Reforming coordination mechanisms between commune-level Party committees and local governments within the two-tier local government model in Can Tho City
Thái Thị thúy An
Văn phòng Đảng ủy xã Long Phú thành phố Cần Thơ
Email: thuyanqtk29ct@gmail.com
(Quanlynhanuoc.vn) – Việc vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp làm thay đổi trực tiếp quan hệ công tác trong hệ thống chính trị cơ sở. Khi cấp huyện không còn là tầng trung gian, cấp ủy và chính quyền cấp xã đồng thời phải tiếp nhận nhiều nhiệm vụ hơn, xử lý công việc với tốc độ nhanh hơn và phối hợp trực tiếp hơn với cấp thành phố. Từ thực tiễn tại thành phố Cần Thơ sau sắp xếp đơn vị hành chính, bài viết phân tích những yêu cầu mới đối với cơ chế phối hợp giữa cấp ủy và chính quyền cấp xã; nhận diện một số kết quả, điểm nghẽn và nguy cơ hành chính hóa hoạt động lãnh đạo hoặc ngược lại, buông lỏng vai trò định hướng của cấp ủy. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện quy chế phối hợp theo hướng rõ việc, rõ thẩm quyền, rõ trách nhiệm, có thời hạn xử lý và có dữ liệu theo dõi; đồng thời nâng cao chất lượng đội ngũ, đổi mới kiểm tra, giám sát và lấy kết quả phục vụ Nhân dân làm thước đo hiệu quả phối hợp.
Từ khóa: Cấp ủy cấp xã; chính quyền cấp xã; cơ chế phối hợp; chính quyền địa phương hai cấp; thành phố Cần Thơ.
Abstract: The operation of the two-tier local government model has directly reshaped working relationships within the grassroots political system. With the district level removed as an intermediate tier, commune-level Party committees and local governments must simultaneously assume more responsibilities, process tasks more rapidly, and coordinate more directly with the city level. Drawing on the post-merger practice of Can Tho City, this article examines new requirements for coordination between commune-level Party committees and local governments, identifies initial achievements and bottlenecks, and highlights the risks of either administrative overreach by Party organizations or weakened political leadership. The article proposes improving coordination regulations toward clear task allocation, authority, accountability, deadlines, and data-based monitoring; strengthening personnel capacity; renewing inspection and supervision; and using the quality of public service delivery as a key measure of coordination effectiveness.
Keywords: Commune-level Party committee; commune-level government; coordination mechanism; two-tier local government; Can Tho City.
1. Đặt vấn đề
Trong hệ thống chính trị ở cơ sở, cấp ủy và chính quyền cấp xã là hai chủ thể có chức năng khác nhau nhưng cùng hướng đến việc tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị, quản lý địa bàn và phục vụ Nhân dân. Cấp ủy giữ vai trò lãnh đạo, định hướng, quyết định những vấn đề lớn thuộc thẩm quyền của tổ chức đảng, thực hiện công tác cán bộ, kiểm tra, giám sát và vận động quần chúng; chính quyền tổ chức quản lý nhà nước bằng pháp luật, quyết định hành chính và hoạt động công vụ. Hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở vì vậy phụ thuộc rất lớn vào chất lượng phối hợp giữa hai chủ thể này.
Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 17/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương nhấn mạnh yêu cầu tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, làm rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với trách nhiệm và kiểm soát quyền lực; đồng thời khắc phục cả hai khuynh hướng: bao biện, làm thay Nhà nước và buông lỏng sự lãnh đạo của Đảng (Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 2022). Đây là nguyên tắc có ý nghĩa trực tiếp đối với quan hệ giữa cấp ủy và chính quyền cấp xã.
Từ ngày 01/7/2025, mô hình chính quyền địa phương hai cấp được vận hành trên phạm vi cả nước. Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 72/2025/QH15 xác lập hệ thống đơn vị hành chính gồm cấp tỉnh và cấp xã, làm thay đổi căn bản đường đi của công việc ở địa phương (Quốc hội, 2025). Khi cấp huyện không còn là tầng trung gian, nhiều nhiệm vụ trước đây được điều phối qua cấp huyện nay chuyển trực tiếp về cấp tỉnh hoặc cấp xã. Điều này vừa tạo cơ hội rút ngắn quy trình, tăng tính chủ động ở cơ sở, vừa làm cho quan hệ giữa lãnh đạo của Đảng và quản lý của chính quyền tại cấp xã trở nên trực tiếp và nhạy cảm hơn.
Đối với thành phố Cần Thơ, yêu cầu đó càng rõ khi thành phố sau sắp xếp có 103 xã, phường, quy mô dân số trên 4 triệu người và không gian quản trị rộng, đa dạng về đô thị, nông nghiệp, dân tộc, tôn giáo. Báo cáo của Thành ủy Cần Thơ về đội ngũ cán bộ cấp xã cho thấy hệ thống chính trị cơ sở gồm 103 đảng bộ xã, phường đã được kiện toàn; đồng thời, khối lượng nhiệm vụ và nhu cầu phối hợp giữa khối Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội tăng nhanh sau sắp xếp (Thành ủy Cần Thơ, 2026). Thực tiễn đó cho thấy đổi mới cơ chế phối hợp giữa cấp ủy và chính quyền cấp xã không chỉ là yêu cầu về tổ chức công việc mà còn là một nội dung của đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng trong điều kiện quản trị địa phương mới.
2. Những yêu cầu mới đối với cơ chế phối hợp giữa cấp ủy và chính quyền cấp xã
2.1. Bảo đảm đúng vai giữa lãnh đạo chính trị và quản lý nhà nước
Phối hợp giữa cấp ủy và chính quyền trước hết phải xuất phát từ sự phân định đúng chức năng. Cấp ủy không thay chính quyền xử lý từng hồ sơ, không quyết định thay những vấn đề thuộc thẩm quyền hành chính; chính quyền cũng không thể coi các chủ trương, nghị quyết của cấp ủy chỉ là định hướng chung rồi tự tách khỏi quá trình lãnh đạo chính trị. Mối quan hệ đúng phải là: cấp ủy định hướng, quyết định chủ trương lớn, lựa chọn nhiệm vụ trọng tâm, bố trí cán bộ, kiểm tra và giám sát; chính quyền thể chế hóa, cụ thể hóa và tổ chức thực hiện trong khuôn khổ pháp luật, đồng thời chịu trách nhiệm về kết quả (Ngô Thị Vân Anh & Bùi Thu Chang, 2026).
Trong mô hình hai cấp, ranh giới này phải được nhận diện rõ hơn vì số lượng công việc trực tiếp ở cấp xã lớn hơn trước. Nếu cấp ủy đi sâu quá mức vào quy trình hành chính, trách nhiệm của Chủ tịch Ủy ban nhân dân và công chức chuyên môn dễ bị hòa lẫn. Ngược lại, nếu cấp ủy chỉ ban hành nghị quyết mà thiếu cơ chế theo dõi việc cụ thể hóa, sự lãnh đạo có thể trở nên hình thức. Vì vậy, phối hợp cần chuyển từ mô hình “xin ý kiến – cho ý kiến” đối với nhiều việc sự vụ sang mô hình “định hướng – phân công – tổ chức thực hiện – giám sát kết quả”.
2.2. Phối hợp trực tiếp hơn khi không còn cấp huyện
Trước đây, nhiều nhiệm vụ của xã được hướng dẫn, điều phối hoặc xử lý qua cấp huyện. Việc không tổ chức cấp huyện làm cho cấp xã phải làm việc trực tiếp với cơ quan cấp thành phố ở nhiều lĩnh vực. Điều đó kéo theo hai thay đổi. Một là, cấp ủy xã phải có năng lực nắm bắt chủ trương và chuyển hóa nhanh thành chương trình công tác phù hợp với địa bàn. Hai là, chính quyền xã phải đủ khả năng xử lý khối lượng công việc đa ngành, có tính pháp lý và kỹ thuật cao hơn.
Cơ chế phối hợp vì vậy không thể chỉ dựa trên họp giao ban định kỳ. Những việc liên quan đến đất đai, xây dựng, đầu tư, tài chính, an sinh xã hội, giáo dục, y tế, chuyển đổi số hay giải quyết đơn thư thường đòi hỏi sự phối hợp đồng thời giữa Ban Thường vụ Đảng ủy, Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân và các cơ quan tham mưu. Nếu không có quy trình rõ, việc phối hợp dễ chuyển thành xin ý kiến nhiều vòng, chậm xử lý hoặc khó xác định trách nhiệm.
2.3. Phối hợp phải gắn với phân cấp, phân quyền và trách nhiệm giải trình
Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025 đặt trọng tâm vào phân định thẩm quyền, phân quyền, phân cấp và ủy quyền (Quốc hội, 2025; T. T. Mạnh, 2026). Trong bối cảnh đó, sự lãnh đạo của cấp ủy phải tạo điều kiện cho chính quyền chủ động trong phạm vi được giao. Cấp ủy cần tập trung vào mục tiêu, nguyên tắc, yêu cầu chính trị và những vấn đề lớn; không biến quy chế phối hợp thành một tầng thủ tục bổ sung trước khi chính quyền ra quyết định.
Mặt khác, quyền chủ động lớn hơn phải đi cùng trách nhiệm giải trình cao hơn. Những việc chậm tiến độ, hồ sơ trả đi trả lại, kiến nghị kéo dài hoặc kết quả không đạt yêu cầu cần xác định rõ khâu nào, cơ quan nào, cá nhân nào chịu trách nhiệm. Đây cũng là cơ sở để cấp ủy thực hiện kiểm tra, giám sát có trọng tâm, thay vì kiểm tra dàn trải hoặc chủ yếu dựa vào báo cáo định kỳ.
2.4. Phối hợp cần dựa trên dữ liệu và kết quả phục vụ
Mô hình quản trị hiện đại đặt ra yêu cầu chuyển từ theo dõi công việc bằng báo cáo thủ công sang theo dõi bằng dữ liệu, tiến độ và sản phẩm đầu ra. Đối với cấp xã, điều này đặc biệt cần thiết vì khối lượng nhiệm vụ lớn trong khi biên chế và năng lực chuyên môn giữa các địa bàn còn chênh lệch.
Khi dữ liệu về hồ sơ hành chính, tiến độ nhiệm vụ, phản ánh của người dân, tình hình giải ngân, quản lý đất đai hoặc an sinh xã hội được cập nhật thường xuyên, cấp ủy có thể lãnh đạo trên cơ sở bằng chứng thay vì chỉ nghe báo cáo tổng hợp. Chính quyền cũng giảm áp lực làm nhiều báo cáo riêng cho từng cơ quan. Đây là hướng quan trọng để vừa tăng hiệu quả phối hợp vừa hạn chế hành chính hóa hoạt động của tổ chức đảng.
3. Thực tiễn phối hợp giữa cấp ủy và chính quyền cấp xã ở thành phố Cần Thơ
3.1. Những chuyển biến bước đầu
Sau sắp xếp, thành phố Cần Thơ đã nhanh chóng kiện toàn tổ chức và bố trí đội ngũ ở 103 xã, phường. Theo báo cáo của Thành ủy, toàn thành phố hiện có 2.107 cơ quan, phòng, ban chuyên môn và đơn vị sự nghiệp trực thuộc cấp xã; trong đó, khối chính quyền có 1.667 đầu mối, khối Đảng có 337 đầu mối, khối Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội có 103 đầu mối. Tổng số cán bộ, công chức, viên chức cấp xã là 42.951 người, trong đó 2.871 người giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý (Thành ủy Cần Thơ, 2026). Quy mô này cho thấy hệ thống chính trị cơ sở của thành phố không còn phù hợp với cách điều hành theo thói quen của một đơn vị hành chính nhỏ.
Một chuyển biến đáng chú ý là Thành ủy đã xác định rõ yêu cầu liên thông, phối hợp giữa khối Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội; đồng thời chỉ đạo rà soát, bố trí, điều động, tăng cường cán bộ cho cơ sở. Có 847 trường hợp được tăng cường về cấp xã, gồm 268 cán bộ lãnh đạo, quản lý và 579 công chức chuyên môn, tập trung vào công nghệ thông tin, tài chính, địa chính – xây dựng, tư pháp – hộ tịch và tham mưu tổng hợp (Thành ủy Cần Thơ, 2026). Việc bổ sung này không chỉ giải quyết bài toán nhân lực mà còn giúp tăng khả năng phối hợp giữa các bộ phận trong giai đoạn chuyển tiếp.
Công tác kiện toàn các chức danh chủ chốt được thực hiện tương đối đồng bộ. Thành phố đã bố trí đủ 103 Chủ tịch Ủy ban nhân dân và 103 Chủ tịch Hội đồng nhân dân cấp xã; các vị trí Bí thư, Phó Bí thư, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân và Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân cơ bản được kiện toàn (Thành ủy Cần Thơ, 2026). Đây là điều kiện quan trọng để duy trì sự lãnh đạo và quản lý liên tục, hạn chế khoảng trống trách nhiệm trong thời gian đầu vận hành mô hình mới.
Ở nhiều địa bàn, quy chế làm việc và chế độ giao ban đã được điều chỉnh theo hướng phân công rõ hơn nhiệm vụ giữa Thường trực Đảng ủy, Ban Thường vụ, Thường trực Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân. Những vấn đề có tính liên ngành, liên lĩnh vực được đưa ra trao đổi sớm hơn, nhất là các nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, giải quyết thủ tục hành chính, quản lý đất đai, trật tự xây dựng và an sinh xã hội. So với mô hình cũ có một tầng trung gian, khả năng phản hồi giữa cấp xã và cấp thành phố cũng trực tiếp hơn (Nguyễn Thị Thu Hiền, 2026).
3.2. Những điểm nghẽn còn tồn tại
Dù bộ máy đã được kiện toàn, nguồn lực giữa các khối và các lĩnh vực chưa thật sự cân đối. Báo cáo của Thành ủy cho thấy khối chính quyền có 4.753 công chức trên 5.933 biên chế được giao, đạt 80,11%, thấp hơn đáng kể so với khối Đảng và khối Mặt trận. Một số lĩnh vực chuyên môn còn thiếu nhân lực, trong đó công nghệ thông tin thiếu 28/130 vị trí, tương đương 21,54%; nông nghiệp – môi trường thiếu 24 vị trí; xây dựng – công thương – giao thông thiếu 22 vị trí; tài chính – kế hoạch thiếu 17 vị trí (Thành ủy Cần Thơ, 2026). Khi nhân lực chuyên môn thiếu, phối hợp dễ chuyển thành việc “chạy theo xử lý tình huống”, ảnh hưởng đến chất lượng tham mưu cho cả cấp ủy và chính quyền.
Ở khối Đảng, biên chế nhìn chung cơ bản đáp ứng định hướng nhưng áp lực công việc tăng nhanh. Báo cáo nêu trường hợp Ban Xây dựng Đảng của một xã mới phải đảm nhận khối lượng nhiệm vụ tương đương ba cơ quan cấp huyện cũ trong khi biên chế còn hạn chế (Thành ủy Cần Thơ, 2026). Đây là vấn đề đáng lưu ý: khi quy mô địa bàn và chức năng tăng nhưng đầu mối tham mưu tinh gọn, yêu cầu phối hợp nội bộ càng cao. Nếu quy trình chưa được thiết kế lại, cán bộ dễ rơi vào tình trạng vừa quá tải vừa phải xử lý nhiều báo cáo, cuộc họp và luồng xin ý kiến.
Một hạn chế khác là năng lực phối hợp và xử lý tình huống của đội ngũ chưa đồng đều. Thành ủy đánh giá một bộ phận cán bộ, công chức còn hạn chế về kỹ năng tham mưu chiến lược, xử lý tình huống phức tạp, phối hợp liên thông và ứng dụng chuyển đổi số; việc đánh giá cán bộ có nơi còn hình thức, chưa phản ánh đầy đủ sản phẩm và hiệu quả thực hiện nhiệm vụ (Thành ủy Cần Thơ, 2026). Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến cơ chế phối hợp, bởi một quy chế dù hợp lý nhưng đội ngũ không đủ năng lực thực thi thì vẫn dễ phát sinh ách tắc.
Ngoài ra, một số quan hệ công tác sau sắp xếp còn mang tính chuyển tiếp. Văn bản hướng dẫn chuyên ngành, quy trình phối hợp liên cấp và liên ngành chưa phải lúc nào cũng được điều chỉnh đồng thời với tổ chức bộ máy. Trong điều kiện đó, cán bộ cơ sở có xu hướng xin ý kiến để bảo đảm an toàn. Nếu kéo dài, cơ chế phối hợp có thể biến thành cơ chế “xin – cho” mới, làm giảm mục tiêu phân cấp, phân quyền và tính chủ động của chính quyền cấp xã.
3.3. Một số vấn đề đặt ra
Từ thực tiễn trên có thể thấy, vấn đề trọng tâm không nằm ở việc cấp ủy và chính quyền có phối hợp hay không, mà là phối hợp theo cơ chế nào. Cơ chế mới phải giải quyết đồng thời ba yêu cầu: giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng; phát huy đầy đủ thẩm quyền, trách nhiệm của chính quyền; và rút ngắn thời gian xử lý công việc cho người dân, doanh nghiệp.
Nếu mọi vấn đề đều phải qua cấp ủy cho ý kiến trước khi chính quyền quyết định, phân cấp sẽ không phát huy được hiệu quả. Ngược lại, nếu chính quyền chỉ tập trung xử lý hành chính mà thiếu sự lãnh đạo về định hướng, cán bộ, kiểm tra và vận động Nhân dân, tính thống nhất của hệ thống chính trị sẽ bị suy giảm. Điểm cân bằng cần đạt tới là: cấp ủy lãnh đạo đúng việc, chính quyền quyết định đúng thẩm quyền, mỗi chủ thể chịu trách nhiệm về phần việc của mình nhưng cùng chịu trách nhiệm trước Nhân dân về kết quả cuối cùng.
4. Giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp giữa cấp ủy và chính quyền cấp xã ở thành phố Cần Thơ
Thứ nhất, rà soát và chuẩn hóa quy chế làm việc, quy chế phối hợp theo hướng “rõ việc – rõ thẩm quyền – rõ trách nhiệm”.
Mỗi đảng ủy xã, phường cần rà soát lại quy chế làm việc sau một năm vận hành mô hình hai cấp (Nguyễn Thị Thanh Bình, 2026), nhất là danh mục những việc Ban Chấp hành, Ban Thường vụ, Thường trực Đảng ủy cho ý kiến; những việc thuộc thẩm quyền quyết định của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân; và những việc cần phối hợp liên cơ quan. Không nên quy định chung chung “những vấn đề quan trọng phải báo cáo cấp ủy”, vì cách viết này dễ mở rộng phạm vi xin ý kiến.
Có thể xây dựng phụ lục kèm quy chế, phân loại công việc thành ba nhóm: nhóm cấp ủy quyết định hoặc cho chủ trương; nhóm chính quyền chủ động quyết định và định kỳ báo cáo; nhóm cần tham vấn, phối hợp trước khi quyết định. Mỗi nhóm cần gắn với đầu mối chủ trì, thời hạn, phương thức trao đổi và trách nhiệm phản hồi. Đây là cách biến nguyên tắc phối hợp thành quy trình có thể thực hiện và kiểm tra.
Thứ hai, chuyển mạnh từ phối hợp bằng hội họp sang phối hợp bằng quy trình và dữ liệu.
Cấp xã hiện chịu áp lực họp rất lớn. Nếu mỗi việc liên ngành đều cần một cuộc họp, bộ máy sẽ tiêu tốn nhiều thời gian vào trao đổi nội bộ. Thành phố cần xây dựng nền tảng theo dõi nhiệm vụ dùng chung giữa khối Đảng và khối chính quyền ở những nội dung được phép chia sẻ, trong đó thể hiện người chủ trì, đơn vị phối hợp, thời hạn và trạng thái xử lý.
Đối với cấp ủy, dữ liệu này giúp kiểm tra việc thực hiện nghị quyết theo kết quả thực tế. Đối với chính quyền, đây là công cụ làm rõ trách nhiệm và giảm báo cáo trùng lặp. Những việc chậm phải hiển thị nguyên nhân: thiếu hướng dẫn, thiếu nhân lực, chờ phối hợp hay chậm ở khâu xử lý. Khi đó, phối hợp không còn dựa chủ yếu vào đôn đốc bằng văn bản hoặc điện thoại.
Thứ ba, nâng cao năng lực của người đứng đầu và đội ngũ tham mưu trong cả hai khối.
Cơ chế phối hợp tốt phụ thuộc rất lớn vào chất lượng người đứng đầu. Bí thư cấp ủy phải đủ năng lực định hướng, biết chọn đúng việc cần lãnh đạo và tránh sa vào điều hành hành chính. Chủ tịch Ủy ban nhân dân phải chủ động, dám quyết định trong thẩm quyền và chịu trách nhiệm, không đẩy việc lên cấp ủy để tìm “sự an toàn tập thể”.
Đối với Cần Thơ, đào tạo, bồi dưỡng cần đi sâu vào kỹ năng phối hợp liên ngành, xử lý tình huống, phân tích chính sách, quản trị dữ liệu và pháp luật chuyên ngành. Những vị trí đang thiếu nhiều như công nghệ thông tin, xây dựng, môi trường, tài chính – kế hoạch cần được ưu tiên tuyển dụng, điều động hoặc sử dụng cơ chế chuyên gia dùng chung. Thành phố cũng cần tiếp tục luân chuyển hai chiều giữa khối Đảng và khối Nhà nước để cán bộ hiểu đầy đủ hơn cả yêu cầu lãnh đạo chính trị và yêu cầu quản lý hành chính.
Thứ tư, đổi mới kiểm tra, giám sát theo hướng tập trung vào điểm nghẽn của phối hợp.
Kiểm tra, giám sát không nên chỉ xem hồ sơ có đủ quy trình hay không mà cần trả lời những câu hỏi thực chất: công việc nào thường xuyên chậm vì phải xin ý kiến nhiều vòng; lĩnh vực nào xảy ra đùn đẩy giữa các cơ quan; khâu nào người dân phải bổ sung hồ sơ nhiều lần; vấn đề nào cấp ủy đã có nghị quyết nhưng chính quyền cụ thể hóa chậm; hoặc chính quyền gặp khó khăn nhưng cơ quan tham mưu của cấp ủy chưa kịp thời đề xuất tháo gỡ.
Ủy ban Kiểm tra, Hội đồng nhân dân, Mặt trận Tổ quốc và các cơ chế giám sát của Nhân dân cần được khai thác theo hướng bổ trợ nhau. Những phản ánh lặp lại ở nhiều địa bàn nên được xem như tín hiệu của vấn đề thể chế hoặc quy trình, không nên chỉ xử lý từng vụ việc riêng lẻ.
Thứ năm, lấy kết quả phục vụ Nhân dân làm thước đo chung của phối hợp.
Cấp ủy và chính quyền có chức năng khác nhau nhưng cùng chịu trách nhiệm về kết quả trên địa bàn. Vì vậy, hiệu quả phối hợp cần được đánh giá bằng các chỉ số có ý nghĩa đối với người dân: thời gian xử lý thủ tục, số lần phải bổ sung hồ sơ, tỷ lệ giải quyết kiến nghị đúng hạn, mức độ hài lòng, tiến độ các dự án dân sinh, chất lượng tiếp công dân, khả năng xử lý phản ánh và mức độ công khai thông tin.
Khi chỉ số phục vụ được dùng trong đánh giá tổ chức đảng, chính quyền và cán bộ, phối hợp sẽ bớt hình thức. Cấp ủy có căn cứ cụ thể để đánh giá chất lượng lãnh đạo; chính quyền có động lực nâng cao hiệu quả thực thi; người dân có cơ sở giám sát rõ hơn.
Thứ sáu, duy trì cơ chế sơ kết, học tập và điều chỉnh trong giai đoạn chuyển tiếp.
Mô hình hai cấp còn mới, nên không thể kỳ vọng quy chế phối hợp hoàn thiện ngay từ đầu. Thành phố cần tổ chức sơ kết định kỳ theo nhóm địa bàn, lựa chọn một số xã, phường đô thị, nông nghiệp, đông đồng bào dân tộc hoặc có khối lượng hồ sơ lớn để theo dõi sâu. Kinh nghiệm tốt cần được chuẩn hóa thành quy trình dùng chung; bất cập có tính hệ thống cần tổng hợp để kiến nghị cấp có thẩm quyền.
Các cơ quan tham mưu của Thành ủy, sở chuyên môn, Trường Chính trị thành phố và các cơ sở đào tạo, nghiên cứu trên địa bàn có thể tham gia đánh giá, phản biện và tổng kết mô hình. Quá trình này giúp cơ chế phối hợp được điều chỉnh từ thực tiễn thay vì chỉ dựa vào quy định ban đầu.
5. Kết luận
Mô hình chính quyền địa phương hai cấp tạo ra không gian mới cho đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng và phương thức quản trị nhà nước ở cơ sở. Với thành phố Cần Thơ, quy mô 103 xã, phường và khối lượng công việc lớn cho thấy không thể duy trì cơ chế phối hợp theo lối cũ, nặng họp hành, xin ý kiến và báo cáo nhiều tầng nấc.
Thực tiễn năm đầu vận hành cho thấy hệ thống chính trị cấp xã đã cơ bản được kiện toàn, các chức danh chủ chốt được bố trí tương đối đầy đủ, nguồn nhân lực được tăng cường và quan hệ công tác từng bước ổn định. Tuy nhiên, thiếu hụt nhân lực chuyên môn, chênh lệch năng lực giữa các địa bàn, áp lực công việc ở cả khối Đảng và khối chính quyền cùng với một số quy trình chuyển tiếp đang đặt ra yêu cầu tiếp tục đổi mới.
Điểm cốt lõi của cơ chế phối hợp mới là bảo đảm Đảng lãnh đạo đúng vai, chính quyền thực hiện đúng thẩm quyền và cả hai cùng hướng đến kết quả phục vụ Nhân dân. Khi quy chế được thiết kế rõ việc, dữ liệu được chia sẻ phù hợp, trách nhiệm được xác định cụ thể và kết quả phục vụ trở thành thước đo chung, sự phối hợp giữa cấp ủy và chính quyền cấp xã sẽ góp phần trực tiếp nâng cao năng lực lãnh đạo của tổ chức đảng, hiệu lực quản lý của chính quyền và niềm tin của Nhân dân đối với hệ thống chính trị cơ sở.
Tài liệu tham khảo:
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2022). Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 17/11/2022 về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với hệ thống chính trị trong giai đoạn mới.
Ngô Thị Vân Anh, & Bùi Thu Chang (10/7/2026). Đổi mới phương thức lãnh đạo của Thành ủy Hà Nội đối với việc xây dựng chính quyền phường, xã hiện nay. Tạp chí Quản lý nhà nước. https://www.quanlynhanuoc.vn/2026/07/10/doi-moi-phuong-thuc-lanh-dao-cua-thanh-uy-ha-noi-doi-voi-xay-dung-chinh-quyen-phuong-xa-hien-nay.
Nguyễn Thị Thanh Bình (16/9/2026). Kinh nghiệm và những vấn đề đặt ra trong việc tiếp tục hoàn thiện thể chế công tác xây dựng Đảng hiện nay. Tạp chí Quản lý nhà nước. https://www.quanlynhanuoc.vn/2026/09/16/kinh-nghiem-va-nhung-van-de-dat-ra-trong-tiep-tuc-hoan-thien-the-che-cong-tac-xay-dung-dang-hien-nay.
Nguyễn Thị Thu Hiền (20/01/2026). Đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh trong bối cảnh thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Tạp chí Quản lý nhà nước. https://www.quanlynhanuoc.vn/2026/01/20/doi-moi-to-chuc-va-hoat-dong-he-thong-chinh-tri-o-co-so-cua-dang-bo-tinh-quang-ninh-trong-boi-canh-thuc-hien-mo-hinh-chinh-quyen-dia-phuong-hai-cap.
Quốc hội (2025). Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025.
T. T. Mạnh (11/5/2026). Phân cấp, phân quyền gắn với trách nhiệm giải trình trong xây dựng chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam. Tạp chí Quản lý nhà nước. https://www.quanlynhanuoc.vn/2026/05/11/phan-cap-phan-quyen-gan-voi-trach-nhiem-giai-trinh-trong-xay-dung-chinh-quyen-dia-phuong-hai-cap-o-viet-nam
Thành ủy Cần Thơ (2026). Báo cáo đánh giá tổng thể đội ngũ cán bộ cấp xã sau khi hoàn thành sắp xếp đơn vị hành chính và thực hiện chính quyền địa phương 02 cấp trên địa bàn thành phố Cần Thơ.



