Phát triển nông nghiệp công nghệ cao tại Hưng Yên: Vai trò hạt nhân của doanh nghiệp tư nhân

Developing high-tech agriculture in Hung Yen: The pivotal role of private enterprises

ThS. Vũ Thị Huyền
Trường Chính trị Nguyễn Văn Linh, tỉnh Hưng Yên
Email: ngochuyentl09@gmail.com

(Quanlynhanuoc.vn) – Sau sáp nhập, Hưng Yên đặt ra yêu cầu cấp thiết phải tái cấu trúc ngành nông nghiệp theo hướng hiện đại nhằm khắc phục những hạn chế cố hữu của mô hình kinh tế hộ về vốn, kỹ thuật và đầu ra, việc ứng dụng công nghệ cao đã trở thành xu thế tất yếu. Trong tiến trình đó, doanh nghiệp tư nhân nổi lên như một chủ thể hạt nhân, đóng vai trò định hình và dẫn dắt toàn bộ chuỗi giá trị. Trên cơ sở phân tích thực trạng phát huy vai trò này tại Hưng Yên, bài viết làm rõ những kết quả đạt được, nhận diện các điểm nghẽn cốt lõi, từ đó, đề xuất giải pháp đồng bộ nhằm khơi thông nguồn lực và phát huy tối đa vị thế hạt nhân của doanh nghiệp tư nhân, hướng tới nền nông nghiệp xanh và bền vững.

Từ khóa: Nông nghiệp công nghệ cao; doanh nghiệp tư nhân; vai trò hạt nhân; chuỗi giá trị; Hưng Yên.

Abstract: Following the merger, Hung Yen faced an urgent need to restructure its agricultural sector toward modernization in order to overcome the inherent limitations of the household-based economic model namely, constraints related to capital, technology, and market access making the adoption of high technology an inevitable trend. In this process, private enterprises have emerged as key players, shaping and leading the entire value chain. Based on an analysis of the current status of this role in Hung Yen, this article clarifies the achievements made, identifies core bottlenecks, and proposes comprehensive solutions to unlock resources and maximize the pivotal role of private enterprises, with the goal of achieving a green and sustainable agriculture sector.

Keywords: High-tech agriculture; private enterprises; pivotal role; value chain; Hung Yen.

1. Đặt vấn đề

Từ ngày 01/7/2025 hai tỉnh Hưng Yên và Thái Bình sáp nhập, lấy tên là tỉnh Hưng Yên (Quốc hội, 2025), đã mở ra một dư địa kinh tế rộng lớn hơn, đặt ra yêu cầu tổ chức lại sản xuất nông nghiệp theo hướng hiện đại, bền vững. Yêu cầu này gắn với việc ứng dụng công nghệ sinh học, tự động hóa và công nghệ số nhằm nâng cao năng suất, chất lượng nông sản, sử dụng hiệu quả tài nguyên và thích ứng với biến đổi khí hậu. Trong quá trình đó, doanh nghiệp tư nhân có vai trò quan trọng trong huy động vốn, đổi mới công nghệ, tổ chức sản xuất và kết nối hộ nông dân, hợp tác xã với thị trường.

Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân và Văn kiện Đại hội XIV của Đảng khẳng định vai trò quan trọng của kinh tế tư nhân, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu thúc đẩy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Những định hướng này là cơ sở để hoàn thiện cơ chế, chính sách, khơi thông nguồn lực và tạo điều kiện cho doanh nghiệp tư nhân đầu tư vào nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, góp phần nâng cao giá trị gia tăng và phát triển nông nghiệp bền vững. Việc cụ thể hóa các định hướng này đòi hỏi chính quyền địa phương cải thiện môi trường đầu tư, hỗ trợ tiếp cận nguồn lực và phát triển hạ tầng phục vụ sản xuất.

Tại Hưng Yên, sự tham gia của doanh nghiệp tư nhân trong lĩnh vực này còn gặp khó khăn về đất đai, vốn và liên kết thị trường. Những hạn chế đó ảnh hưởng đến khả năng mở rộng quy mô, đổi mới công nghệ và hình thành chuỗi giá trị ổn định. Mặt khác, đầu tư công nghệ cao đòi hỏi sự đồng bộ giữa vùng nguyên liệu, hạ tầng kỹ thuật, nhân lực và đầu ra sản phẩm. Vì vậy, hiệu quả thu hút doanh nghiệp phụ thuộc vào tính nhất quán của chính sách và năng lực phối hợp thực hiện của các cơ quan quản lý. Sự thiếu đồng bộ trong từng khâu có thể làm tăng chi phí và rủi ro đầu tư. Do đó, việc nghiên cứu có hệ thống về vai trò của doanh nghiệp tư nhân, chỉ ra những hạn chế, nút thắt trong thực tiễn và đề xuất các giải pháp mang tính căn cơ không chỉ mang ý nghĩa cấp bách đối với Hưng Yên, mà còn cung cấp bài học kinh nghiệm quý báu cho các địa phương khác trong quá trình xây dựng hệ sinh thái nông nghiệp công nghệ cao bền vững.

2. Thực trạng phát huy vai trò hạt nhân của doanh nghiệp tư nhân tại Hưng Yên sau sáp nhập

2.1. Vai trò hạt nhân của doanh nghiệp tư nhân trong phát triển nông nghiệp công nghệ cao

Nông nghiệp công nghệ cao là mô hình sản xuất dựa trên nền tảng tri thức, nhằm tối ưu hóa các nguồn lực và tạo ra bước nhảy vọt về năng suất, chất lượng. Bản chất của mô hình này được nhận diện qua năm đặc trưng cốt lõi: (1) Về kỹ thuật, ứng dụng tổ hợp công nghệ tiên tiến (công nghệ sinh học, nhà màng, thiết bị cơ điện tử) làm tư liệu sản xuất chủ đạo; (2) Về kinh tế, tạo ra sản phẩm có năng suất, chất lượng, đạt tiêu chuẩn khắt khe (VietGAP, GlobalGAP) và giá trị gia tăng vượt trội; (3) Về quản trị, vận hành dựa trên hệ thống thông minh, tự động hóa và dữ liệu lớn; (4) Về sinh thái, phát triển theo định hướng tuần hoàn, tiết kiệm tài nguyên và thích ứng biến đổi khí hậu; (5) Về cấu trúc, tổ chức sản xuất khép kín theo chuỗi giá trị và không ngừng đổi mới sáng tạo.

Để hiện thực hóa các đặc trưng nêu trên, đặc biệt trong bối cảnh nông nghiệp Hưng Yên đang chuyển dịch mạnh mẽ sang sản xuất hàng hóa quy mô lớn sau sáp nhập, doanh nghiệp tư nhân được xác định là hạt nhân tạo lập hệ sinh thái nông nghiệp công nghệ cao. Vai trò hạt nhân này được thể hiện qua bốn lý do thực tiễn sau:

Thứ nhất, doanh nghiệp tư nhân là hạt nhân về huy động vốn và chuyển giao công nghệ. Các hộ nông dân và hợp tác xã tại Hưng Yên thường đối mặt với điểm nghẽn về tài chính, kỹ thuật. Trong bối cảnh nông sản chủ lực của tỉnh, như nhãn lồng, vải, chuối, cây có múi… chủ yếu tiêu thụ tươi và phụ thuộc vào thương lái, các doanh nghiệp tư nhân chính là chủ thể sở hữu tiềm lực để đầu tư vào hệ thống kho lạnh, dây chuyền chế biến sâu, như sấy khô, ép nước, đóng hộp. Sự tham gia này giúp khắc phục căn cơ rủi ro thị trường và nâng cao giá trị gia tăng cho nông sản địa phương.

Thứ hai, doanh nghiệp tư nhân là hạt nhân tái cấu trúc sản xuất theo chuỗi giá trị. Xuất phát từ thực trạng sản xuất quy mô hộ nhỏ lẻ, manh mún tại Hưng Yên, các doanh nghiệp đóng vai trò quy hoạch và tổ chức lại các vùng nguyên liệu tập trung, như vùng lúa chất lượng cao, vùng nhãn VietGAP. Thông qua việc ký kết bao tiêu sản phẩm với hợp tác xã và nông dân, doanh nghiệp giúp hình thành các liên kết ổn định, giảm thiểu rủi ro cho người sản xuất và bảo đảm nguồn nguyên liệu đầu vào cho khâu chế biến.

Thứ ba, doanh nghiệp tư nhân là hạt nhân tiên phong đổi mới sáng tạo và thiết lập tiêu chuẩn chất lượng. Để nâng tầm thương hiệu nông sản Hưng Yên vươn ra thị trường quốc tế, rất cần sự tiên phong của doanh nghiệp trong việc áp dụng các tiêu chuẩn khắt khe, như GlobalGAP, hữu cơ, cùng các hệ thống truy xuất nguồn gốc số và tự động hóa vào nhà màng, nhà kính. Khi các mô hình này được triển khai thành công, doanh nghiệp sẽ tạo ra tác động lan tỏa, thúc đẩy hợp tác xã và hộ nông dân xung quanh cùng chuyển đổi theo hướng công nghệ cao.

Thứ tư, doanh nghiệp tư nhân là hạt nhân kết nối các chủ thể trong hệ sinh thái liên kết bền vững. Tại Hưng Yên, mạng lưới hợp tác xã nông nghiệp đang đóng vai trò là cầu nối quan trọng. Các doanh nghiệp tư nhân chính là trung tâm kết nối mạng lưới này với các viện nghiên cứu, trường đại học để chuyển giao kỹ thuật, đồng thời phối hợp với chính quyền địa phương trong việc thực hiện các chính sách tích tụ đất đai, hình thành nên một hệ sinh thái nông nghiệp công nghệ cao mang đặc thù riêng của tỉnh.

Từ nhận thức đó, phát triển nông nghiệp công nghệ cao lấy doanh nghiệp tư nhân làm hạt nhân được xác định là hướng đi chiến lược, phù hợp với điều kiện thực tiễn và tiềm năng lợi thế của tỉnh Hưng Yên trong giai đoạn mới.

2.2. Những kết quả đạt được

Thực tiễn tại Hưng Yên cho thấy, doanh nghiệp tư nhân đã từng bước khẳng định vai trò hạt nhân trong việc kiến tạo hệ sinh thái nông nghiệp công nghệ cao, thể hiện qua bốn phương diện chủ yếu:

(1) Chính quyền tỉnh đã kiến tạo môi trường thể chế và hạ tầng thuận lợi, tạo tiền đề thu hút doanh nghiệp tư nhân đầu tư.

Tỉnh đã tập trung quy hoạch các vùng sản xuất hàng hóa, khuyến khích tích tụ đất đai. Năm 2025, toàn tỉnh hình thành 754 mô hình sản xuất tập trung với tổng diện tích 26.267 ha, trong đó có 264 mô hình liên kết sản xuất lúa quy mô 9.453,2 ha. Việc tích tụ đất đai đạt 167,52 ha với kinh phí hỗ trợ trên 2,54 tỷ đồng, cùng các gói hỗ trợ kỹ thuật với 143 tấn giống lúa chất lượng, 160 tấn phân bón hữu cơ (Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Hưng Yên, 2025) đã tạo ra vùng nguyên liệu tập trung. Bên cạnh đó, tỉnh đã ban hành các cơ chế đặc thù nhằm ưu tiên bố trí quỹ đất và đầu tư hạ tầng kỹ thuật đồng bộ cho các khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Những nỗ lực này đã giúp giảm thiểu chi phí ban đầu và rút ngắn thời gian chuẩn bị đầu tư, tạo tiền đề để các doanh nghiệp tư nhân mạnh dạn tham gia vào chuỗi giá trị. Minh chứng cho sức hút của môi trường đầu tư là trong 9 tháng năm 2026, toàn tỉnh đã có 4.030 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt 44.606 tỷ đồng (Cục Thống kê tỉnh Hưng Yên, 2026). Đây là nguồn lực dồi dào để tỉnh tiếp tục thu hút và mở rộng các dự án đầu tư vào khâu chế biến sâu và logistics nông sản trong thời gian tới.

 Chương trình OCOP với 560 sản phẩm được chứng nhận, bao gồm 493 sản phẩm 3 sao, 113 sản phẩm 4 sao (Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Hưng Yên, 2025). Không chỉ dừng lại ở việc cấp giấy chứng nhận mà thông qua nền tảng này, các doanh nghiệp tư nhân đã từng bước tham gia vào quá trình đặt hàng, nâng cấp bao bì, mẫu mã, đưa nông sản từ sản xuất nhỏ lẻ vào các kênh phân phối hiện đại và sàn thương mại điện tử.

(2) Bước đầu hình thành cấu trúc liên kết chuỗi giá trị có sự dẫn dắt của doanh nghiệp tư nhân.

Mạng lưới  hợp tác xã nông nghiệp (với doanh thu bình quân 2 tỷ đồng/năm, giải quyết việc làm cho gần 21.000 lao động) đang đóng vai trò là vệ tinh cung ứng nguyên liệu. Thông qua 264 mô hình liên kết sản xuất lúa và 60 mô hình liên kết rau màu (Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Hưng Yên, 2025), doanh nghiệp tư nhân đã từng bước kết nối với hợp tác xã và nông dân. Sự chuyển dịch này thể hiện rõ nét qua việc hình thành các cánh đồng mẫu lớn và vùng nguyên liệu chuyên canh. doanh nghiệp tư nhân không chỉ đóng vai trò thu mua đơn thuần mà còn cung ứng vật tư đầu vào như giống, phân bón hữu cơ… và chuyển giao quy trình kỹ thuật cho các hợp tác xã. Nhờ có sự bảo lãnh về đầu ra của doanh nghiệp, các hợp tác xã mạnh dạn đầu tư vào khâu sơ chế, bảo quản, giảm tổn thất sau thu hoạch. Mối liên kết dọc này giúp nông sản Hưng Yên từng bước đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe về dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, tạo dựng niềm tin và nâng cao vị thế trên thị trường.

Bên cạnh đó, nguồn lực tài chính cho khu vực này tiếp tục được củng cố. Tính đến ngày 30/9/2026, dư nợ tín dụng đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn tỉnh đạt 119.500 tỷ đồng, tăng 4,52% so với cuối năm 2025 (Cục Thống kê tỉnh Hưng Yên, 2026). Điều này cho thấy các tổ chức tín dụng đang ngày càng tin tưởng và rót vốn vào chuỗi liên kết sản xuất nông nghiệp do doanh nghiệp tư nhân dẫn dắt.

(3) Doanh nghiệp tư nhân từng bước ứng dụng công nghệ cao vào các khâu sản xuất, chế biến và mở rộng sang chăn nuôi, thủy sản.

Trên nền tảng định hướng của tỉnh, toàn tỉnh đã ghi nhận 6.230,63 ha chứng nhận VietGAP và 47,2 ha hữu cơ (Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Hưng Yên, 2025). Trong 6 tháng đầu năm 2026, diện tích lúa cấy máy đạt 38.200 ha (chiếm 40,26%), nhóm giống lúa chất lượng cao chiếm 54,4% (Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh Hưng Yên, 2026). Nắm bắt xu hướng đó, các doanh nghiệp tư nhân đã tiên phong đầu tư vào hệ thống nhà màng, nhà lưới, hệ thống tưới nhỏ giọt tự động và cảm biến độ ẩm, nhiệt độ. Đối với khâu chế biến, một số doanh nghiệp đã mạnh dạn đầu tư dây chuyền sấy lạnh, chiên chân không để đa dạng hóa sản phẩm từ nhãn, vải, chuối, giúp kéo dài thời gian bảo quản và tăng giá trị kinh tế. Trong lĩnh vực chăn nuôi và thủy sản, dựa trên hạ tầng dữ liệu chung của tỉnh (với 1.040 lồng nuôi và 735 tàu cá được số hóa trên phần mềm Vnfishbase) (Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Hưng Yên, 2026), các doanh nghiệp đang từng bước áp dụng chuồng kín, tự động hóa điều chỉnh nhiệt độ, thức ăn và hệ thống quan trắc môi trường nước; đồng thời nhân rộng các mô hình trang trại khép kín ứng dụng công nghệ xử lý chất thải, vừa bảo vệ môi trường vừa giảm thiểu rủi ro dịch bệnh.

Sự chuyển dịch này được minh chứng qua kết quả sản xuất 9 tháng năm 2026: Mặc dù sản lượng một số cây ăn quả chủ lực giảm do thời tiết, nhưng tổng sản lượng thủy sản toàn tỉnh vẫn ước đạt 266.787 tấn, tăng 3,44% so với cùng kỳ năm trước (Cục Thống kê tỉnh Hưng Yên, 2026). Đặc biệt, mô hình nuôi trồng thủy sản ứng dụng công nghệ đang được mở rộng với 996 lồng nuôi cá trên sông và 4.470 bè nuôi hàu, cho thấy sự thích ứng linh hoạt của các doanh nghiệp tư nhân trước biến đổi khí hậu (Cục Thống kê tỉnh Hưng Yên, 2026).

(4) Chuyển đổi số và quản lý chất lượng được đẩy mạnh, tạo điều kiện cho nông sản Hưng Yên vươn ra thị trường xuất khẩu.

Toàn tỉnh hiện có 45 mã số vùng trồng xuất khẩu (tập trung vào nhãn, vải, chuối) và 51 mã số vùng trồng nội địa (Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh Hưng Yên, 2026). Việc 100% hồ sơ thủ tục hành chính của ngành được số hóa và giải quyết trực tuyến đã rút ngắn thời gian tiếp cận dịch vụ công cho doanh nghiệp. (Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Hưng Yên, 2026). Hệ thống dữ liệu vùng trồng và mã số xuất khẩu do cơ quan quản lý nhà nước thiết lập đang là chìa khóa để các doanh nghiệp tư nhân vượt qua các rào cản kỹ thuật của thị trường quốc tế. Thay vì phụ thuộc vào chứng từ giấy, các lô hàng nông sản hiện nay đã có thể truy xuất minh bạch từ khâu chăm sóc đến khi đóng gói thông qua mã phản hồi nhanh. Sự phát triển của hệ thống quản lý dữ liệu ngành đã giúp các doanh nghiệp tối ưu hóa chuỗi cung ứng, giảm chi phí logistics và chủ động kết nối với các đối tác phân phối toàn cầu.

2.3. Một số hạn chế và nguyên nhân

Bên cạnh những kết quả đạt được, quá trình phát huy vai trò hạt nhân của doanh nghiệp tư nhân trong phát triển nông nghiệp công nghệ cao tại Hưng Yên còn tồn tại một số hạn chế. Thứ nhất, năng lực nội tại của doanh nghiệp chưa tương xứng để làm hạt nhân dẫn dắt. Phần lớn doanh nghiệp trên địa bàn là nhỏ và vừa, thiếu vốn và hạn chế năng lực nghiên cứu phát triển. Sau sáp nhập, dư địa thị trường mở rộng nhưng các doanh nghiệp vẫn chủ yếu tham gia khâu sơ chế, thiếu các nhà máy chế biến sâu quy mô lớn cho các sản phẩm chủ lực (nhãn lồng, vải, chuối, cam…), làm hạn chế giá trị gia tăng. Thứ hai, vai trò kết nối chuỗi giá trị của doanh nghiệp còn lỏng lẻo. Đặc biệt, sau sáp nhập, sự thiếu gắn kết giữa vùng nguyên liệu cây ăn quả (Hưng Yên cũ) và vùng lúa, thủy sản (Thái Bình cũ) càng bộc lộ rõ. Giao dịch chủ yếu qua thương lái tự do, thiếu hợp đồng bao tiêu dài hạn giữa doanh nghiệp và nông dân. Thứ ba, rào cản thể chế và đất đai chưa được tháo gỡ. Đất đai manh mún cản trở tích tụ; thủ tục hành chính về đất và cấp mã vùng trồng còn phức tạp. Yêu cầu thống nhất quy hoạch, tiêu chuẩn giữa hai địa phương cũ sau sáp nhập đang tạo áp lực lớn cho công tác quản lý và đầu tư của doanh nghiệp. Thứ tư, năng lực công nghệ của doanh nghiệp chưa đồng đều. Ứng dụng công nghệ cao mới dừng ở mức thí điểm do thiếu hạ tầng số dùng chung và nhân lực chất lượng cao. Sự chênh lệch trình độ ứng dụng công nghệ giữa hai vùng lãnh thổ cũ là rào cản để tạo mặt bằng đồng nhất trong thu hút đầu tư.

Những hạn chế trên xuất phát từ cả yếu tố khách quan và chủ quan. Về khách quan, sản xuất nông nghiệp chịu tác động trực tiếp và khốc liệt từ biến đổi khí hậu. Điển hình là trong vụ mùa năm 2026, điều kiện thời tiết không thuận lợi cho quá trình phân hóa mầm hoa đã khiến sản lượng nhãn (cây chủ lực của tỉnh) ước đạt 41.500 tấn, giảm 24,34%; sản lượng vải đạt 18.453 tấn, giảm 23,04% so với cùng kỳ năm 2025. Thêm vào đó, thị trường nông sản biến động mạnh, sức ép cạnh tranh lớn. Trong 9 tháng năm 2026, toàn tỉnh có 744 doanh nghiệp giải thể và 1.540 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh, phần lớn tập trung ở các ngành chịu ảnh hưởng của thị trường. Nguồn vốn tín dụng ưu đãi dù đã được cải thiện (dư nợ nông nghiệp đạt 119.500 tỷ đồng) nhưng vẫn có thời hạn ngắn, chưa tương xứng với chu kỳ sinh trưởng dài của cây ăn quả lâu năm (Cục Thống kê tỉnh Hưng Yên, 2026).

Về chủ quan, tư duy quản trị của một bộ phận doanh nghiệp tư nhân còn e ngại rủi ro, chưa mạnh dạn đầu tư vào công nghệ lõi. Công tác quy hoạch vùng nguyên liệu của địa phương chưa gắn kết chặt chẽ với nhu cầu thực tế của doanh nghiệp chế biến. Cơ chế liên kết  thiếu tính thực chất và chưa có cơ chế chia sẻ lợi ích, rủi ro minh bạch. Tâm lý sản xuất nhỏ lẻ, tự phát của một bộ phận nông dân là rào cản lớn trong việc hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung, quy mô lớn.

3. Giải pháp phát huy vai trò hạt nhân của doanh nghiệp tư nhân trong phát triển nông nghiệp công nghệ cao tại Hưng Yên giai đoạn 2026 – 2030

Thứ nhất, tạo đột phá thể chế về đất đai và tài chính nhằm giải phóng nguồn lực cho doanh nghiệp.

Xuất phát từ thực trạng đất đai manh mún và áp lực thống nhất quy hoạch sau sáp nhập, tỉnh cần đẩy mạnh dồn điền đổi thửa, tạo hành lang pháp lý cho thuê đất dài hạn và đơn giản hóa thủ tục cấp mã vùng trồng. Đặc biệt, cần xây dựng quy hoạch sử dụng đất hài hòa giữa vùng đất màu (Hưng Yên cũ) và vùng ven biển (Thái Bình cũ) để tạo quỹ đất sạch cho các dự án chế biến sâu. Trên cơ sở đó, áp dụng tối đa ưu đãi miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế nhập khẩu máy móc công nghệ cao. Về tín dụng, Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh cần chỉ đạo các tổ chức tín dụng chấp nhận tài sản hình thành từ vốn vay (nhà màng, hệ thống tưới tự động) làm tài sản thế chấp. Để hiện thực hóa, ngân sách tỉnh cần bố trí vốn mồi thành lập Quỹ hỗ trợ phát triển nông nghiệp công nghệ cao cung cấp các gói vay ưu đãi, song song với việc huy động nguồn vốn tín dụng từ các ngân hàng thương mại trên địa bàn.

Thứ hai, tái cấu trúc chuỗi giá trị, lấy doanh nghiệp tư nhân làm hạt nhân liên kết vùng nguyên liệu.

Để khắc phục tình trạng liên kết lỏng lẻo và sự đứt gãy chuỗi sau sáp nhập, tỉnh cần quy hoạch các vùng chuyên canh quy mô lớn cho nhãn lồng, vải, chuối; song song với việc hình thành các vùng nguyên liệu lúa chất lượng cao và thủy sản tại vùng ven biển. Đồng thời, hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân ký kết hợp đồng bao tiêu dài hạn với hợp tác xã theo cơ chế chia sẻ lợi ích và rủi ro minh bạch. Các hợp đồng kinh tế cần quy định rõ mức giá sàn bảo hiểm khi thị trường lao dốc. Trọng tâm là hỗ trợ doanh nghiệp chuyển dịch từ sơ chế sang đầu tư công nghệ chế biến sâu như sấy lạnh, chiên chân không, ép nước và hệ thống kho lạnh bảo quản nông sản tươi, từng bước đẩy lùi tình trạng được mùa mất giá. Về nguồn lực, cần khuyến khích hình thức hợp tác công – tư và huy động vốn xã hội hóa từ chính các doanh nghiệp tư nhân thông qua chính sách ưu đãi về thuế, mặt bằng, đồng thời tận dụng nguồn vốn viện trợ phát triển chính thức cho hạ tầng chế biến và logistics nông sản.

Thứ ba, xây dựng hạ tầng số và thúc đẩy chuyển đổi số đồng bộ trong toàn ngành.

Do ứng dụng công nghệ hiện mới dừng ở quy mô thí điểm và có sự chênh lệch giữa hai vùng lãnh thổ cũ, tỉnh cần xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu nông nghiệp tích hợp thổ nhưỡng, mã vùng trồng, lịch sử canh tác giúp phục vụ cả cơ quan quản lý và doanh nghiệp. Hệ thống này phải được thiết kế theo kiến trúc mở, cho phép các doanh nghiệp tư nhân và hợp tác xã truy cập, cập nhật dữ liệu trong suốt quá trình canh tác, tạo nền tảng cho việc cấp mã QR truy xuất nguồn gốc. Trên nền tảng đó, hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân áp dụng Internet vạn vật, trí tuệ nhân tạo và chuỗi khối vào giám sát sản xuất và kết nối với các sàn thương mại điện tử nông sản. Phấn đấu đến năm 2030, 100% vùng sản xuất tập trung được số hóa, thu hẹp khoảng cách số giữa hai địa phương cũ. Để triển khai, cần sử dụng vốn đầu tư công xây dựng hạ tầng lõi và khuyến khích các doanh nghiệp viễn thông, công nghệ thông tin đồng hành cung cấp giải pháp và đào tạo kỹ năng số cho nhân lực địa phương.

Thứ tư, đổi mới đào tạo nhân lực và thúc đẩy nghiên cứu phát triển.

 Nhằm khắc phục điểm yếu về năng lực nội tại và tư duy e ngại rủi ro của các doanh nghiệp nhỏ và vừa, tỉnh cần chuyển cơ chế đào tạo sang “đặt hàng” theo nhu cầu doanh nghiệp. Cần thiết lập mô hình liên kết giữa Nhà nước – Nhà trường – Doanh nghiệp để xây dựng các chương trình đào tạo thực hành về nông nghiệp thông minh, đồng thời thành lập các vườn ươm doanh nghiệp nông nghiệp tại các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn. Song song với đó là ưu đãi đặc thù cho các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo tiếp cận các quỹ đầu tư mạo hiểm. Về nguồn lực, cần trích một phần ngân sách sự nghiệp khoa học của tỉnh để đồng tài trợ các đề tài nghiên cứu và phát triển, kết hợp thu hút nhân lực chất lượng cao thông qua chính sách hỗ trợ nhà ở và môi trường làm việc tại các khu, cụm công nghiệp.

Thứ năm, đẩy mạnh xúc tiến thương mại và xây dựng thương hiệu nông sản.

 Trước sức ép cạnh tranh và yêu cầu thống nhất thương hiệu sau sáp nhập, việc phát triển thương hiệu gắn với chỉ dẫn địa lý là yêu cầu cấp thiết. Tỉnh cần hỗ trợ các doanh nghiệp tư nhân xây dựng và duy trì các tiêu chuẩn quốc tế nghiêm ngặt, đồng thời đẩy mạnh xúc tiến thương mại số để quảng bá sản phẩm trực tiếp đến người tiêu dùng trong và ngoài nước. Do đó, tỉnh cần hỗ trợ doanh nghiệp tham gia các hội chợ quốc tế và nghiên cứu thành lập Ban điều phối nông nghiệp công nghệ cao cấp tỉnh làm đầu mối kết nối với các tổ chức quốc tế (Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc, Ngân hàng Thế giới, Chương trình Phát triển Liên hợp quốc). Để thực hiện, cần bố trí kinh phí xúc tiến thương mại hàng năm từ ngân sách tỉnh và phối hợp chặt chẽ với các Tham tán thương mại Việt Nam tại nước ngoài nhằm tranh thủ nguồn lực hỗ trợ kỹ thuật và kết nối chuỗi phân phối toàn cầu.

Thứ sáu, phát triển nông nghiệp tuần hoàn và thích ứng biến đổi khí hậu.

Trước tác động ngày càng cực đoan của thời tiết và yêu cầu khắt khe về tiêu chuẩn xuất khẩu xanh, tỉnh cần khuyến khích doanh nghiệp tư nhân áp dụng mô hình kinh tế tuần hoàn. Cụ thể, cần hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư công nghệ xử lý phụ phẩm nông nghiệp, ví dụ như rơm rạ hay chất thải chăn nuôi thành phân bón hữu cơ vi sinh hoặc năng lượng tái tạo, hướng tới xây dựng các mô hình nông nghiệp phát thải thấp. Đồng thời, đầu tư hệ thống tưới tiêu tiết kiệm nước và điều chỉnh cơ cấu cây trồng phù hợp với điều kiện sinh thái từng vùng, đặc biệt lưu ý sự khác biệt giữa vùng đất màu Hưng Yên và vùng ven biển Thái Bình cũ để tránh rủi ro thiên tai, tạo mặt bằng sinh thái đồng nhất cho doanh nghiệp đầu tư.Về nguồn lực, cần tận dụng các nguồn tài trợ quốc tế về chống biến đổi khí hậu, lồng ghép các nguồn vốn đầu tư cơ sở hạ tầng thủy lợi, đê điều để tạo sinh kế bền vững cho doanh nghiệp.

4. Kết luận

Việc mở rộng không gian phát triển sau sáp nhập không chỉ là thách thức mà còn là cơ hội để Hưng Yên kiến tạo một hệ sinh thái nông nghiệp mở, lấy sự thống nhất về quy hoạch, cơ sở dữ liệu, tiêu chuẩn và thương hiệu làm nền tảng tiên quyết. Trong giai đoạn 2026 – 2030, để thực sự phát huy vai trò hạt nhân, doanh nghiệp tư nhân phải được đặt trong mối quan hệ cộng sinh, đối tác bình đẳng với hợp tác xã, nông dân, nhà khoa học và Nhà nước. Những đột phá đồng bộ về thể chế và hạ tầng sẽ khơi thông nguồn lực, tạo ra cộng hưởng sức mạnh đa chủ thể, đưa nền nông nghiệp tỉnh nhà phát triển bền vững. Đặc biệt, cần chuyển dịch căn bản tư duy đánh giá: lấy năng suất lao động, giá trị gia tăng, thu nhập thực tế của người dân, khả năng thích ứng biến đổi khí hậu và mức độ bền vững sinh thái làm thước đo cốt lõi, thay vì chạy theo số lượng mô hình hay sản phẩm được công nhận.

Tài liệu tham khảo:
Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân.
Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Cục Thống kê tỉnh Hưng Yên (2026). Báo cáo tình hình kinh tế – xã hội tỉnh Hưng Yên tháng 9 và 9 tháng năm 2026.
Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh Hưng Yên (2026). Báo cáo số 213/BC-TTBVTV ngày 10/6/2026 về kết quả thực hiện công tác trồng trọt và bảo vệ thực vật 6 tháng đầu năm; phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập I, Tập II. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Quốc hội (2025). Nghị quyết số 202/2025/QH15 ngày 12/6/2025 về sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh.
Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Hưng Yên (2026). Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ 6 tháng đầu năm, phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026.
Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Hưng Yên (2025). Báo cáo kết quả sản xuất trồng trọt năm 2025 và triển khai kế hoạch năm 2026.
Ủy ban nhân dân tỉnh Hưng Yên (2025). Báo cáo kinh tế – xã hội 5 năm 2021 – 2025, nhiệm vụ 2026 – 2030.