Đổi mới công tác tuyên truyền chuyển đổi số cho thành viên Liên minh Hợp tác xã tại các tỉnh miền núi phía Bắc

Renewing digital transformation communication activities for members of Cooperative Alliances in Vietnam’s northern mountainous provinces

ThS. Vũ Văn Ninh
Liên minh Hợp tác xã Việt Nam
Email: incosec435@gmail.com

(Quanlynhanuoc.vn) – Chuyển đổi số đang trở thành một trong những động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, mở rộng thị trường và tăng sức cạnh tranh của khu vực kinh tế tập thể, hợp tác xã. Đối với các tỉnh miền núi phía Bắc, chuyển đổi số vừa là yêu cầu tất yếu của quá trình phát triển, vừa là giải pháp góp phần khắc phục những hạn chế do địa hình chia cắt, thị trường phân tán, quy mô sản xuất nhỏ và sự chênh lệch về điều kiện tiếp cận thông tin, công nghệ giữa các khu vực. Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi số của các hợp tác xã tại khu vực này còn gặp nhiều khó khăn. Bài viết đề xuất đổi mới công tác tuyên truyền chuyển đổi số cho thành viên Liên minh Hợp tác xã tại các tỉnh miền núi phía Bắc.

Từ khóa: Tuyên truyền; chuyển đổi số; kinh tế tập thể; Liên minh Hợp tác xã; miền núi phía Bắc.

Abstract: Digital transformation is becoming one of the key drivers of innovation in growth models, productivity improvement, market expansion, and increased competitiveness in the collective economic sector and cooperatives. For the northern mountainous provinces, digital transformation is both an inevitable requirement of the development process and a solution that helps overcome limitations caused by fragmented terrain, dispersed markets, small-scale production, and disparities in access to information and technology across regions. However, the digital transformation process for cooperatives in this region still faces many challenges. This article proposes innovations in digital transformation outreach efforts for members of the Cooperative Alliance in the northern mountainous provinces.

Keywords: Outreach; digital transformation; collective economy; Cooperative Alliance; northern mountainous region.

1. Đặt vấn đề

Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số và quá trình hình thành kinh tế số đang làm thay đổi sâu sắc phương thức tổ chức sản xuất, kinh doanh, quản trị và phân phối giá trị trong nền kinh tế. Khác với những nhận thức ban đầu, chuyển đổi số không còn được nhìn nhận đơn thuần là quá trình đưa máy móc, phần mềm hay các thiết bị công nghệ vào hoạt động sản xuất, mà ngày càng được tiếp cận như một quá trình thay đổi tổng thể về tư duy quản trị, phương thức vận hành, tổ chức sản xuất, phát triển thị trường và tạo lập giá trị trên nền tảng số.

Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị tiếp tục khẳng định: “Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế – xã hội, ngăn chặn nguy cơ tụt hậu, đưa đất nước phát triển bứt phá, giàu mạnh trong kỷ nguyên mới” (Bộ Chính trị, 2024, tr.1) . Trong bối cảnh đó, khu vực kinh tế tập thể, hợp tác xã đứng trước yêu cầu phải chủ động thích ứng với phương thức phát triển mới. Luật Hợp tác xã năm 2023 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc củng cố và phát triển mô hình hợp tác xã (Quốc hội, 2023). Chuyển đổi số có thể tạo ra những thay đổi đáng kể trong quản trị hợp tác xã, quản lý thành viên, tổ chức sản xuất, truy xuất nguồn gốc, xúc tiến thương mại, thanh toán, kết nối cung cầu và xây dựng chuỗi giá trị. Tuy nhiên, khả năng khai thác những lợi ích này phụ thuộc đáng kể vào nhận thức, năng lực và mức độ sẵn sàng của cán bộ quản lý, thành viên hợp tác xã.

Đối với các tỉnh miền núi phía Bắc, yêu cầu chuyển đổi số càng có ý nghĩa đặc biệt. Đây là địa bàn có vị trí chiến lược về quốc phòng, an ninh, đối ngoại và có tiềm năng về nông nghiệp hàng hóa, lâm nghiệp, dược liệu, du lịch sinh thái, kinh tế cửa khẩu và các sản phẩm đặc trưng địa phương. Sự đa dạng về khí hậu, địa hình và sinh thái tạo điều kiện hình thành nhiều sản phẩm có lợi thế cạnh tranh, như: chè, cà phê, quế, hồi, mắc ca, cây ăn quả ôn đới, dược liệu và các sản phẩm OCOP. Đây là cơ sở quan trọng để phát triển các mô hình sản xuất hàng hóa gắn với xây dựng thương hiệu, truy xuất nguồn gốc, thương mại điện tử và chuỗi giá trị.

Tuy nhiên, những lợi thế về tài nguyên, sản phẩm và văn hóa không phải lúc nào cũng chuyển hóa được thành lợi thế thị trường. Khoảng cách địa lý, chi phí logistics, quy mô sản xuất nhỏ và khả năng tiếp cận thị trường hạn chế có thể làm tăng chi phí giao dịch và giảm khả năng cạnh tranh của sản phẩm. Vì vậy, chuyển đổi số có thể trở thành một phương thức quan trọng để rút ngắn khoảng cách giữa sản xuất và thị trường, giữa vùng nguyên liệu và người tiêu dùng, giữa hợp tác xã với doanh nghiệp, cơ quan quản lý và các đối tác trong chuỗi giá trị.

Cùng với đó, khu vực miền núi phía Bắc có trên 30 dân tộc cùng sinh sống, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ đáng kể. Sự đa dạng về văn hóa là nguồn lực quan trọng cho phát triển, song cũng đặt ra yêu cầu phải tính đến sự khác biệt về trình độ học vấn, kỹ năng số, khả năng tiếp cận công nghệ và thói quen tiếp nhận thông tin của các nhóm dân cư. Do đó, không thể áp dụng một mô hình tuyên truyền chuyển đổi số đồng nhất cho toàn bộ khu vực.

Thực tiễn này cho thấy, chuyển đổi số tại miền núi phía Bắc không chỉ là vấn đề công nghệ. Đó đồng thời là vấn đề về con người, năng lực quản trị, phương thức tổ chức sản xuất, khả năng kết nối thị trường và năng lực thích ứng với phương thức phát triển mới. Bởi vậy, công tác tuyên truyền phải đi trước một bước trong việc tạo lập nhận thức và chuẩn bị năng lực cho các chủ thể tham gia.

Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, “Tuyên truyền là đem một việc gì nói cho dân hiểu, dân nhớ, dân theo, dân làm. Nếu không đạt mục đích đó là tuyên truyền thất bại” (Hồ Chí Minh, 2011, tr.191).  Đối với chuyển đổi số, yêu cầu này càng rõ nét bởi khoảng cách giữa biết về chuyển đổi số và thực hiện chuyển đổi số có thể rất lớn. Một thành viên hợp tác xã có thể hiểu rằng chuyển đổi số là cần thiết nhưng vẫn không biết bắt đầu từ đâu, sử dụng công cụ nào, đầu tư ở mức nào và chuyển đổi hoạt động sản xuất, kinh doanh ra sao.

Vì vậy, đổi mới công tác tuyên truyền chuyển đổi số cho thành viên Liên minh Hợp tác xã tại các tỉnh miền núi phía Bắc không thể chỉ được hiểu là tăng số lượng tin, bài, hội nghị hay tập huấn. Vấn đề cốt lõi là phải đổi mới tư duy về đối tượng, nội dung, phương thức và cơ chế tổ chức tuyên truyền; chuyển từ tuyên truyền đại trà sang tuyên truyền phân tầng; từ truyền đạt chủ trương sang hình thành năng lực số; từ cung cấp thông tin sang thúc đẩy hành động; đồng thời, gắn tuyên truyền với những thay đổi cụ thể trong quản trị, sản xuất, kinh doanh và tiếp cận thị trường của hợp tác xã.

2. Thực trạng công tác tuyên truyền chuyển đổi số cho thành viên Liên minh hợp tác xã tại các tỉnh miền núi phía Bắc

2.1. Những kết quả đạt được

Nhận thức về vai trò của chuyển đổi số trong phát triển kinh tế tập thể từng bước được nâng lên. Chuyển đổi số ngày càng được đặt trong mối quan hệ với phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã và nâng cao năng lực cạnh tranh. Các chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước và chương trình hành động của hệ thống Liên minh Hợp tác xã đã tạo cơ sở chính trị, pháp lý và tổ chức để triển khai tuyên truyền. Việc đưa nội dung chuyển đổi số vào các chương trình tập huấn, hội nghị, sinh hoạt chuyên đề và hoạt động hỗ trợ hợp tác xã đã góp phần giúp cán bộ, thành viên từng bước nhận thức rõ hơn về yêu cầu chuyển đổi phương thức quản trị và sản xuất.

Một số địa phương đã chủ động xây dựng chương trình, kế hoạch chuyển đổi số phù hợp với điều kiện thực tiễn. Phương thức tuyên truyền từng bước được mở rộng từ truyền thống sang kết hợp truyền thống với nền tảng số. Bên cạnh hội nghị, lớp tập huấn, tọa đàm và sinh hoạt chuyên đề, các chủ thể tuyên truyền đã khai thác những nền tảng phổ biến như Facebook, Zalo, TikTok và các kênh thông tin điện tử để đưa thông tin đến thành viên.

Phương pháp cầm tay chỉ việc, hướng dẫn trực tiếp tại cơ sở và thực hành trên chính hoạt động của hợp tác xã có khả năng tạo ra sự chuyển biến rõ hơn so với phương thức chỉ truyền đạt kiến thức lý thuyết. Nội dung tuyên truyền từng bước gắn chuyển đổi số với hoạt động thực tiễn của hợp tác xã. Tuyên truyền không chỉ dừng ở việc phổ biến khái niệm chuyển đổi số mà ngày càng đề cập đến quản trị, thương mại điện tử, truy xuất nguồn gốc, quảng bá sản phẩm, thanh toán không dùng tiền mặt, xây dựng thương hiệu và kết nối thị trường. Đây là hướng chuyển biến có ý nghĩa bởi nếu tuyên truyền chỉ dừng ở việc giới thiệu công nghệ, đối tượng rất khó nhận thấy mối liên hệ trực tiếp giữa chuyển đổi số và lợi ích kinh tế của mình.

Hệ thống Liên minh Hợp tác xã và các cơ quan liên quan đã bước đầu hình thành mạng lưới phối hợp tuyên truyền và hỗ trợ chuyển đổi số. Cùng với Liên minh Hợp tác xã các cấp, các cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan khoa học và công nghệ, doanh nghiệp viễn thông, cơ sở đào tạo và các tổ chức hỗ trợ đã thâm gia ở những mức độ khác nhau.

2.2. Những hạn chế và nguyên nhân

Ở một bộ phận cán bộ và thành viên hợp tác xã, nhận thức về chuyển đổi số còn thiên về công nghệ và thiết bị. Một số trường hợp đồng nhất chuyển đổi số với việc mua máy tính, sử dụng phần mềm hoặc mở tài khoản trên các nền tảng trực tuyến. Cách hiểu này làm cho chuyển đổi số bị thắt hẹp thành hoạt động ứng dụng công nghệ, trong khi bản chất của chuyển đổi số là thay đổi phương thức quản trị, tổ chức sản xuất, kinh doanh và tạo lập giá trị. Khi nhận thức chưa đầy đủ, việc đầu tư công nghệ có thể không tạo ra thay đổi tương ứng trong hiệu quả hoạt động.

Nội dung tuyên truyền chưa phải lúc nào cũng được phân hóa theo nhu cầu của từng nhóm đối tượng. Cán bộ quản lý, cán bộ chuyên môn, người lao động và thành viên hộ gia đình có nhu cầu, trình độ và khả năng tiếp nhận thông tin khác nhau. Nếu vẫn sử dụng cùng một nội dung, cùng một cách thức truyền đạt thì khó tạo ra hiệu quả như mong muốn.

Tuyên truyền ở một số nơi còn nặng về cung cấp thông tin, chưa tạo được sự chuyển hóa rõ ràng từ nhận thức sang hành động. Một lớp tập huấn có thể giúp thành viên hiểu thương mại điện tử là gì nhưng chưa chắc giúp họ mở được gian hàng, chụp ảnh sản phẩm, viết nội dung bán hàng, xử lý đơn hàng hoặc thực hiện thanh toán số. Vì vậy, khoảng cách được tuyên truyền và khả năng thực hiện vẫn tồn tại. Đây chính là điểm nghẽn cần được giải quyết nếu muốn nâng cao hiệu quả thực chất của công tác tuyên truyền.

Hạ tầng số và các điều kiện bảo đảm cho chuyển đổi số chưa đồng đều. Ở vùng sâu, vùng xa, vùng cực khó và khu vực biên giới, điều kiện tiếp cận hạ tầng viễn thông, thiết bị, dịch vụ số và logistics còn có sự khác biệt. Trong khi đó, nguồn lực tài chính của nhiều hợp tác xã hạn chế, khiến khả năng đầu tư và duy trì các giải pháp công nghệ gặp khó khăn. Vì vậy, nếu chỉ tăng cường tuyên truyền mà không đồng thời giải quyết những điều kiện bảo đảm thì tác động của tuyên truyền sẽ bị giới hạn.

Năng lực của đội ngũ làm công tác tuyên truyền chuyển đổi số chưa hoàn toàn đáp ứng yêu cầu mới. Người làm tuyên truyền hiện nay không chỉ cần khả năng diễn đạt mà còn phải hiểu những vấn đề cơ bản về công nghệ số, mô hình kinh doanh số, thương mại điện tử, dữ liệu, an toàn thông tin và hoạt động thực tế của hợp tác xã. Ngược lại, người có chuyên môn công nghệ lại chưa chắc có năng lực truyền đạt phù hợp với nông dân, thành viên hợp tác xã và đồng bào dân tộc thiểu số. Vì vậy, yêu cầu đặt ra là phải hình thành đội ngũ có khả năng kết nối giữa kiến thức chuyển đổi số với kỹ năng tuyên truyền.

2.3. Một số vấn đề đặt ra

Một là, phải chuyển từ tuyên truyền về công nghệ sang tuyên truyền về giá trị và hiệu quả của chuyển đổi số. Điều thành viên hợp tác xã quan tâm trước hết không phải là công nghệ có bao nhiêu tính năng, mà là công nghệ giúp họ giải quyết vấn đề gì. Nội dung tuyên truyền phải trả lời được những câu hỏi cụ thể: chuyển đổi số giúp hợp tác xã giảm chi phí ở đâu; tăng doanh thu bằng cách nào; kiểm soát sản xuất ra sao; đưa sản phẩm đến thị trường như thế nào; truy xuất nguồn gốc có ý nghĩa gì; thanh toán số đem lại lợi ích gì.

Hai là, phải chuyển từ tuyên truyền đại trà sang tuyên truyền phân tầng. Không nên xây dựng một chương trình tuyên truyền duy nhất cho toàn bộ thành viên. Cần phân loại tối thiểu thành các nhóm: cán bộ lãnh đạo, quản lý hợp tác xã; cán bộ chuyên môn; thành viên trực tiếp sản xuất; hợp tác xã đã có nền tảng số; hợp tác xã mới bắt đầu chuyển đổi và hợp tác xã ở địa bàn đặc biệt khó khăn.

Ba là, phải chuyển từ truyền đạt một chiều sang tương tác và thực hành. Đặc thù của chuyển đổi số đòi hỏi người học phải làm được chứ không chỉ biết. Do đó, cần tăng cường các hình thức thực hành tại chỗ, hướng dẫn trên thiết bị thật, xử lý những vấn đề thật của hợp tác xã và đánh giá kết quả sau tập huấn.

Bốn là, phải gắn tuyên truyền với mô hình và sản phẩm cụ thể. Một câu chuyện thành công của hợp tác xã ứng dụng truy xuất nguồn gốc, đưa sản phẩm lên sàn thương mại điện tử hoặc sử dụng dữ liệu để quản lý sản xuất có sức thuyết phục lớn hơn nhiều so với việc chỉ trình bày lý thuyết. Do đó, cần lấy mô hình thực tiễn làm “đơn vị truyền thông”, lấy kết quả sản xuất, doanh thu, thị trường và hiệu quả quản trị làm minh chứng cho giá trị của chuyển đổi số.

Năm là, phải xem người đứng đầu hợp tác xã là chủ thể then chốt của quá trình tuyên truyền. Nhận thức của người đứng đầu có ảnh hưởng trực tiếp đến việc chuyển hóa chủ trương thành quyết định quản trị. Nếu người đứng đầu hiểu đúng, có quyết tâm và biết tổ chức thực hiện thì chuyển đổi số có thể lan tỏa đến toàn bộ hợp tác xã.

3. Một số giải pháp

Thứ nhất, đổi mới nội dung tuyên truyền lấy nhu cầu chuyển đổi của hợp tác xã làm trung tâm.

Nội dung tuyên truyền phải được thiết kế trên cơ sở những vấn đề mà hợp tác xã thực sự cần giải quyết: quản trị số, kế toán và quản lý thành viên, quản lý vùng nguyên liệu, truy xuất nguồn gốc, thương mại điện tử, thanh toán số, quảng bá sản phẩm, xây dựng thương hiệu và kết nối chuỗi giá trị. Cần bảo đảm sự thống nhất giữa ba tầng nội dung: chủ trương, chính sách; kiến thức và kỹ năng; mô hình thực tiễn.

Thứ hai, phân tầng đối tượng và thiết kế chương trình tuyên truyền theo năng lực số.

Đối với nhóm cán bộ lãnh đạo, cần tập trung vào tư duy chiến lược và năng lực quản trị. Đối với cán bộ chuyên môn, ưu tiên kỹ năng sử dụng công cụ số. Đối với thành viên sản xuất, chọn những công cụ đơn giản, dễ sử dụng và gắn trực tiếp với hoạt động sản xuất, kinh doanh. Đối với hợp tác xã có năng lực tốt, tuyên truyền cần hướng tới dữ liệu, tự động hóa, thương mại điện tử và liên kết chuỗi. Đối với nhóm còn hạn chế, cần bắt đầu từ những bước nhỏ, dễ thực hiện và có khả năng duy trì.

Thứ ba, đa dạng hóa phương thức tuyên truyền kết hợp trực tiếp, truyền thống và nền tảng số.

Hội nghị và tập huấn trực tiếp vẫn giữ vai trò quan trọng, nhất là đối với nội dung cần thực hành. Tuy nhiên, cần kết hợp với video ngắn, infographic, tài liệu trực quan, nhóm Zalo, Facebook, cổng thông tin điện tử và các nền tảng số phù hợp. Đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số, cần chú ý đến ngôn ngữ, văn hóa, người có uy tín và phương thức truyền thông cộng đồng.

Thứ tư, xây dựng hệ thống mô hình điển hình về hợp tác xã chuyển đổi số.

Cần lựa chọn những hợp tác xã có kết quả rõ ràng trong ứng dụng công nghệ số để xây dựng thành mô hình tuyên truyền. Mỗi mô hình cần được chuẩn hóa thành một câu chuyện có thể trả lời các vấn đề: hợp tác xã xuất phát từ đâu; khó khăn ban đầu là gì; đã lựa chọn công nghệ nào; chi phí ra sao; đã nhận hỗ trợ gì; kết quả đạt được như thế nào; bài học có thể nhân rộng là gì.

Thứ năm, nâng cao chất lượng đội ngũ làm công tác tuyên truyền chuyển đổi số.

Đội ngũ tuyên truyền viên cần được bồi dưỡng đồng thời hai nhóm năng lực: năng lực về chuyển đổi số và năng lực truyền thông. Cần hình thành đội ngũ tuyên truyền viên tại cơ sở, phát huy vai trò của cán bộ Liên minh Hợp tác xã, cán bộ khuyến nông, cán bộ khoa học công nghệ, doanh nghiệp công nghệ, người có uy tín trong cộng đồng và những thành viên hợp tác xã đã thực hiện chuyển đổi số thành công.

Thứ sau, gắn tuyên truyền với hệ sinh thái hỗ trợ chuyển đổi số.

Tuyên truyền chỉ thực sự phát huy tác dụng khi đối tượng có điều kiện thực hiện điều đã được tuyên truyền. Cần gắn công tác tuyên truyền với hạ tầng viễn thông, đào tạo nhân lực, tín dụng, khoa học công nghệ, logistics, thương mại điện tử và xúc tiến thương mại. Sau mỗi chương trình tuyên truyền cần có cơ chế hỗ trợ tiếp nối. Đây cũng là giải pháp nhằm thực hiện nhiệm vụ thứ ba: “Tăng cường đầu tư, hoàn thiện hạ tầng cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia” (Chính phủ, 2025, tr.5) được xác định trong Nghị quyết số 03/NQ-CP ngày 09/01/2025 về Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Chính phủ.

Thứ bảy, đổi mới tiêu chí đánh giá hiệu quả tuyên truyền.

Hiệu quả tuyên truyền không nên chỉ được đánh giá bằng số lượng hội nghị tổ chức, số người tham dự, số tài liệu phát hành. Cần chuyển sang đánh giá theo chuỗi: tiếp cận thông tin; thay đổi nhận thức; thay đổi thái độ; hình thành kỹ năng; thay đổi hành vi; tạo ra kết quả trong hoạt động của hợp tác xã. Xây dựng các chỉ số cụ thể như tỷ lệ cán bộ quản lý hiểu đúng bản chất chuyển đổi số, số thành viên sử dụng công cụ số, số hợp tác xã áp dụng truy xuất nguồn gốc, số sản phẩm được quảng bá và tiêu thụ trên nền tảng số.

4. Kết luận

Chuyển đổi số đang tạo ra những thay đổi căn bản đối với phương thức tổ chức sản xuất, quản trị và tiếp cận thị trường của khu vực kinh tế tập thể, vì vậy Chỉ thị số 19/CT-TTg ngày 03/6/2023 của Thủ tướng Chính phủ về đẩy mạnh chuyển đổi số trong khu vực kinh tế hợp tác, hợp tác xã đã xác định: “Chuyển đổi số trong khu vực kinh tế hợp tác, hợp tác xã gắn kết chặt chẽ với các chiến lược, chính sách về chủ động tham gia Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4, định hướng phát triển kinh tế số và chuyển đổi số quốc gia; huy động mọi nguồn lực, phát triển theo tinh thần bắt kịp, tiến cùng với các khu vực kinh tế khác” (Thủ tướng Chính phủ, 2023). Đối với các tỉnh miền núi phía Bắc, yêu cầu này có ý nghĩa đặc biệt, bởi chuyển đổi số không chỉ nhằm nâng cao năng suất và sức cạnh tranh của hợp tác xã mà còn góp phần khắc phục những hạn chế do địa hình chia cắt, thị trường phân tán, khoảng cách thông tin và sự chênh lệch về điều kiện phát triển giữa các địa bàn.

Trong quá trình đó, tuyên truyền giữ vai trò mở đường bởi mọi sự thay đổi về phương thức quản trị và sản xuất trước hết đòi hỏi sự thay đổi về nhận thức, niềm tin và năng lực hành động của con người. Tuy nhiên, trước yêu cầu mới, công tác tuyên truyền chuyển đổi số không thể tiếp tục chủ yếu theo phương thức truyền đạt một chiều, đại trà và thiên về cung cấp thông tin. Đổi mới phải bắt đầu từ việc xác định lại đối tượng, mục tiêu và phương thức tác động; chuyển từ tuyên truyền về chuyển đổi số sang tuyên truyền để hợp tác xã có khả năng chuyển đổi số.

Trọng tâm đổi mới là chuyển từ tuyên truyền công nghệ sang tuyên truyền giá trị; từ đại trà sang phân tầng; từ truyền đạt sang tương tác và thực hành; từ phổ biến chủ trương sang hình thành năng lực; từ tuyên truyền độc lập sang gắn với hệ sinh thái hỗ trợ; đồng thời, lấy sự thay đổi thực tế trong quản trị, sản xuất, kinh doanh và thị trường của hợp tác xã làm thước đo cuối cùng. Chỉ khi đó, tuyên truyền mới thực sự trở thành một bộ phận cấu thành của quá trình chuyển đổi số, thay vì chỉ là hoạt động hỗ trợ bên ngoài.

Đối với các tỉnh miền núi phía Bắc, yêu cầu này cần được triển khai trên cơ sở tôn trọng đặc điểm địa bàn, văn hóa, dân cư và năng lực của từng nhóm thành viên. Kết hợp hài hòa giữa phương thức trực tiếp và nền tảng số, giữa truyền thống và hiện đại, giữa tuyên truyền và hướng dẫn thực hành, giữa nguồn lực nhà nước và nguồn lực xã hội sẽ tạo điều kiện để chuyển đổi số từng bước đi vào hoạt động thực chất của hợp tác xã. Quan trọng hơn, công tác tuyên truyền không chỉ góp phần nâng cao nhận thức mà còn có thể trở thành động lực thúc đẩy đổi mới mô hình hoạt động, nâng cao giá trị sản phẩm, mở rộng thị trường và phát triển kinh tế tập thể theo hướng hiệu quả, bền vững trong giai đoạn mới.

Tài liệu tham khảo:
Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Chính phủ (2025). Nghị quyết số 03/NQ-CP ngày 09/01/2025 về Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW.
Hồ Chí Minh (2011). Toàn tập (Tập 5). Nxb Chính trị quốc gia.
Quốc hội (2023). Luật Hợp tác xã năm 2023.
Thủ tướng Chính phủ (2023). Chỉ thị số 19/CT-TTg ngày 03/6/2023 về đẩy mạnh chuyển đổi số trong khu vực kinh tế hợp tác, hợp tác xã.