đẩy bởi dự án hỗ trợ và doanh nghiệp xã hội; Mae Kampong thể hiện sự kết hợp giữa lãnh đạo địa phương, hỗ trợ nhà nước – tổ chức phát triển và thị trường học tập; Tenganan Pegringsingan cho thấy vai trò của thiết chế bản địa và mạng lưới du lịch sinh thái trong bối cảnh chịu áp lực mạnh của thị trường du lịch Bali. Việc so sánh không nhằm xếp hạng mô hình mà nhằm truy tìm cơ chế có thể chuyển giao. Giới hạn của nghiên cứu là không thực hiện khảo sát thực địa và không đo lường trực tiếp thay đổi thu nhập, mức độ hài lòng hay sức chứa. Vì vậy, các đề xuất cho Thái Nguyên mang tính khung chính sách và cần được kiểm chứng bằng điều tra cộng đồng, đánh giá tài nguyên và dữ liệu vận hành ở từng điểm đến.

4. Kết quả và thảo luận

4.1. Mai Hịch: hỗ trợ khởi tạo và quá trình hình thành năng lực cộng đồng

Mai Hịch là địa bàn miền núi có tài nguyên cảnh quan và văn hóa của cộng đồng người Thái, với nhà sàn, ẩm thực, nghề thủ công, nghệ thuật trình diễn và các tuyến trải nghiệm tự nhiên. Trước khi du lịch cộng đồng được tổ chức, sinh kế của nhiều hộ dựa chủ yếu vào nông nghiệp và khả năng tiếp cận thị trường du lịch còn hạn chế. Mô hình được hình thành trong khuôn khổ dự án giảm nghèo và phát triển kinh tế bền vững do Trung tâm Nghiên cứu Sức khỏe Cộng đồng và Phát triển (COHED) triển khai, kết hợp hỗ trợ kỹ thuật, một phần nguồn lực tài chính và tư vấn của các chủ thể xã hội – doanh nghiệp. Tài liệu chính sách khảo cứu về du lịch cộng đồng ở Việt Nam ghi nhận Mai Hịch như một trường hợp sử dụng nhà ở, vật liệu và kỹ thuật địa phương để tạo sản phẩm lưu trú có chi phí phù hợp, đồng thời chú trọng đào tạo và kết nối thị trường (UBND tỉnh Bắc Giang, 2021).

Kinh nghiệm thứ hai là vai trò “ươm tạo” của tổ chức hỗ trợ. Ở giai đoạn đầu, cộng đồng thường thiếu đồng thời kỹ năng phục vụ, thiết kế sản phẩm, định giá, quản lý tài chính, ngoại ngữ và kết nối doanh nghiệp lữ hành. Nếu chỉ cấp vốn mà không hình thành năng lực, mô hình dễ ngừng hoạt động sau khi dự án kết thúc. Trường hợp Mai Hịch cho thấy hỗ trợ có hiệu quả hơn khi gắn tập huấn với thực hành, lựa chọn hộ thí điểm, tạo sản phẩm mẫu và kết nối khách. Tuy nhiên, sự phụ thuộc vào một dự án hoặc một doanh nghiệp dẫn khách cũng là rủi ro. Bước chuyển quan trọng phải là từ “được hỗ trợ làm du lịch” sang “có thiết chế cộng đồng tự điều phối du lịch”, tự lưu giữ dữ liệu khách, đa dạng hóa kênh bán và xây dựng quỹ bảo trì, đào tạo.

Từ trường hợp này có thể rút ra hai điều kiện chuyển giao. Một là, đầu tư ban đầu phải phù hợp năng lực tài chính của hộ dân và ưu tiên cải thiện vệ sinh, an toàn, chất lượng cơ bản hơn là kiến trúc phô trương. Hai là, thiết kế chuỗi dịch vụ phải bảo đảm nhiều nhóm cư dân có thể tham gia. Giá trị của Mai Hịch đối với Thái Nguyên vì thế không phải là sao chép một kiểu nhà sàn hoặc chương trình văn nghệ, mà là phương pháp khởi tạo từ tài sản bản địa, huấn luyện theo công việc thực tế và từng bước chuyển quyền điều phối cho tổ chức cộng đồng.

4.2. Mae Kampong: lãnh đạo địa phương, quy tắc cộng đồng và thị trường học tập

Mae Kampong là làng miền núi thuộc tỉnh Chiang Mai, có khí hậu mát, cảnh quan rừng – suối và sinh kế truyền thống gắn với chè, cà phê và sản phẩm địa phương. Chương trình du lịch cộng đồng được chính thức triển khai vào năm 2000 với trọng tâm là homestay và trải nghiệm đời sống làng. Nghiên cứu của Kontogeorgopoulos và cộng sự (2014) chỉ ra ba nhóm yếu tố có vai trò nổi bật đối với thành công của Mae Kampong: điều kiện địa lý thuận lợi, hỗ trợ bên ngoài liên tục và năng lực lãnh đạo địa phương. Trường hợp này vì thế giúp điều chỉnh quan niệm cho rằng chỉ cần tài nguyên hấp dẫn và sự tham gia tự nguyện là đủ. Tài nguyên phải được chuyển hóa thành sản phẩm, còn sự tham gia phải được tổ chức bằng lãnh đạo, quy tắc và thiết chế.

Thiết chế quản trị của Mae Kampong phân nhóm dịch vụ và điều phối sự tham gia của các hộ. Doanh thu từ hoạt động cụ thể được phân bổ cho người cung ứng, đồng thời một phần được đóng góp cho quỹ cộng đồng để phục vụ phúc lợi và công việc chung. Giá trị của cơ chế này không chỉ nằm ở một tỷ lệ cố định mà ở nguyên tắc: người tham gia được trả công, còn điểm đến phải giữ lại nguồn lực để duy trì hạ tầng và lợi ích tập thể. Khi quy tắc được công khai, cộng đồng có cơ sở giải quyết mâu thuẫn giữa hộ trực tiếp đón khách và những hộ cùng chịu tác động nhưng không có dịch vụ bán cho khách. Đây là một trong những mắt xích thường bị bỏ qua trong các mô hình phát triển theo hộ riêng lẻ.

Hỗ trợ nhà nước tại Mae Kampong bao gồm quảng bá, chương trình sản phẩm địa phương, tiêu chuẩn homestay và đào tạo nghề; các tổ chức xã hội hỗ trợ học tập, xây dựng sản phẩm và kết nối thị trường. Tuy nhiên, Kontogeorgopoulos và cộng sự (2014) nhấn mạnh vai trò khó thay thế của người lãnh đạo có khả năng tạo niềm tin, tập hợp cư dân và duy trì định hướng dài hạn. Bài học cần được tiếp nhận thận trọng: lãnh đạo cá nhân có thể khởi phát thay đổi nhưng mô hình sẽ mong manh nếu tri thức, dữ liệu và quan hệ thị trường chỉ tập trung ở một người. Vì vậy, giai đoạn trưởng thành phải chuyển năng lực cá nhân thành năng lực tổ chức thông qua quy chế, đội ngũ kế cận, báo cáo tài chính và cơ chế giám sát cộng đồng.

Mae Kampong cũng cho thấy mặt trái của sự nổi tiếng. Khả năng tiếp cận thuận lợi và truyền thông rộng có thể làm tăng khách vãng lai, đầu tư bên ngoài, giao thông và chất thải vượt quá sức chịu tải của làng. Do đó, thành công không thể tiếp tục đo chủ yếu bằng tăng trưởng lượt khách. Mô hình cần chuyển sang quản trị sức chứa, điều tiết phương tiện, đặt lịch theo khung giờ, kiểm soát xây dựng và xác định phần doanh thu dành cho bảo tồn. Kinh nghiệm này đặc biệt phù hợp với các điểm gần đô thị, có khả năng tăng khách nhanh ở Thái Nguyên: tiếp thị phải đi cùng giới hạn, và số hóa phải phục vụ điều phối chứ không chỉ khuếch đại nhu cầu.

4.3. Tenganan Pegringsingan: thiết chế bản địa và giới hạn của thị trường hóa văn hóa

Tenganan Pegringsingan là một làng Bali Aga ở huyện Karangasem, Bali, được biết đến với không gian làng truyền thống, hệ thống nghi lễ và nghề dệt gringsing bằng kỹ thuật ikat kép. Trong bối cảnh Bali chịu ảnh hưởng sâu của du lịch đại chúng, cộng đồng Tenganan tham gia Jaringan Ekowisata Desa (JED) – mạng lưới du lịch sinh thái làng được hình thành năm 2002 với sự hỗ trợ của Wisnu Foundation. JED được tổ chức theo hướng các nhóm cộng đồng thiết kế, quản lý và chủ trì trải nghiệm, còn mạng lưới hỗ trợ điều phối, tiêu chuẩn, quan hệ đối tác và học tập giữa các làng (Jaringan Ekowisata Desa, n.d.). Cách tổ chức theo mạng lưới giúp một cộng đồng nhỏ tiếp cận thị trường mà không nhất thiết giao toàn bộ quyền xây dựng sản phẩm cho công ty lữ hành bên ngoài.

Tại Tenganan, văn hóa không chỉ là nội dung biểu diễn mà là hệ thống quy tắc chi phối không gian, quan hệ xã hội và sử dụng tài nguyên. Điều này tạo ra nền tảng khác với những điểm đến “phục dựng” văn hóa sau khi hoạt động du lịch xuất hiện. Các tour dựa vào cộng đồng có thể kết nối nghề dệt, kiến trúc, nông nghiệp, rừng và đời sống nghi lễ, nhưng quyền quyết định những gì được mở cho khách, thời điểm nào và theo cách nào phải thuộc về cộng đồng. Nghiên cứu của Byczek (2011) cho thấy mô hình du lịch sinh thái cộng đồng ở Bali có tiềm năng tạo nguồn thu và củng cố bảo tồn, song cũng chịu sức ép từ quan hệ quyền lực giữa lợi ích toàn cầu, quốc gia và địa phương. Nghiên cứu gần đây tiếp tục lưu ý rằng diễn ngôn sinh thái và tính “đích thực” có thể bị thị trường tái định nghĩa, làm nảy sinh căng thẳng trong cộng đồng (Suyadnya và cộng sự, 2025).

Bài học chuyển giao quan trọng là phân định quyền tiếp cận tài nguyên văn hóa. Cộng đồng cần xây dựng danh mục nội dung có thể giới thiệu rộng rãi, nội dung chỉ được tiếp cận theo điều kiện và nội dung không thương mại hóa; đồng thời có nguyên tắc về ghi hình, sử dụng hình ảnh, quyền sở hữu tri thức và chia sẻ doanh thu. Trong môi trường số, một đoạn video ngắn có thể đưa nghi lễ hoặc tri thức cộng đồng ra khỏi bối cảnh, tạo lượng khách đột biến hoặc bị sử dụng thương mại mà không có sự đồng ý. Do đó, chuyển đổi số trong du lịch cộng đồng phải bao gồm quản trị dữ liệu văn hóa và quyền hình ảnh, chứ không chỉ là mã QR, bản đồ số hay quảng bá trên mạng xã hội.

4.4. So sánh các mô hình và những cơ chế có thể chuyển giao

So sánh ba trường hợp cho thấy các mô hình khác nhau về điểm xuất phát nhưng hội tụ ở yêu cầu kết hợp quyền cộng đồng với năng lực tổ chức. Mai Hịch làm rõ vai trò của quá trình ươm tạo và thiết kế sinh kế có ngưỡng tham gia phù hợp; Mae Kampong cho thấy tầm quan trọng của lãnh đạo địa phương, quy tắc phân phối và thị trường học tập; Tenganan nhấn mạnh sức mạnh của thiết chế bản địa và yêu cầu bảo vệ văn hóa trước áp lực thị trường. Bảng 1 tóm tắt các cơ chế chính.

Bảng 1. So sánh ba trường hợp du lịch cộng đồng

Chiều cạnhMai HịchMae KampongTenganan Pegringsingan
Động lực khởi tạoDự án giảm nghèo, tư vấn và kết nối doanh nghiệpSáng kiến địa phương kết hợp hỗ trợ nhà nước và tổ chức phát triểnThiết chế bản địa kết hợp mạng lưới du lịch sinh thái
Tổ chức cộng đồngHộ thí điểm, nhóm dịch vụ; cần củng cố điều phối chungPhân nhóm dịch vụ, điều phối cấp làng, quỹ cộng đồngNhóm làng tự quản, liên kết qua mạng lưới JED
Tài nguyên lõiNhà sàn, văn hóa Thái, nông nghiệp và cảnh quanĐời sống làng, chè – cà phê, rừng và hoạt động học tậpThiết chế làng, nghề dệt gringsing, nghi lễ và cảnh quan
Bài học nổi bậtKhởi tạo từ tài sản sẵn có; đào tạo gắn thực hànhLãnh đạo, quy tắc lợi ích và quản trị sức chứaQuyền kiểm soát văn hóa, mạng lưới hỗ trợ và giới hạn thương mại hóa
Rủi ro cần tránhPhụ thuộc dự án hoặc một kênh dẫn kháchQuá tải, đầu tư ngoài cộng đồng, phụ thuộc lãnh đạo cá nhânThương mại hóa văn hóa, bất cân xứng quyền lực và lợi ích

Nguồn: Tác giả tổng hợp từ các tài liệu nghiên cứu.

Thứ nhất, quyền chủ thể phải được thể chế hóa. Cả ba trường hợp đều cho thấy sự tham gia có hiệu quả khi cộng đồng có quyền đặt quy tắc và tổ chức cung ứng, không chỉ được tham vấn. Quyền đó cần được ghi nhận trong quy chế điểm đến: phạm vi tài nguyên được khai thác, tiêu chuẩn xây dựng, nguyên tắc nhận khách, cách lựa chọn nhà cung ứng, công khai thu – chi và quy trình xử lý vi phạm. Không có quy chế, quyền cộng đồng dễ phụ thuộc vào thiện chí của doanh nghiệp hoặc nhiệm kỳ của một người lãnh đạo.

Thứ hai, thiết chế quản trị tại chỗ, gồm ban quản lý, hợp tác xã, tổ dịch vụ hoặc cơ chế tương đương có phân công và trách nhiệm rõ ràng. Thiết chế này đóng vai trò là “cầu nối” sống còn đó là vừa tiếp nhận các nguồn lực hỗ trợ từ bên ngoài (như hạ tầng, thị trường từ Nhà nước hay doanh nghiệp), vừa điều phối, sắp xếp để nội bộ cộng đồng cùng thực hiện. Đây là chìa khóa để tránh tình trạng “việc chung không ai làm” hoặc “đùn đẩy trách nhiệm”. Ai làm thủ quỹ, ai lo kỹ thuật, ai giám sát chất lượng đều phải được quy định minh bạch, công khai để bộ máy vận hành trơn tru và không bị thất thoát, mâu thuẫn. Nhờ có thiết chế tại chỗ này mà nguyên tắc “không tước quyền tự quyết” ở đoạn trước mới thực hiện được. Vì có tổ chức của riêng mình, cộng đồng mới có đủ năng lực, tiếng nói bình đẳng để ngồi vào bàn đàm phán với doanh nghiệp hay nhà nước, thay vì bị áp đặt.

Thứ ba, phân phối lợi ích bao gồm thu nhập trực tiếp, cơ hội việc làm… phải được nhìn theo chuỗi và theo không gian cộng đồng. Thu nhập của chủ homestay chỉ phản ánh một phần kết quả. Cần tính cả việc làm cho người hướng dẫn, nghệ nhân, người sản xuất nông sản, nhóm vận chuyển, người làm vệ sinh và các hộ cung cấp nguyên liệu. Đồng thời, quỹ chung là cơ chế bù đắp cho cộng đồng cùng gánh chi phí về giao thông, tiếng ồn, rác thải và thay đổi không gian sống. Một mô hình bền vững cần công khai tỷ lệ, mục đích sử dụng quỹ và kết quả hằng năm để củng cố niềm tin.

Thứ tư, bảo tồn văn hóa và môi trường phải trở thành điều kiện vận hành chứ không phải hoạt động phụ. Các chuẩn dịch vụ cần đi cùng chuẩn về sức chứa, kiến trúc, nước sạch, chất thải, sử dụng năng lượng, ứng xử với nghi lễ và quyền hình ảnh. Một sản phẩm văn hóa càng hấp dẫn càng cần quy tắc bảo vệ chặt chẽ. Việc tăng giá trị kinh tế của tài nguyên có thể hỗ trợ bảo tồn, nhưng nếu doanh thu không được tái đầu tư hoặc cộng đồng mất quyền kiểm soát thì chính sức hút của điểm đến sẽ làm suy giảm nguồn lực tạo nên nó.

Thứ năm, liên kết hỗ trợ, phản ánh cách thức Nhà nước, doanh nghiệp, tổ chức xã hội và cơ sở đào tạo….các chủ thể bên ngoài có vai trò kiến tạo năng lực và kết nối. Nhà nước bảo đảm quy hoạch, hạ tầng thiết yếu, tiêu chuẩn, an toàn và môi trường; doanh nghiệp hỗ trợ thiết kế sản phẩm, thị trường và chất lượng; cơ sở đào tạo cung cấp kỹ năng và đánh giá; tổ chức xã hội hỗ trợ nhóm yếu thế, thúc đẩy học tập và giám sát. Ranh giới cần giữ là không chủ thể nào thay cộng đồng quyết định toàn bộ. Hỗ trợ tốt phải làm tăng khả năng tự quản, tự thương lượng và tự điều chỉnh của cộng đồng sau mỗi chu kỳ. Như vậy, việc “Liên kết hỗ trợ” trong phát triển cộng đồng không phải là sự áp đặt mà là cơ sở cung cấp về hạ tầng, kỹ năng, tiêu chuẩn, thị trường thông qua sự phối hợp các bên (Nhà nước – Doanh nghiệp – Tổ chức xã hội – Cơ sở đào tạo) nhằm trao quyền và nâng cao nội lực cho người dân chứ không tước đoạt quyền tự quyết của họ.

5. Hàm ý đối với phát triển du lịch cộng đồng ở tỉnh Thái Nguyên

Không gian Thái Nguyên sau hợp nhất tạo điều kiện kết nối văn hóa trà, di tích cách mạng, hồ Núi Cốc, hồ Ba Bể, hệ sinh thái rừng và bản sắc Việt Bắc thành chuỗi trải nghiệm đa dạng. Ở Thái Hải cho thấy, khả năng kết hợp bảo tồn không gian sống với tổ chức đón khách và đã được UN Tourism vinh danh trong chương trình Best Tourism Villages năm 2022, nhiều điểm du lịch gắn với trà, sinh thái, lịch sử và bản làng cũng đang được địa phương hỗ trợ phát triển (Cổng Thông tin điện tử tỉnh Thái Nguyên, 2025). Tuy nhiên, kinh nghiệm không nên được tiếp nhận theo hướng nhân bản một mô hình. Mỗi điểm cần xác định giá trị khác biệt, phương án quản trị và giới hạn phát triển riêng; lựa chọn thị trường phải phục vụ mục tiêu sinh kế và bảo tồn của cộng đồng, thay vì chạy theo số lượng khách.

Trọng tâm trước hết là hình thành thiết chế điều phối được cộng đồng thừa nhận, có đủ năng lực phân luồng khách, phân công dịch vụ, kiểm soát chất lượng, công khai thu – chi, xử lý phản ánh và giám sát tác động văn hóa, môi trường. Thành phần tham gia phải phản ánh các nhóm lợi ích trong cộng đồng, gồm hộ kinh doanh, người cung ứng gián tiếp, nghệ nhân, phụ nữ, thanh niên và những hộ chịu tác động nhưng không trực tiếp làm du lịch. Những quyết định liên quan đến mở rộng quy mô, xây dựng mới hoặc đưa nghi lễ vào sản phẩm cần được tham vấn công khai. Cơ chế phân phối lợi ích nên kết hợp thanh toán đúng giá cho người cung ứng, luân phiên hoặc phân bổ đơn hàng để hạn chế tập trung lợi ích, và đóng góp cho quỹ chung phục vụ bảo tồn, môi trường, đào tạo và hỗ trợ nhóm yếu thế. Tỉnh có thể ban hành hướng dẫn mẫu về quản trị, hợp tác và tài chính, nhưng không thay cộng đồng quyết định cơ cấu và tỷ lệ phân chia cụ thể.

Phát triển sản phẩm cần dựa trên sinh kế và tri thức bản địa. Ở vùng chè, chuỗi trải nghiệm từ đồi chè đến bàn trà có thể kết hợp tham quan, thực hành hái, sao, pha trà, tìm hiểu kỹ thuật canh tác và lưu trú theo mùa; sự chuẩn hóa chỉ nên áp dụng đối với an toàn, chất lượng thuyết minh, thời lượng và giá dịch vụ, không làm mất khác biệt giữa các vùng chè. Tại khu vực hồ, rừng và bản làng, sản phẩm có thể kết nối trải nghiệm sinh thái, ẩm thực, nghề thủ công, nghệ thuật dân gian và ký ức lịch sử. Nghệ nhân và người sản xuất phải là đồng tác giả, được trả thù lao cho tri thức và thời gian; sinh hoạt văn hóa không nên bị tách khỏi bối cảnh sống để trở thành tiết mục lặp lại theo yêu cầu của khách. Hướng sản phẩm học tập, nghiên cứu và giáo dục di sản phù hợp với nguồn lực văn hóa của tỉnh, đồng thời tạo giá trị cao hơn mà không cần gia tăng khách bằng mọi giá.

Yêu cầu xanh phải được chuyển thành giới hạn và quy trình vận hành cụ thể. Mỗi điểm cần kiểm soát sức chứa, giảm nhựa dùng một lần, phân loại và xử lý rác, quản lý nước thải, theo dõi mức sử dụng nước và năng lượng; khi hạ tầng chưa đáp ứng, giới hạn khách là quyết định quản trị cần thiết. Kiến trúc và đầu tư du lịch phải hài hòa với cảnh quan, an toàn, tiết kiệm tài nguyên và có khả năng bảo trì tại chỗ. Các dự án bên ngoài cộng đồng cần được đánh giá về tác động đối với đất đai, nguồn nước, không gian sống và khả năng cạnh tranh của hộ dân. Hỗ trợ công nên ưu tiên hạ tầng thiết yếu dùng chung và đầu tư vừa sức, tránh thúc đẩy vay vốn hoặc xây dựng cơ sở lưu trú đồng loạt khi nhu cầu thị trường chưa được kiểm chứng.

Liên kết thị trường cần phân định rõ vai trò: doanh nghiệp hỗ trợ nghiên cứu thị trường, xây dựng tuyến, truyền thông và đưa khách; cộng đồng quyết định nội dung trải nghiệm và trực tiếp cung ứng dịch vụ. Hợp đồng phải minh bạch về giá, hoa hồng, điều kiện hủy, an toàn, sử dụng hình ảnh và xử lý phản ánh; mỗi điểm nên duy trì nhiều đối tác để giảm lệ thuộc. Chuyển đổi số cần bắt đầu từ lịch nhận khách dùng chung, danh mục dịch vụ – giá, hồ sơ nhà cung ứng, dữ liệu khách, doanh thu và phản hồi; mã QR hoặc bản đồ số chỉ có giá trị khi thông tin được cập nhật và gắn với trách nhiệm vận hành. Đào tạo cũng cần chuyển từ các lớp ngắn hạn rời rạc sang chu trình đánh giá nhu cầu, học theo vị trí việc làm, thực hành có hướng dẫn và đánh giá lại, tập trung vào quản trị, tài chính, thuyết minh, an toàn, môi trường, kỹ năng số và xử lý xung đột.

Hiệu quả du lịch cộng đồng không thể chỉ đo bằng lượt khách và doanh thu. Hệ thống giám sát cần phản ánh phần thu nhập được giữ lại tại địa phương, mức độ phân bổ lợi ích giữa các hộ, sự tham gia của cư dân vào quyết định, khả năng duy trì thực hành văn hóa và mức tiêu hao tài nguyên theo khách. Chỉ nên thu thập những dữ liệu thực sự phục vụ điều chỉnh hoạt động; cộng đồng phải được tiếp cận, tham gia giải thích và sử dụng dữ liệu của chính mình. Khi xuất hiện quá tải, lợi ích tập trung hoặc suy giảm tài nguyên, ưu tiên phải là giảm nhịp tăng trưởng, tổ chức lại luồng khách và phục hồi nguồn lực trước khi tiếp tục quảng bá. Theo đó, vai trò của tỉnh không phải vận hành thay cộng đồng, mà là xác lập tiêu chuẩn, cung cấp hạ tầng và hỗ trợ năng lực để từng điểm đến tự quản trị và phát triển trong giới hạn bền vững.

6. Kết luận

Nghiên cứu ba trường hợp Mai Hịch, Mae Kampong và Tenganan Pegringsingan cho thấy du lịch cộng đồng bền vững được tạo nên bởi một hệ thống cơ chế liên kết: cộng đồng có quyền chủ thể; có thiết chế điều phối và quy tắc minh bạch; lợi ích được phân phối cả cho người cung ứng và cộng đồng; văn hóa, môi trường được đặt trong giới hạn khai thác; các chủ thể bên ngoài hỗ trợ năng lực và thị trường mà không thay thế quyền quyết định tại chỗ. Mỗi trường hợp đều có điều kiện thành công và rủi ro riêng, vì vậy kinh nghiệm chỉ có giá trị khi được chuyển hóa thành nguyên tắc rồi thích ứng với cấu trúc xã hội, tài nguyên và sức chứa của điểm đến.

Đối với Thái Nguyên, không gian phát triển mới sau hợp nhất mở ra khả năng kết nối văn hóa trà, di sản cách mạng, hồ – rừng và bản sắc Việt Bắc. Cơ hội đó chỉ trở thành lợi thế bền vững nếu tỉnh chuyển trọng tâm từ mở rộng số điểm và tăng lượt khách sang xây dựng năng lực tự quản, chất lượng trải nghiệm, phân phối lợi ích và bảo tồn có thể đo lường. Bước tiếp theo cần thiết là khảo sát tại từng cộng đồng, lập bản đồ tài nguyên – chủ thể – xung đột, xác định sức chứa và thí điểm mô hình quản trị ở một số điểm có điều kiện khác nhau. Khi người dân có khả năng quyết định điều gì được phát triển, phát triển đến mức nào và lợi ích được sử dụng ra sao, du lịch cộng đồng mới thực sự trở thành phương thức nâng cao sinh kế đồng thời bảo vệ những giá trị làm nên sức hấp dẫn lâu dài của Thái Nguyên.

Tài liệu tham khảo:
ASEAN Secretariat. (2016). ASEAN community based tourism standard. https://www.asean.org/wp-content/uploads/2012/05/ASEAN-Community-Based-Tourism-Standard.pdf
Byczek, C. (2011). Blessings for all? Community-based ecotourism in Bali between global, national, and local interests: A case study. ASEAS – Austrian Journal of South-East Asian Studies, 4(1), 81-106. https://doi.org/10.14764/10.ASEAS-4.1-5
Cổng Thông tin điện tử tỉnh Thái Nguyên (26/10/2025). Du lịch cộng đồng tạo sinh kế bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số Thái Nguyên. https://thainguyen.gov.vn/bai-viet-ve-thai-nguyen/du-lich-cong-dong-tao-sinh-ke-ben-vung-cho-dong-bao-dan-toc-thieu-so-thai-nguyen-159110
Cổng Thông tin điện tử tỉnh Thái Nguyên (15/7/2026). Giới thiệu về tỉnh Thái Nguyên. https://thainguyen.gov.vn/co-so-ha-tang/gioi-thieu-ve-tinh-thai-nguyen-279923
Dodds, R., Ali, A., & Galaski, K. (2018). Mobilizing knowledge: Determining key elements for success and pitfalls in developing community-based tourism. Current Issues in Tourism, 21(13), 1547-1568. https://doi.org/10.1080/13683500.2016.1150257
Goodwin, H., & Santilli, R. (2009). Community-based tourism: A success? (ICRT Occasional Paper No. 11). International Centre for Responsible Tourism. https://haroldgoodwin.info/community-based-tourism-a-success/
Jaringan Ekowisata Desa. (n.d.). Jaringan Ekowisata Desa: Community-based ecotourism in Bali. Retrieved September 8, 2026, https://jed.or.id/
Kontogeorgopoulos, N., Churyen, A., & Duangsaeng, V. (2014). Success factors in community-based tourism in Thailand: The role of luck, external support, and local leadership. Tourism Planning & Development, 11(1), 106-124. https://doi.org/10.1080/21568316.2013.852991
Suyadnya, I. W., Prianti, D. D., Kanto, S., & Putra, I. N. D. (2025). The local dynamics of global ecotourism trend in the old Balinese village, Indonesia. Cogent Arts & Humanities, 12(1), Article 2451516. https://doi.org/10.1080/23311983.2025.2451516
Thủ tướng Chính phủ (2022). Quyết định số 922/QĐ-TTg ngày 02/8/2022 phê duyệt Chương trình phát triển du lịch nông thôn trong xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021-2025.
UBND tỉnh Bắc Giang (2021). Quyết định số 2859/QĐ-UBND ngày 31/12/2021 phê duyệt Đề án phát triển du lịch cộng đồng tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2022-2030.
UBND tỉnh Thái Nguyên (2026). Kế hoạch số 64/KH-UBND ngày 24/02/2026 triển khai thực hiện Đề án phát triển du lịch tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2026-2030.