Regulations banning tobacco product displays at points of sale: experiences from selected countries and policy implications for Vietnam
TS. Nguyễn Thu Hương
Trường Đại học Thương mại
Email: huongnt.t@tmu.edu.vn
ThS. Hoàng Thanh Giang
Trường Đại học Thương mại
Email: thanhgianghoang@tmu.edu.vn
(Quanlynhanuoc.vn) – Dự thảo sửa đổi Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá theo hướng cấm hoàn toàn trưng bày thuốc lá tại điểm bán là yêu cầu tất yếu nhằm hạn chế tác động của hoạt động tiếp thị đến hành vi tiêu dùng, bảo vệ sức khỏe cộng đồng và nâng cao hiệu quả kiểm soát thuốc lá. Trưng bày thuốc lá dẫn đến hậu quả làm bình thường hóa việc sử dụng thuốc lá, kích thích người dùng mua ngoài dự định và gây khó khăn cho quá trình cai thuốc. Vì vậy, cần thiết lập quy định cấm toàn diện, xác định rõ ranh giới giữa thông tin giao dịch trung tính và hành vi quảng bá, đồng thời hoàn thiện cơ chế giám sát, xử lý vi phạm. Việc triển khai đồng bộ các giải pháp là điều kiện quan trọng để bảo đảm tính nhất quán, hiệu lực và hiệu quả của chính sách phòng, chống tác hại của thuốc lá tại Việt Nam.
Từ khóa: Cấm trưng bày thuốc lá; phòng chống tác hại của thuốc lá; WHO FCTC.
1. Đặt vấn đề
Trong bối cảnh các hình thức quảng cáo thuốc lá trên truyền hình, báo chí, pano và thông qua tài trợ đã bị cấm, việc trưng bày sản phẩm tại điểm bán trở thành một kênh truyền thông thương hiệu quan trọng của ngành công nghiệp thuốc lá. Hướng dẫn thực thi Điều 13 Công ước khung của WHO về kiểm soát thuốc lá (WHO FCTC) xác định rằng bản thân việc trưng bày sản phẩm thuốc lá tại điểm bán đã cấu thành hành vi quảng cáo và khuyến mại (COP3, 2008).
Tại Việt Nam, Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá hiện hành quy định mỗi điểm bán lẻ chỉ được trưng bày không quá một bao, một tút hoặc một hộp của mỗi nhãn hiệu thuốc lá. Tuy nhiên, quy định này vẫn cho phép các điểm bán trưng bày nhiều nhãn hiệu cùng lúc, tạo thành những khu vực quảng bá thương hiệu ngay tại quầy thu ngân. Cách thức trưng bày này khiến người tiêu dùng, trong đó có trẻ em thường xuyên tiếp xúc với hình ảnh sản phẩm thuốc lá. Bộ Y tế nhận định, việc cho phép trưng bày sản phẩm như vậy tương đương với việc cho phép quảng cáo thuốc lá tại điểm bán, qua đó tạo ra sự thiếu nhất quán với quy định cấm quảng cáo của Luật và cam kết của Việt Nam theo Điều 13 WHO FCTC.
Trước thực trạng đó, dự thảo lần thứ ba Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá đề xuất cấm cơ sở bán buôn, bán lẻ trưng bày thuốc lá dưới mọi hình thức, thông qua quy định tại khoản 2a mới của Điều 9 và định nghĩa tại khoản 10 Điều 2. Đề xuất này thể hiện định hướng tăng cường kiểm soát hoạt động tiếp thị thuốc lá tại điểm bán. Tuy nhiên, kinh nghiệm về phòng, chống thuốc lá của một số quốc gia cho thấy, hiệu quả của lệnh cấm không chỉ phụ thuộc vào phạm vi điều chỉnh của quy định pháp luật mà còn chịu tác động từ các “chiến thuật” lách luật của ngành công nghiệp thuốc lá nhằm làm suy yếu chính sách trước và sau khi luật được thông qua (Matthes BK, Evans-Reeves K, Gatehouse T, Hiscock R, Fitzpatrick I, et al., 2026).
Việc hoàn thiện quy định cấm trưng bày thuốc lá tại điểm bán ở Việt Nam cần dựa trên bằng chứng về tác động của hoạt động này đối với người tiêu dùng, hiệu quả thực thi chính sách tại các quốc gia khác về hoạt động này và những phản ứng của ngành công nghiệp thuốc lá trước lệnh cấm. Vì vậy, nghiên cứu tập trung phân tích tác động tiếp thị của việc trưng bày thuốc lá tại điểm bán, tổng hợp bằng chứng quốc tế về hiệu quả của lệnh cấm và nhận diện các hình thức can thiệp nhằm né tránh hoặc làm suy giảm hiệu lực của chính sách của các công ty thuốc lá. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đối chiếu các bằng chứng với dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá, qua đó xác định những nội dung cần tiếp tục hoàn thiện nhằm bảo đảm tính chặt chẽ của quy định và nâng cao hiệu quả thực thi tại Việt Nam.
2. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp tổng quan tài liệu có chủ đích kết hợp với phân tích văn bản chính sách và phù hợp với mục tiêu tổng hợp nhanh các bằng chứng quốc tế hiện có để phục vụ góp ý cho dự thảo Luật.
Tài liệu được tìm kiếm từ tháng 8/2026 – 10/2026 trên PubMed, Google Scholar, các tạp chí chuyên ngành (Tobacco Control, Addiction, Health Education Research, Globalization and Health), cơ sở dữ liệu của Công ước Khung về kiểm soát thuốc lá (WHO FCTC) và cơ sở dữ liệu Tobacco Tactics của Đại học Bath.
Tài liệu được ưu tiên lựa chọn khi đáp ứng một trong ba tiêu chí: (1) Đo lường tác động của việc tiếp xúc với kệ trưng bày đến nhận thức hoặc hành vi hút thuốc; (2) Đánh giá kết quả sau khi một quốc gia hoặc vùng lãnh thổ cấm trưng bày; (3) Ghi nhận phản ứng của ngành thuốc lá đối với lệnh cấm. Trong mỗi nhóm, nghiên cứu có thiết kế mạnh hơn (phân tích gộp, nghiên cứu theo dõi, nghiên cứu đa quốc gia) được ưu tiên.
Dữ liệu được phân tích theo 3 bước, tương ứng với 3 mục tiêu nghiên cứu
Bước 1: Khung marketing. Xếp các bằng chứng về tác động của trưng bày theo các giai đoạn trong hành vi người tiêu dung như: nhận biết, hình thành thái độ, quyết định mua và duy trì sử dụng.
Bước 2: Khung “Cẩm nang thực thi chính sách” (Policy Implementation Playbook). Phân loại phản ứng của ngành thuốc lá theo năm chiến thuật do Matthes và ctg. (2026) xây dựng từ 308 nguồn tài liệu tại khoảng 50 quốc gia Matthes BK, Evans-Reeves K, Gatehouse T, Hiscock R, Fitzpatrick I, et al., 2026).
Bước 3: Phân tích văn bản. Đối chiếu các quy định về trưng bày trong bản thuyết minh dự thảo Luật với Hướng dẫn thực thi Điều 13 WHO FCTC và với các “chiến thuật” lách luật của ngành thuốc lá đã xác định ở bước 2 để chỉ ra điểm mạnh và các rủi ro có thể có trong đề xuất chính sách hiện nay.
3. Kết quả nghiên cứu
3.1. Trưng bày tác động đến người tiêu dùng qua năm cơ chế marketing
Trong marketing bán lẻ, điểm bán là nơi diễn ra quyết định mua cuối cùng, và trưng bày là công cụ truyền thông thương hiệu trực tiếp nhất tại chỗ. Với một sản phẩm gây nghiện, công cụ này tác động đến cả người chưa hút, người đang hút và người đang cố bỏ. Bằng chứng tổng hợp cho thấy năm cơ chế (Bảng 1).
Bảng 1. Cơ chế tác động của trưng bày thuốc lá đến người tiêu dùng
| Cơ chế marketing | Tác động đến người tiêu dùng | Bằng chứng |
| Tạo nhận biết và ghi nhớ thương hiệu | Bao bì xếp lặp lại thành mảng màu khiến thương hiệu trở nên quen thuộc, kể cả với trẻ em đi mua hàng hằng ngày | Học sinh lớp 9 chỉ cần xem ảnh quầy có bày bao thuốc đã nhớ thương hiệu nhiều hơn (Wakefield M, Germain D, Durkin S, Henriksen L, 2006); tiếp xúc thường xuyên với quảng bá tại điểm bán có liên quan với việc trẻ đã từng thử hút thuốc (tỷ số chênh OR = 1,61) (Robertson L, Cameron C, McGee R, Marsh L, Hoek J, 2015). |
| Bình thường hóa sản phẩm và tạo cảm giác “dễ mua” | Thuốc lá đặt cạnh kẹo, nước ngọt được nhìn nhận như hàng tiêu dùng thông thường | Học sinh xem ảnh quầy có bày thuốc cho rằng mua thuốc lá dễ hơn so với nhóm xem quầy không bày (Wakefield M, Germain D, Durkin S, Henriksen L, 2006). |
| Kích hoạt mua ngoài dự định | Bao thuốc đặt tại quầy thu ngân là tín hiệu nhắc mua | 25,2% người hút từng mua thuốc ngoài dự định chỉ vì nhìn thấy kệ (Wakefield M, Germain D, Henriksen L, 2007); 22% giao dịch mua thuốc là ngoài kế hoạch, và kệ tác động tới các giao dịch này nhiều gấp gần 4 lần giao dịch có kế hoạch (Carter OB, Mills BW, Donovan RJ, 2008). |
| Định hướng lựa chọn thương hiệu | Kệ là nơi giới thiệu nhãn mới, phiên bản mới, giúp hãng giữ chân và lôi kéo khách hàng | Kệ trưng bày đóng vai trò quan trọng trong việc chọn nhãn, kể cả khi không có vật phẩm quảng cáo đi kèm (Carter OB, Mills BW, Donovan RJ, 2008). |
| Cản trở cai thuốc | Hình ảnh sản phẩm là tín hiệu gợi thèm với người nghiện nicotine và người vừa bỏ thuốc | 28% người hút đồng ý rằng cấm trưng bày sẽ giúp bỏ thuốc dễ hơn (Carter OB, Mills BW, Donovan RJ, 2008); khoảng 31% người hút trong một khảo sát tại Úc cho rằng gỡ kệ sẽ giúp họ bỏ thuốc (He Y, Shang C, Huang J, Cheng KW, Chaloupka FJ, 2017). |
Như vậy, kệ hàng thực hiện đủ các chức năng của một chiến dịch quảng cáo: tạo nhận biết, xây dựng thái độ, thúc đẩy mua và duy trì sử dụng. Điều này giải thích vì sao doanh nghiệp thuốc lá dành ngân sách đáng kể cho người bán lẻ để duy trì độ hiện diện của sản phẩm (Faeq HA, Hiscock R, Alebshehy R, 2026), và vì sao điểm bán trở thành trung tâm hoạt động quảng bá ở các nước đã cấm quảng cáo trên phương tiện truyền thông (Matthes BK, Evans-Reeves K, Gatehouse T, Hiscock R, Fitzpatrick I, et al., 2026).
3.2. Lệnh cấm trưng bày làm giảm phơi nhiễm, mua ngẫu hứng và tỷ lệ hút thuốc
Tổng hợp 4 nghiên cứu đánh giá kết quả sau khi lệnh cấm trưng bày được áp dụng, với các thiết kế khác nhau: khảo sát theo dõi tại nhiều quốc gia, phỏng vấn người hút trước và sau lệnh cấm ngay tại điểm bán và phân tích dữ liệu cấp quốc gia.
Kết quả cho thấy, tác động diễn ra theo một chuỗi tương ứng với các cơ chế tác động. Trước hết, mức phơi nhiễm giảm mạnh: tỷ lệ người hút nhận thấy kệ trưng bày giảm từ 74,1% xuống 6,1% tại Canada (Li L, Borland R, Fong GT, Thrasher JF, Hammond D, Cummings KM, 2016). Tại Tây Úc giảm từ 27,1% xuống 1,1% khi tín hiệu nhắc mua tại quầy không còn, hành vi mua ngẫu hứng tại đây giảm khoảng 30% (Carter OB, Phan T, Mills BW, 2013). Điều này cho thấy, cơ chế “kích hoạt mua ngoài dự định” đã bị chấm dứt.
Ở cấp độ dân số, phân tích dữ liệu 77 quốc gia ghi nhận tỷ lệ hút thuốc hằng ngày ở người trưởng thành giảm tương đối khoảng 7% sau khi áp dụng lệnh cấm (He Y, Shang C, Huang J, Cheng KW, Chaloupka FJ., 2017). Tuy nhiên, trường hợp nghiên cứu tại Thái Lan cho thấy, các tác động này không tự duy trì, mức nhận thấy kệ tăng trở lại ở các đợt khảo sát sau khi vi phạm và hành vi lách luật gia tăng trở lại (Li L, Borland R, Yong HH, Sirirassamee B, Hamann S, Omar M, Quah AC., 2015). Cần lưu ý rằng, phần lớn các nghiên cứu này là nghiên cứu quan sát nên chưa thể loại trừ hoàn toàn tác động của các chính sách kiểm soát thuốc lá khác được áp dụng cùng thời điểm; dù vậy, sự nhất quán về chiều hướng kết quả qua nhiều bối cảnh và thiết kế nghiên cứu khác nhau làm tăng độ tin cậy của bằng chứng quốc tế.
Từ nghiên cứu các bằng chứng quốc tế có ý nghĩa trực tiếp với chính sách phòng chống tác hại thuốc lá của Việt Nam.
(1) Lệnh cấm bao phủ mọi địa điểm và mọi loại hình cửa hàng hiệu quả hơn lệnh cấm cục bộ hoặc từng phần (He Y, Shang C, Huang J, Cheng KW, Chaloupka FJ., 2018). Lệnh cấm từng phần chỉ thu hẹp kênh trưng bày chứ không xóa bỏ nó. Ngân sách tiếp thị khi đó dồn vào những điểm bán còn được phép là cách thức “chuyển kênh” đã được ghi nhận (Matthes BK, Evans-Reeves K, Gatehouse T, Hiscock R, Fitzpatrick I, et al., 2026). Tại Tây Úc, giới hạn diện tích trưng bày 1 m² vẫn đủ để xếp khoảng 150 bao thuốc lá (Carter OB, Mills BW, Donovan RJ., 2009).
(2) Kinh nghiệm Thái Lan, quốc gia châu Á đầu tiên cấm trưng bày hoàn toàn từ năm 2005 cho thấy hiệu quả có thể bị bào mòn nếu luật để ngỏ khe hở và thực thi lỏng lẻo (Li L, Borland R, Yong HH, Sirirassamee B, Hamann S, Omar M, Quah AC, 2015). Các hình thức lách được ghi nhận gồm tủ trưng bày trong suốt mang logo và màu sắc thương hiệu, cùng các quầy bán thuốc lá di động; những tủ kệ này về hình thức tuân thủ quy định nhưng vẫn đưa thương hiệu vào tầm mắt người mua (Bath University, 2025).
3.3. Ngành thuốc lá đáp trả lệnh cấm bằng năm “chiến thuật” lách luật
Tổng quan của Matthes và ctg. (2026) cho thấy, lách luật là phản ứng phổ biến nhất của ngành thuốc lá sau khi một chính sách phòng, chống tác hại của thuốc lá được thông qua. Với các quy định về quảng cáo, khuyến mại và tài trợ, hình thức lách luật phổ biến nhất là chuyển hoạt động tiếp thị sang những kênh còn được phép, bị quy định lỏng lẻo hoặc gặp khó khăn trong thực thi (Matthes BK, Evans-Reeves K, Gatehouse T, Hiscock R, Fitzpatrick I, et al., 2026). Bảng 2 tóm tắt năm kiểu lách luật đối với lệnh cấm trưng bày.
Bảng 2. Các chiến thuật của ngành công nghiệp thuốc lá nhằm ứng phó với chính sách cấm trưng bày tại điểm bán
| Chiến thuật | Biểu hiện tại điểm bán và trên môi trường số | Ví dụ |
| 1. Thích ứng phòng ngừa | Tăng hiện diện thương hiệu trước khi luật có hiệu lực: dồn quảng bá, thay đổi mặt tiền, lắp đặt tủ kệ | Nhiều quốc gia (Matthes BK, Evans-Reeves K, Gatehouse T, Hiscock R, Fitzpatrick I, et al., 2026). |
| 2. Phớt lờ quy định | Tiếp tục trưng bày, quảng bá như trước khi có lệnh cấm | Dẫn đến xử phạt, kiện tụng (Matthes BK, Evans-Reeves K, Gatehouse T, Hiscock R, Fitzpatrick I, et al., 2026). |
| 3. Tuân thủ mang tính hình thức | Tuân thủ ở mức tối thiểu: đáp ứng câu chữ nhưng không đạt mục đích của quy định | Nhiều nhóm chính sách (Matthes BK, Evans-Reeves K, Gatehouse T, Hiscock R, Fitzpatrick I, et al., 2026) |
| 4. Lách luật | Theo thiết kế (tủ, bảng giá mang dấu hiệu thương hiệu), theo kênh (môi trường số), theo sản phẩm (sản phẩm mới) | Úc, Đông Nam Á, Ba Lan, Trung Quốc (Hayrumyan V, Sargsyan Z, Petrosyan V, 2026; Bath University; 2025; Campaign for Tobacco-Free Kids, 2018; Wang F, Zheng P, Yang D, Freeman B, Fu H, Chapman S, 2014; Matthes BK, Evans-Reeves K, Gatehouse T, Hiscock R, Fitzpatrick I, et al., 2026) |
| 5. Tác động đến thực thi qua trung gian | Qua người bán lẻ (thưởng, tủ kệ, thông tin sai) và cơ quan thực thi (cách hiểu định nghĩa) | Scotland, Armenia, Úc, Hungary |
Các hình thức né tránh lệnh cấm trưng bày thuốc lá được thể hiện qua nhiều phương thức khác nhau. Trước hết, ngành công nghiệp thuốc lá tìm cách khai thác kẽ hở trong quy định bằng việc sử dụng bảng giá làm nổi bật thương hiệu tại Melbourne sau khi lệnh cấm trưng bày được áp dụng, lắp đặt tủ chiếu sáng mang màu sắc nhận diện của hãng, sử dụng tủ kính trong suốt tại Đông Nam Á hoặc viện dẫn ngoại lệ về “thông tin thương mại” tại Ba Lan. Bên cạnh đó, hoạt động quảng bá được chuyển sang các kênh truyền thông khác, đặc biệt là mạng xã hội, thông qua những người có ảnh hưởng được trả tiền tại hơn 40 quốc gia và các tài khoản Weibo của ngành công nghiệp thuốc lá tại Trung Quốc.
Một phương thức khác là tác động gián tiếp thông qua các nhà bán lẻ và nhân viên cửa hàng. Những hoạt động này bao gồm trả thưởng để duy trì tủ đựng thuốc lá của hãng tại Scotland, sử dụng ứng dụng giao nhiệm vụ và tích điểm đổi tiền cho nhân viên cửa hàng tại Armenia, cũng như cung cấp tủ, kệ và bảng giá theo thiết kế nhận diện thương hiệu. Không chỉ tác động đến hoạt động kinh doanh tại điểm bán, ngành công nghiệp thuốc lá còn tìm cách ảnh hưởng đến cách hiểu và áp dụng quy định của cơ quan thực thi. Tại Hungary, cách diễn giải do ngành thúc đẩy từng khiến cơ quan bảo vệ người tiêu dùng cho phép quảng cáo thuốc lá có thể nhìn thấy từ nơi công cộng trước khi bị tòa án bác bỏ (Hayrumyan V, Sargsyan Z, Petrosyan V, 2026; Bath University; 2025; Campaign for Tobacco-Free Kids, 2018; Wang F, Zheng P, Yang D, Freeman B, Fu H, Chapman S, 2014; Matthes BK, Evans-Reeves K, Gatehouse T, Hiscock R, Fitzpatrick I, et al., 2026).
4. Thảo luận
Về marketing, trưng bày thuốc lá tại điểm bán giúp quảng bá thương hiệu, tạo nhận biết, tác động đến thái độ và thúc đẩy hành vi mua, đặc biệt ở trẻ em và người đang cố gắng cai thuốc. Theo Hướng dẫn thực thi Điều 13 WHO FCTC, trưng bày sản phẩm thuốc lá tại điểm bán được xem là một hình thức quảng cáo và khuyến mại.
Về pháp lý, cần phân biệt ba khái niệm: quảng cáo thuốc lá là hoạt động đã bị pháp luật cấm; trưng bày thuốc lá là việc bố trí sản phẩm, bao bì hoặc dấu hiệu nhận diện thương hiệu tại điểm bán, hiện mới bị giới hạn chứ chưa bị cấm hoàn toàn (Bộ Y tế, 2026); còn thông tin giao dịch như niêm yết giá là thông tin cần thiết để thực hiện giao dịch theo quy định của pháp luật về giá (Quốc hội, 2023). Ranh giới giữa trưng bày và thông tin giao dịch có thể bị lợi dụng để duy trì hoạt động quảng bá, chẳng hạn, thông qua bảng giá làm nổi bật thương hiệu hoặc viện dẫn ngoại lệ “thông tin thương mại”. Vì vậy, quy định cấm trưng bày cần xác định rõ những thông tin giao dịch được phép cung cấp và yêu cầu thể hiện chúng theo cách trung tính, không mang tính quảng cáo. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, lệnh cấm trưng bày thuốc lá đã bị ngành công nghiệp thuốc lá thách thức tại tòa án ở một số quốc gia, nhưng trong nhiều trường hợp, tòa án vẫn giữ nguyên hiệu lực của lệnh cấm (WHO FCTC, 2003).
4.2. Những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả thực thi lệnh cấm
Kết quả ở mục 3.2 cho thấy hiệu quả của lệnh cấm không đồng nhất giữa các bối cảnh: tại Canada và Tây Úc, mức nhận thấy kệ trưng bày giảm gần như hoàn toàn (Li L, Borland R, Fong GT, Thrasher JF, Hammond D, Cummings KM., 2013; Carter OB, Phan T, Mills BW, 2013), trong khi tại Thái Lan, mức này tăng trở lại sau một thời gian (Li L, Borland R, Yong HH, Sirirassamee B, Hamann S, Omar M, Quah AC, 2015). Đối chiếu với các chiến thuật ở Bảng 2, sự khác biệt này có thể được giải thích qua 4 nhóm điều kiện.
Thứ nhất, phạm vi và độ chặt chẽ của thiết kế pháp luật. Lệnh cấm toàn quốc gắn với mức giảm tỷ lệ hút thuốc lớn hơn so với lệnh cấm từng phần (He Y, Shang C, Huang J, Cheng KW, Chaloupka FJ, 2017), và các hạn mức như ở Tây Úc vẫn để lại không gian cho những “bức tường quyền lực” (Carter OB, Mills BW, Donovan RJ, 2008). Khi định nghĩa chỉ nhắm vào sản phẩm mà không bao quát dấu hiệu nhận diện thương hiệu, lách luật theo thiết kế trở thành lựa chọn có chi phí thấp đối với doanh nghiệp. Nói cách khác, hiệu quả của lệnh cấm được quyết định một phần ngay từ khâu soạn thảo.
Thứ hai, động cơ tuân thủ của người bán lẻ. Người bán lẻ vừa là đối tượng phải tuân thủ, vừa là trung gian mà doanh nghiệp thuốc lá tác động (Matthes BK, Evans-Reeves K, Gatehouse T, Hiscock R, Fitzpatrick I, et al., 2026). Khi các khoản thưởng và hỗ trợ từ doanh nghiệp còn được phép, người bán có động cơ kinh tế để duy trì sự hiện diện của thương hiệu dưới hình thức khác, kể cả giới thiệu bằng lời, một hình thức khó phát hiện hơn nhiều so với kệ trưng bày (Stead M, Eadie D, Purves RI, Moodie C, Haw S, 2018; Faeq HA, Hiscock R, Alebshehy R, 2026). Mức tuân thủ vì vậy không chỉ phụ thuộc vào chế tài mà còn vào việc loại bỏ các động cơ ngược chiều này.
Thứ ba, năng lực giám sát và cách hiểu pháp luật của cơ quan thực thi. Trường hợp Thái Lan cho thấy khi giám sát không đủ thường xuyên, vi phạm và lách luật có thể tích tụ dần (Li L, Borland R, Yong HH, Sirirassamee B, Hamann S, Omar M, Quah AC, 2015). Trường hợp Hungary cho thấy chính cách hiểu pháp luật của cơ quan thực thi cũng có thể trở thành mục tiêu tác động. Thực thi yếu còn tạo ra luận điểm “luật không khả thi” mà ngành có thể sử dụng để phản đối các quy định tiếp theo (Matthes BK, Evans-Reeves K, Gatehouse T, Hiscock R, Fitzpatrick I, et al., 2026); các tuyên bố về chi phí tuân thủ, như trường hợp tại Anh (Faeq HA, Hiscock R, Alebshehy R, 2026), vì vậy cần được kiểm chứng độc lập.
Thứ tư, thời điểm và lộ trình áp dụng. Chiến thuật thích ứng phòng ngừa diễn ra trong giai đoạn từ khi chính sách được thông qua đến khi có hiệu lực (Matthes BK, Evans-Reeves K, Gatehouse T, Hiscock R, Fitzpatrick I, et al., 2026). Cách quản lý giai đoạn này vì vậy ảnh hưởng trực tiếp đến mức độ hiện diện thương hiệu tại thời điểm lệnh cấm bắt đầu được áp dụng.
Từ bốn nhóm điều kiện trên, có thể thấy một lệnh cấm đã được ban hành vẫn có thể bị suy giảm hiệu quả thông qua những khoảng trống trong xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật. Đây là cơ sở để xem xét các hàm ý chính sách trong xây dựng các quy định về phòng, chống tác hại của thuốc lá ở Việt Nam.
4.3. Hàm ý đối với hoàn thiện pháp luật về phòng, chống tác hại của thuốc lá tại Việt Nam, trong đó có nội dung cấm trưng bày thuốc lá
Một là, duy trì phạm vi cấm trưng bày thuốc lá toàn diện, không bổ sung ngoại lệ hoặc hạn mức trưng bày, nhằm tránh tái tạo cơ chế cấm từng phần và bảo đảm tính nhất quán của chính sách kiểm soát thuốc lá.
Hai là, quy định rõ phạm vi thông tin giao dịch trung tính được phép tại điểm bán. Theo đó, chỉ nên cho phép niêm yết danh mục sản phẩm và giá bằng chữ, thống nhất về kiểu chữ và màu sắc, không kèm hình ảnh, biểu tượng hoặc dấu hiệu thương hiệu. Quy định cần đồng thời bảo đảm yêu cầu cung cấp thông tin giá và ngăn ngừa việc biến thông tin giao dịch thành công cụ quảng bá.
Ba là, hoàn thiện định nghĩa về trưng bày thuốc lá tại khoản 10 Điều 2 theo hướng bao quát cả môi trường vật lý và môi trường số. Tiêu chí xác định hành vi vi phạm cần tập trung vào khả năng sản phẩm hoặc dấu hiệu liên quan được người tiêu dùng nhìn thấy, nhận biết, thay vì phụ thuộc vào việc chứng minh mục đích chủ quan của người vi phạm.
Bốn là, quy định cụ thể yêu cầu cất giữ thuốc lá khuất tầm nhìn tại điểm bán. Tủ hoặc ngăn chứa cần kín, không trong suốt, không chiếu sáng và không sử dụng màu sắc, biểu tượng hoặc họa tiết nhận diện thương hiệu, qua đó hạn chế khả năng tiếp thị gián tiếp thông qua cách bố trí sản phẩm và thiết bị lưu trữ.
Năm là, cấm các hình thức khuyến khích người bán lẻ và nhân viên bán hàng từ doanh nghiệp thuốc lá, bao gồm thanh toán, tiền thưởng, quà tặng, tích điểm và cung cấp tủ, kệ, bảng giá hoặc thiết bị mang dấu hiệu thương hiệu. Đồng thời, cần xác định rõ trách nhiệm của doanh nghiệp sản xuất, nhập khẩu, phân phối và người bán lẻ, gắn với cơ chế xử phạt phù hợp để tránh tình trạng chuyển trách nhiệm cho chủ thể trực tiếp bán hàng.
Sáu là, củng cố cơ chế cấp phép và giám sát hoạt động kinh doanh thuốc lá. Việc duy trì giấy phép bán buôn, bán lẻ là cơ sở quản lý danh sách điểm bán, kiểm tra việc tuân thủ và xác định trách nhiệm khi xảy ra vi phạm. Hoạt động giám sát cần được tiến hành độc lập trước và sau khi Luật có hiệu lực, bao gồm khảo sát điểm bán vật lý và rà soát môi trường số nhằm phát hiện sớm các hình thức lách luật.
Bảy là, tổ chức thực thi đồng bộ ngay từ giai đoạn chuẩn bị chính sách, không tạo khoảng trống chuyển tiếp cho hoạt động quảng bá thích ứng. Cần giám sát chặt chẽ thời gian từ khi Luật được thông qua đến khi có hiệu lực, đồng thời thực hiện nghiêm nguyên tắc tại Điều 5.3 WHO FCTC thông qua công khai các cuộc tiếp xúc giữa cơ quan nhà nước với ngành công nghiệp thuốc lá và các tổ chức đại diện người bán lẻ được ngành hỗ trợ. Đây là cơ sở hạn chế xung đột lợi ích, bảo đảm tính độc lập của quá trình xây dựng và thực thi chính sách.
4.4. Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo
Nghiên cứu có bốn hạn chế chính. (1) Đây là tổng quan có chủ đích, không phải tổng quan hệ thống, nên có thể chưa bao quát hết các nghiên cứu liên quan. (2) Phần lớn bằng chứng đến từ các nước thu nhập cao như Úc, Canada, Anh, trong khi hệ thống bán lẻ thuốc lá tại Việt Nam có nhiều cửa hàng nhỏ, độc lập nên mức tác động và độ khó trong thực thi chính sách có thể khác. (3) Phần lớn các nghiên cứu được tổng hợp là nghiên cứu quan sát, nên khả năng suy luận hệ quả còn hạn chế. (4) Hiện chưa có dữ liệu thực nghiệm về hành vi trưng bày thuốc lá trên không gian số và hiệu quả của các biện pháp kiểm soát tương ứng.
Từ các hạn chế trên, các nghiên cứu tiếp theo nên tập trung vào: (1) Khảo sát nền về tình trạng trưng bày tại điểm bán trước khi Luật có hiệu lực, làm cơ sở cho đánh giá trước – sau khi ban hành Luật; (2) Giám sát và phân tích nội dung thuốc lá trên môi trường số; (3) Tìm hiểu các hình thức khuyến khích trưng bày mà doanh nghiệp thuốc lá áp dụng đối với người bán lẻ tại Việt Nam nhằm quảng cáo hình ảnh thuốc lá để có hình thức cấm và xử phạt đối với hành vi vi phạm.
5. Kết luận
Trưng bày thuốc lá tại điểm bán có chức năng quảng bá rõ rệt đối với người tiêu dùng, và bằng chứng quốc tế cho thấy, lệnh cấm trưng bày có liên quan với mức giảm phơi nhiễm, giảm mua ngẫu hứng trong tỷ lệ hút thuốc hằng ngày ở người trưởng thành. Tuy nhiên, đóng góp chính của nghiên cứu là chỉ ra một lệnh cấm đã được ban hành vẫn có thể bị suy giảm hiệu quả thông qua các khoảng trống trong thực thi pháp luật mà ngành thuốc lá có những “động thái” chủ động khai thác. Tại Việt Nam, hiệu quả của lệnh cấm trong dự thảo Luật phụ thuộc vào việc giữ phạm vi cấm toàn diện, phân định rõ thông tin giao dịch trung tính và chuẩn bị đồng thời các công cụ thực thi chính sách kèm theo cơ chế kiểm tra, giám sát và phòng ngừa sự can thiệp của ngành thuốc lá hiện nay.
Tài liệu tham khảo:
Bộ Y tế (02/9/2026). Bản thuyết minh quy phạm hóa chính sách của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá (hồ sơ dự thảo lần 3 công bố lấy ý kiến). https://gatewayduthaoonline.quochoi.vn/uploadFiles/host/local/2026/9/8/18/5356182860fe4c69bf2f7db39c05a98c.pdf
Campaign for Tobacco-Free Kids (2018). Where there’s smoke. https://www.tobaccofreekids.org/press-releases/2018_08_27_ftc
Carter, O. B., Mills, B. W., & Donovan, R. J. (2009). The effect of retail cigarette pack displays on unplanned purchases: Results from immediate postpurchase interviews. Tobacco Control, 18(3), 218–221. https://doi.org/10.1136/tc.2008.027870
Carter, O. B., Phan, T., & Mills, B. W. (2015). Impact of a point-of-sale tobacco display ban on smokers’ spontaneous purchases: Comparisons from postpurchase interviews before and after the ban in Western Australia. Tobacco Control, 24(e1), e81-e86. https://doi.org/10.1136/tobaccocontrol-2013-050991
Faeq, H. A., Hiscock, R., & Alebshehy, R. (2026). Exposing tobacco companies’ retail presence and highlighting regulatory options. Tobacco Prevention & Cessation, 12. https://doi.org/10.18332/tpc/211478
Hayrumyan, V., Sargsyan, Z., & Petrosyan, V. (2026). Tobacco industry interference with the point-of-sale advertising, promotion, and sponsorship ban near educational facilities in Armenia. European Journal of Public Health, 36(4), ckag084. https://doi.org/10.1093/eurpub/ckag084
He, Y., Shang, C., Huang, J., Cheng, K. W., & Chaloupka, F. J. (2018). Global evidence on the effect of point-of-sale display bans on smoking prevalence. Tobacco Control, 27, e98-e104. https://doi.org/10.1136/tobaccocontrol-2017-053996
Hội nghị các Bên tham gia WHO FCTC (COP3, 2008). Hướng dẫn thực thi Điều 13 – Quảng cáo, khuyến mại và tài trợ thuốc lá.
Li, L., Borland, R., Fong, G. T., Thrasher, J. F., Hammond, D., & Cummings, K. M. (2013). Impact of point-of-sale tobacco display bans: Findings from the International Tobacco Control Four Country Survey. Health Education Research, 28(5), 898-910. https://doi.org/10.1093/her/cyt058
Li, L., Borland, R., Yong, H. H., Sirirassamee, B., Hamann, S., Omar, M., & Quah, A. C. (2015). Impact of point-of-sale tobacco display bans in Thailand: Findings from the ITC Southeast Asia Survey. International Journal of Environmental Research and Public Health, 12(8), 9508–9522. https://doi.org/10.3390/ijerph120809508
Matthes, B. K., Evans-Reeves, K., Gatehouse, T., Hiscock, R., Fitzpatrick, I., et al. (2026). The policy implementation playbook: A cross-policy taxonomy of post-adoption tobacco industry tactics. Global Health, 22, 53. https://doi.org/10.1186/s12992-026-01220-0
Quốc hội (2023). Luật Giá năm 2023.
Robertson, L., Cameron, C., McGee, R., Marsh, L., & Hoek, J. (2016). Point-of-sale tobacco promotion and youth smoking: A meta-analysis. Tobacco Control, 25(e2), e83-e89. https://doi.org/10.1136/tobaccocontrol-2015-052586
Stead, M., Eadie, D., Purves, R. I., Moodie, C., & Haw, S. (2018). Tobacco companies’ use of retailer incentives after a ban on point-of-sale tobacco displays in Scotland. Tobacco Control, 27(4), 414-419. https://doi.org/10.1136/tobaccocontrol-2017-053724
Tobacco Tactics, University of Bath. (2025). Shaping retail: Undermining national regulations. https://www.tobaccotactics.org/article/shaping-retail-undermining-national-regulations/
Tổ chức Y tế Thế giới (2003). Công ước khung của WHO về kiểm soát thuốc lá (WHO FCTC), Điều 15.7.
Wakefield, M., Germain, D., Durkin, S., & Henriksen, L. (2006). An experimental study of effects on schoolchildren of exposure to point-of-sale cigarette advertising and pack displays. Health Education Research, 21(3), 338-347. https://doi.org/10.1093/her/cyl005
Wakefield, M., Germain, D., & Henriksen, L. (2008). The effect of retail cigarette pack displays on impulse purchase. Addiction, 103, 322–328. https://doi.org/10.1111/j.1360-0443.2007.02062.x
Wang, F., Zheng, P., Yang, D., Freeman, B., Fu, H., & Chapman, S. (2014). Chinese tobacco industry promotional activity on the microblog Weibo. PLOS ONE, 9(6), e99336. https://doi.org/10.1371/journal.pone.0099336
WHO FCTC Knowledge Hub. Challenges in domestic courts to retail display bans (Article 13). https://extranet.who.int/fctcapps/fctcapps/fctc/kh/legalchallenges/challenges-domestic-courts-retail-display-bans-who-fctc-article-13



