Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của Nhân dân trong xây dựng Đảng và sự vận dụng trong thực tiễn xây dựng Đảng bộ tỉnh Ninh Bình hiện nay

Ho Chi Minh’s thought on the role of the people in party building and its practical application to building the current Ninh Binh provincial party committee

NCS Trần Thị Huyền Nga
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Email: huyenngacttc@gmail.com

(Quanlynhanuoc.vn) – Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, quần chúng Nhân dân là cơ sở xã hội của Đảng, tham gia góp ý về đường lối, xây dựng đội ngũ cán bộ và giám sát nhằm kiểm soát quyền lực. Thực tiễn vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp tại tỉnh Ninh Bình đã khẳng định hiệu quả của vai trò của Nhân dân trong xây dựng Đảng, tạo chuyển biến tích cực trên các mặt công tác chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và công tác cán bộ. Để xây dựng Đảng bộ tỉnh trong sạch, vững mạnh, cần tiếp tục đề cao tính nêu gương, hoàn thiện thiết chế dân chủ ở cơ sở, đổi mới công tác dân vận số và chăm lo đời sống của Nhân dân.

Từ khóa: Tư tưởng Hồ Chí Minh; xây dựng, chỉnh đốn Đảng; vai trò của Nhân dân; mô hình chính quyền địa phương hai cấp; Đảng bộ tỉnh Ninh Bình.

Abstract: According to Ho Chi Minh’s ideology, the masses are the Party’s social foundation; they provide input on policy directions, build the cadre corps, and exercise oversight to keep power in check. The practical implementation of the two-tier local government model in Ninh Binh Province has confirmed the effectiveness of the people’s role in Party building, bringing about positive changes in political, ideological, ethical, organizational, and cadre work. To build a clean and strong provincial Party committee, it is necessary to continue emphasizing the importance of setting a good example, improving grassroots democratic institutions, innovating digital mass mobilization efforts, and caring for people’s livelihoods.

Keywords: Ho Chi Minh’s thought; party building and rectification; role of the people; two-tier local government model; Ninh Binh Provincial Party Committee.

1. Đặt vấn đề

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Phải dựa vào Nhân dân mà xây dựng Đảng. Tức là, hết lòng ra sức phụng sự Nhân dân, tin tưởng vào lực lượng của Nhân dân, học hỏi Nhân dân, liên hệ chặt chẽ với Nhân dân và không một phút nào xa rời Nhân dân, cùng Nhân dân kết thành một khối” (Hồ Chí Minh, 2011d, tr.281). Nhân dân vừa là nền tảng xã hội quyết định vai trò cầm quyền của Đảng, vừa là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước và là lực lượng quyết định thắng lợi của sự nghiệp cách mạng. Do đó, củng cố năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng tất yếu đòi hỏi phải thực hành dân chủ thực chất, bảo đảm quyền kiểm tra, giám sát, phản biện và tham gia xây dựng tổ chức đảng của quần chúng.

Kế thừa di huấn của Người, Đại hội XIV của Đảng khẳng định “Nhân dân là chủ thể, là trung tâm của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” (Ban Chấp hành Trung ương, 2026, tr. 382). Tại Ninh Bình, việc sắp xếp đơn vị hành chính và vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp dẫn tới quy mô địa bàn mở rộng; thẩm quyền và trách nhiệm trực tiếp của cấp ủy, chính quyền cơ sở được gia tăng, đòi hỏi cơ chế theo dõi, giám sát việc thực thi công vụ phải được thực hiện thường xuyên, chặt chẽ và sâu sát hơn. Do đó, việc dựa chắc vào Nhân dân để phát huy quyền làm chủ, tăng cường giám sát xã hội trở thành đòi hỏi khách quan, có ý nghĩa quyết định nhằm bảo đảm quyền lực được thực thi đúng mục đích, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động và phòng ngừa từ sớm, từ xa các biểu hiện suy thoái ngay từ cơ sở. Việc nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn về việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về phát huy vai trò của Nhân dân có ý nghĩa khoa học, trực tiếp phục vụ công tác xây dựng Đảng bộ tỉnh Ninh Bình trong sạch, vững mạnh toàn diện hiện nay.

2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của Nhân dân trong xây dựng Đảng

Thứ nhất, Nhân dân là nền tảng xã hội xác lập tính chính danh của cầm quyền và là nhân tố quyết định sự tồn tại, phát triển của Đảng.

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời từ sự kết hợp biện chứng giữa chủ nghĩa Mác – Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Do đó, phong trào cách mạng của quần chúng là điều kiện lịch sử tiên quyết cho sự ra đời và sự tồn tại của Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Đảng ta không phải trên trời sa xuống. Nó ở trong xã hội mà ra” (Hồ Chí Minh, 2011a, tr.297). Từ cội nguồn xã hội đó, vị thế cầm quyền của Đảng được xác lập trên cơ sở sự ủy thác chính trị của Nhân dân theo nguyên lý: “Nước ta là nước dân chủ… quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân” (Hồ Chí Minh, 2011b, tr. 226). Sự ủy thác chính trị này có nguồn gốc sâu xa từ sự thống nhất tuyệt đối về mục tiêu, lý tưởng cách mạng giữa Đảng và quần chúng Nhân dân: “Ngoài lợi ích của Tổ quốc, của giai cấp, của dân tộc, Đảng ta không có lợi ích nào khác” (Hồ Chí Minh, 2011g, tr. 334), lý do duy nhất bảo đảm sự tồn tại của Đảng là phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân. Vì vậy, sức mạnh lãnh đạo của Đảng phụ thuộc trực tiếp vào mối quan hệ gắn bó giữa Đảng với Nhân dân, đồng thời Người nghiêm khắc cảnh báo: “Rời xa dân chúng là cô độc. Cô độc thì nhất định thất bại” (Hồ Chí Minh, 2011a, tr.272).

Lấy Nhân dân làm chỗ dựa vững chắc chính là điều kiện khách quan để Đảng giữ vững bản chất giai cấp công nhân, ngăn ngừa nguy cơ quan liêu, xa rời quần chúng, qua đó làm tròn trách nhiệm lịch sử mà Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của Nhân dân” (Hồ Chí Minh, 2011h, tr. 608).

Thứ hai, Nhân dân tham gia xây dựng đường lối chính trị, củng cố tổ chức đảng và rèn luyện đạo đức của cán bộ, đảng viên.

Đường lối của Đảng chỉ bảo đảm tính khoa học khi bắt nguồn từ thực tiễn và năng lực sáng tạo của quần chúng: “Dân chúng biết giải quyết nhiều vấn đề một cách giản đơn, mau chóng, đầy đủ mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn, nghĩ mãi không ra” (Hồ Chí Minh, 2011a, tr.329). Vì vậy, việc ban hành quyết sách đòi hỏi phải thực hành dân chủ thực chất, phải “dựa vào ý kiến và kinh nghiệm của dân chúng, phải nghe theo nguyện vọng của dân chúng” (Hồ Chí Minh, 2011a, tr.327), đồng thời phải giữ vững nguyên tắc “không theo đuôi quần chúng” (Hồ Chí Minh, 2011a, tr.327). Trong tổ chức thực hiện, “Nghị quyết gì mà dân chúng cho là không hợp thì để họ đề nghị sửa chữa” (Hồ Chí Minh, 2011a, tr.338).

Về công tác tổ chức và cán bộ, Người nhấn mạnh: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc” (Hồ Chí Minh, 2011a, tr.303). Chất lượng tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ không thể hoàn thiện nếu chỉ vận hành khép kín nội bộ mà phải mở rộng dân chủ để Nhân dân tham gia phát hiện, tạo nguồn kết nạp đảng viên và nhận xét cán bộ lãnh đạo. Người xác lập nguyên tắc: “Dựa vào ý kiến của dân chúng mà sửa chữa cán bộ và tổ chức của ta” (Hồ Chí Minh, 2011a, tr.332). Về rèn luyện đạo đức, cán bộ, đảng viên phải thực hành chuẩn mực “Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” và chịu sự kiểm soát của quần chúng để “làm cho dân tin, dân phục, dân yêu” (Hồ Chí Minh, 2011a, tr.154). Uy tín của người lãnh đạo được đo lường bằng sự tín nhiệm của Nhân dân: “Những người liên lạc mật thiết với dân chúng, hiểu biết dân chúng… thì dân chúng mới tin cậy cán bộ và nhận cán bộ đó là người lãnh đạo của họ” (Hồ Chí Minh, 2011a, tr.309). Khi có khuyết điểm, phải “thật thà tự phê bình trước Nhân dân và hoan nghênh Nhân dân phê bình mình” (Hồ Chí Minh, 2011c, tr. 173).

Thứ ba, Nhân dân là chủ thể kiểm tra, giám sát, phê bình nhằm kiểm soát quyền lực và chỉnh đốn Đảng.

Trong điều kiện Đảng duy nhất cầm quyền, việc kiểm soát quyền lực đối với bộ máy và đội ngũ cán bộ là phương thức trọng yếu để ngăn ngừa suy thoái. Công tác tự kiểm tra nội bộ là quan trọng nhưng chưa đủ tính bao quát nếu thiếu sự giám sát khách quan từ phía Nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Phải tổ chức sự kiểm soát mà muốn kiểm soát đúng thì cũng phải có quần chúng giúp mới được” (Hồ Chí Minh, 2011a, tr.319). Hoạt động giám sát của Nhân dân được hiện thực hóa thông qua quyền và nghĩa vụ phê bình nhằm phòng, chống “giặc nội xâm”. Người vạch rõ: “Vì quan liêu, tham ô, lãng phí có hại cho Nhân dân, cho Chính phủ, cho đoàn thể, cho kháng chiến và kiến quốc, nên mọi người có quyền và có nghĩa vụ phải chống. Bước đầu thì chống bằng cách kiểm thảo và phê bình” (Hồ Chí Minh, 2011c, tr. 453).

Để quyền phê bình vận hành thực chất, tổ chức đảng phải bảo đảm an toàn pháp lý cho người tham gia đấu tranh: “Ai kiểm thảo đúng những người khác, sẽ được khen thưởng… Ai ngăn cản, đe dọa những người kiểm thảo mình, sẽ bị kỷ luật” (Hồ Chí Minh, 2011c, tr. 357). Ý kiến đóng góp và sự phê bình của Nhân dân là căn cứ thực tiễn để cấp ủy xử lý nghiêm minh các sai phạm, kiên quyết “tẩy bỏ những phần tử hủ hóa ra ngoài” (Hồ Chí Minh, 2011a, tr. 284). Người khẳng định, việc công khai ý kiến phê bình trên phương tiện thông tin đại chúng: “Các báo đăng bài của công nhân phê bình, thế là tốt… Như vậy, vừa bảo đảm quyền dân chủ của công nhân, vừa nâng cao tính chiến đấu” (Hồ Chí Minh, 2011h, tr.667). Dựa vào Nhân dân để kiểm tra, giám sát, phê bình và chỉnh đốn Đảng là điều kiện bảo đảm để Đảng luôn tự đổi mới, tự chỉnh đốn, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu và củng cố vững chắc niềm tin chính trị của Nhân dân đối với Đảng.

3. Vận dụng trong thực tiễn xây dựng đảng bộ tỉnh Ninh Bình hiện nay

Sau khi kiện toàn địa giới hành chính, tỉnh Ninh Bình có quy mô hơn 4,4 triệu dân với 129 đơn vị hành chính cấp xã (Ban Thường vụ Tỉnh ủy Ninh Bình, 2026a), đặt ra yêu cầu nâng cao toàn diện năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ tỉnh đối với các tổ chức đảng và hơn 243.000 đảng viên (Tỉnh ủy Ninh Bình, 2026b). Việc chính thức vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp từ ngày 01/7/2025 tạo bước chuyển quan trọng trong việc tinh gọn bộ máy, đồng thời tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của cấp ủy cấp tỉnh đối với các xã, phường. Trong bối cảnh đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với quản trị địa phương hiện đại, việc tiếp tục phát huy quyền làm chủ của Nhân dân và củng cố mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Đảng với Nhân dân càng trở thành yêu cầu cấp thiết. Quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ trương của Đảng về “Dân là gốc”, Đảng bộ tỉnh Ninh Bình đã chủ động vận dụng sáng tạo vào thực tiễn với những kết quả tích cực trên các mặt công tác.

Một là, phát huy trí tuệ của Nhân dân, tham gia đóng góp vào việc xây dựng đường lối, quyết sách phát triển địa phương.

Các cấp ủy đảng đã chủ động mở rộng môi trường thực hành dân chủ, lắng nghe và chắt lọc kinh nghiệm thực tiễn của Nhân dân. Trong đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng lấy ý kiến vào dự thảo văn kiện đại hội đảng bộ các cấp và Đại hội XIV của Đảng, toàn tỉnh đã thu hút trên 240.000 lượt cán bộ, đảng viên và Nhân dân (Tỉnh ủy Ninh Bình, 2025, tr.186) tham gia đóng góp ý kiến tâm huyết, trách nhiệm. Nguồn tri thức phong phú từ Nhân dân là cơ sở thực tiễn sinh động để Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh ban hành 12 nghị quyết chuyên đề chiến lược (Tỉnh ủy Ninh Bình, 2026c), xác lập định hướng phát triển Ninh Bình trở thành thành phố trực thuộc trung ương trước năm 2030 với tính chất là đô thị di sản thiên niên kỷ với mục tiêu tăng trưởng kinh tế bền vững (Tỉnh ủy Ninh Bình, 2025, tr.59). Sự đồng thuận xã hội cao là động lực quan trọng giúp 100% tổ chức đảng trực thuộc sớm hoàn thành xây dựng chương trình hành động thực hiện nghị quyết (Tỉnh ủy Ninh Bình, 2026a). Đồng thời, công tác giáo dục chính trị, định hướng tư tưởng được đổi mới linh hoạt trên các nền tảng số, đạt tỷ lệ tham gia trên 97%, góp phần củng cố niềm tin và sự nhất trí cao trong toàn Đảng bộ và Nhân dân (Tỉnh ủy Ninh Bình, 2026a).

Hai là, phát huy vai trò đồng hành của Nhân dân trong xây dựng, củng cố tổ chức và đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Quán triệt chủ trương của Trung ương và Tỉnh ủy về mở rộng việc lấy ý kiến nhận xét của Nhân dân nơi cư trú, các cấp ủy cơ sở đã phát huy hiệu quả tai mắt của quần chúng để phát hiện, bồi dưỡng và kết nạp 3.036 đảng viên mới trong 6 tháng đầu năm 2026 (Tỉnh ủy Ninh Bình, 2026c). Đi đôi với việc tạo nguồn đảng viên, công tác cán bộ được đổi mới căn bản theo tinh thần Nghị quyết số 17-NQ/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, xác lập nguyên tắc lấy “kết quả đầu ra và sự hài lòng của người dân” làm thước đo thực chất, định lượng phẩm chất và năng lực thực thi công vụ. Mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân tiếp tục được cụ thể hóa trong phong trào thi đua xây dựng “Chi bộ bốn tốt”, nơi quần chúng trực tiếp tham gia thẩm định, theo dõi việc tu dưỡng, rèn luyện của cán bộ, đảng viên, góp phần đưa 6.357 chi bộ trên địa bàn toàn tỉnh đạt chuẩn chất lượng (Ban Thường vụ Tỉnh ủy Ninh Bình, 2026a). Chính sự đánh giá khách quan, công tâm của Nhân dân đã trở thành công cụ kiểm soát hiệu quả, bảo đảm việc sàng lọc, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng đi vào thực chất, ngăn ngừa bệnh hình thức và củng cố vững chắc nền tảng chính trị của Đảng ngay từ địa bàn dân cư

Ba là, phát huy vai trò của Nhân dân trong giám sát, phản biện xã hội và tham gia xây dựng, chỉnh đốn Đảng bộ tỉnh.

Phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” được hiện thực hóa sinh động thông qua việc thể chế hóa các kênh tiếp nhận phản ánh và đối thoại trực tiếp giữa người đứng đầu cấp ủy, chính quyền với Nhân dân. Ngay trong năm đầu vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Thường trực Tỉnh ủy đã duy trì nghiêm túc 10 phiên tiếp dân, kịp thời lãnh đạo giải quyết dứt điểm 21 vụ việc phức tạp, qua đó củng cố vững chắc sự ổn định chính trị ở cơ sở (Ban Thường vụ Tỉnh ủy Ninh Bình, 2026b). Quyền giám sát của Nhân dân không chỉ dừng ở việc phản ánh hiện tượng mà còn trở thành kênh thông tin độc lập, tin cậy, cung cấp cơ sở thực tiễn để cấp ủy các cấp kiểm tra, xử lý nghiêm minh các trường hợp suy thoái, qua đó giữ vững kỷ cương của Đảng. Nhằm bảo đảm quyền lực kiểm soát này vận hành thực chất, HĐND tỉnh đã ban hành Nghị quyết số 36/NQ-HĐND ngày 29/4/2026 về các biện pháp bảo đảm thực hiện dân chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Ninh Bình, kết hợp cùng hệ thống điều hành thông minh (IOC) và mạng lưới dịch vụ công trực tuyến đạt tỷ lệ hài lòng từ 85% đến 90% (Ban Chỉ đạo tỉnh Ninh Bình về thực hiện dân chủ ở cơ sở, 2026). Đây chính là bước chuyển biện chứng từ giám sát truyền thống sang giám sát trong không gian số, tạo hành lang minh bạch để quần chúng thực thi quyền lực, chủ động tham gia công tác chỉnh đốn Đảng một cách thường xuyên, hiệu quả.

Bên cạnh những kết quả tích cực đã đạt được, thực tiễn phát huy vai trò của Nhân dân tham gia xây dựng Đảng trong điều kiện vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp vẫn bộc lộ một số tồn tại, hạn chế đan xen. Tính đồng bộ, nền nếp trong tổ chức đối thoại định kỳ và việc cụ thể hóa chương trình giám sát cán bộ theo Quy định số 124-QĐ/TW ngày 02/02/2018 của Ban Bí thư về giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội và Nhân dân đối với việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của người đứng đầu, cán bộ chủ chốt và cán bộ, đảng viên tại một số xã, phường chưa thực sự đồng đều, làm giảm đi tính chủ động phản biện từ cơ sở. Cùng với đó, quy trình phối hợp xử lý các tồn đọng về quản lý đất đai và tài sản công sau sắp xếp địa giới hành chính ở một số nơi còn chậm trễ, chưa kịp thời đáp ứng nguyện vọng chính đáng của cử tri. Công tác tạo nguồn phát triển đảng viên tại khu vực nông thôn và doanh nghiệp ngoài nhà nước cũng đang đặt ra nhiều thách thức về chất lượng và tiến độ. Những hạn chế này một mặt do tính chất mới mẻ, phức tạp của mô hình tổ chức đang trong quá trình hoàn thiện thể chế vận hành, mặt khác xuất phát từ nhận thức chưa toàn diện và năng lực dân vận còn hạn chế của một bộ phận cán bộ cơ sở. Thực tế đó đòi hỏi các cấp ủy Đảng phải khẩn trương đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao trách nhiệm giải trình nhằm khơi thông nguồn lực từ Nhân dân phục vụ mục tiêu phát triển bền vững của tỉnh Ninh Bình.

4. Một số giải pháp

Thứ nhất, tăng cường nhận thức chính trị của các cấp ủy và phát huy tính tiên phong, gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên theo quan điểm “Dân là gốc”.

Các cấp ủy, tổ chức đảng, đặc biệt là người đứng đầu, cần tiếp tục tuyên truyền, quán triệt sâu rộng tư tưởng Hồ Chí Minh về vị thế làm chủ của quần chúng Nhân dân, gắn kết quả lắng nghe và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân với nội dung kiểm điểm, đánh giá chất lượng tổ chức đảng và đảng viên hằng năm. Quá trình triển khai Quy định số 144-QĐ/TW của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 18-NQ/TU ngày 11/5/2026 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Ninh Bình về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác chính trị, tư tưởng trong giai đoạn hiện nay, cần chú trọng xây dựng hình mẫu người cán bộ cơ sở có bản lĩnh chính trị vững vàng, thực hành tác phong “trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm với dân”. Đây chính là cầu nối tự nhiên, bền chặt, củng cố niềm tin chính trị và khơi dậy động lực tự giác của Nhân dân trong việc đồng hành cùng Đảng bộ tỉnh.

Thứ hai, hoàn thiện các thiết chế dân chủ ở cơ sở và nâng cao hiệu quả phản hồi, trách nhiệm giải trình của hệ thống chính trị.

Cần tiếp tục cụ thể hóa Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở năm 2022 và Nghị quyết số 36/NQ-HĐND ngày 29/4/2026 của HĐND tỉnh bằng các quy trình công khai, minh bạch, tạo điều kiện thuận lợi nhất để quần chúng kịp thời tiếp cận thông tin. Cùng với đó, các cơ quan trong hệ thống chính trị cần duy trì nền nếp công tác tiếp công dân, đối thoại trực tiếp của người đứng đầu tại 129 xã, phường; đồng thời xây dựng quy chế tiếp thu, giải trình thấu đáo đối với các kiến nghị sau giám sát của Mặt trận Tổ quốc và Nhân dân, góp phần xử lý hài hòa các vấn đề dân sinh ngay từ cơ sở.

Thứ ba, đẩy mạnh đổi mới phương thức dân vận trên nền tảng số, đa dạng hóa các kênh tương tác dân chủ trực tiếp.

Bám sát Đề án nâng cao chất lượng công tác dân vận của hệ thống chính trị tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2026 – 2030, các cấp ủy cần kết hợp linh hoạt phương thức vận động truyền thống với việc ứng dụng công nghệ thông tin. Việc khai thác tiện ích của Cổng thông tin điện tử Đảng bộ tỉnh, Sổ tay đảng viên điện tử, ứng dụng Ninh Bình S và Trung tâm giám sát, điều hành thông minh (IOC) cần hướng đến việc thiết lập các kênh tiếp nhận phản ánh, sáng kiến xây dựng Đảng thuận tiện, thông suốt. Đồng thời, phát huy tối đa vai trò của 4.654 Tổ công nghệ số cộng đồng (Tỉnh ủy Ninh Bình, 2026c) trong việc hỗ trợ người dân thực hiện các quyền và nghĩa vụ công dân trên môi trường số, mở rộng không gian dân chủ công khai, thực chất.

Thứ tư, chú trọng bồi dưỡng năng lực công tác dân vận cho đội ngũ cán bộ cơ sở gắn với tiêu chí đánh giá thông qua mức độ tín nhiệm của Nhân dân.

Thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 17-NQ/TU ngày 10/4/2026 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ của hệ thống chính trị tỉnh Ninh Bình, trọng tâm là cán bộ cơ sở đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong kỷ nguyên phát triển mới, các cấp ủy cần tập trung quy hoạch, bồi dưỡng kỹ năng công tác dân vận, phương pháp tiếp xúc và giải quyết công việc với Nhân dân cho cán bộ, công chức cấp xã. Việc luân chuyển, bố trí cán bộ và thực hiện chủ trương Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch UBND cấp xã không phải là người địa phương cần gắn liền với cơ chế đánh giá cán bộ đa chiều, lấy kết quả công việc và mức độ hài lòng của quần chúng làm căn cứ quan trọng để đào tạo, bố trí, sử dụng cán bộ hợp lý, đáp ứng yêu cầu quản trị địa phương sau sắp xếp.

Thứ năm, kết hợp hài hòa nhiệm vụ xây dựng Đảng với việc giải quyết các lợi ích thiết thực, nâng cao chất lượng đời sống của Nhân dân.

Thực hiện chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về việc lấy lợi ích của quần chúng làm mục tiêu phấn đấu, Đảng bộ tỉnh cần tập trung lãnh đạo thực hiện thắng lợi 12 nghị quyết chuyên đề chiến lược, phấn đấu duy trì tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân giai đoạn 2026 – 2031 từ 11% trở lên gắn với bảo tồn di sản văn hóa và giữ gìn môi trường sinh thái (Tỉnh ủy Ninh Bình, 2026c). Trong tổ chức thực hiện, cấp ủy, chính quyền các cấp cần quan tâm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc tại các công trình, dự án phát triển kinh tế – xã hội, thực hiện đầy đủ các chính sách an sinh, phúc lợi xã hội và nâng cao thu nhập cho Nhân dân. Việc chăm lo đời sống ấm no, hạnh phúc của người dân là nền tảng thực tiễn vững chắc nhất để Nhân dân tin tưởng, tự giác tham gia xây dựng Đảng bộ tỉnh Ninh Bình ngày càng trong sạch, vững mạnh.

Như vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của Nhân dân trong xây dựng Đảng là sự kế thừa và phát triển sáng tạo lý luận Mác – Lênin về chính đảng kiểu mới, khẳng định nguyên lý có tính quy luật chi phối sự tồn tại và phát triển bền vững của Đảng cầm quyền. Thực tiễn vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp tại tỉnh Ninh Bình thời gian qua minh chứng rằng sự đồng thuận, trí tuệ và quyền làm chủ của Nhân dân chính là điểm tựa vững chắc để Đảng bộ tỉnh nâng cao năng lực lãnh đạo, tinh gọn bộ máy và phòng ngừa suy thoái ngay từ cơ sở. Việc tiếp tục hoàn thiện các thiết chế dân chủ, đổi mới phương thức dân vận số, chuẩn hóa đội ngũ cán bộ gắn với chăm lo đời sống dân sinh là yêu cầu khách quan, cấp thiết trong giai đoạn hiện nay. Dựa vững chắc vào Nhân dân để xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh toàn diện không chỉ là trách nhiệm chính trị mà còn là động lực quyết định để Đảng bộ tỉnh Ninh Bình thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng quê hương trở thành thành phố trực thuộc Trung ương, đô thị di sản văn hóa thế giới, văn minh, giàu đẹp.

Tài liệu tham khảo:
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập I). Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật.
Ban Chỉ đạo tỉnh Ninh Bình về thực hiện dân chủ ở cơ sở (2026). Báo cáo số 02-BC/BCĐ ngày 21/7/2026 của Ban Chỉ đạo tỉnh Ninh Bình về kết quả thực hiện dân chủ ở cơ sở 6 tháng đầu năm; nhiệm vụ, giải pháp 6 tháng cuối năm 2026 trên địa bàn tỉnh Ninh Bình.
Ban Thường vụ Tỉnh ủy Ninh Bình (2026a). Báo cáo số 107-BC/TU ngày 06/4/2026 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Ninh Bình: Sơ kết thực hiện Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 16/6/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về tăng cường củng cố, xây dựng tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên trong giai đoạn mới.
Ban Thường vụ Tỉnh ủy Ninh Bình (2026b). Nghị quyết số 17-NQ/TU ngày 10/4/2026 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Ninh Bình về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ của hệ thống chính trị, trọng tâm là cán bộ cơ sở đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong kỷ nguyên phát triển mới
Ban Thường vụ Tỉnh ủy Ninh Bình (2026c). Nghị quyết số 18-NQ/TU ngày 11/5/2026 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Ninh Bình về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác chính trị, tư tưởng. Tỉnh ủy Ninh Bình.
Hồ Chí Minh (2011a). Toàn tập (Tập 5). Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật.
Hồ Chí Minh (2011b). Toàn tập (Tập 6). Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật.
Hồ Chí Minh (2011d). Toàn tập (Tập 8). Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật.
Hồ Chí Minh (2011e). Toàn tập (Tập 10). Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật.
Hồ Chí Minh (2011). Toàn tập (Tập 12). Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật.
Hồ Chí Minh (2011). Toàn tập (Tập 15). Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật.
Hội đồng Nhân dân tỉnh Ninh Bình (2026). Nghị quyết số 36/NQ-HĐND ngày 29/4/2026 của Hội đồng Nhân dân tỉnh Ninh Bình về các biện pháp bảo đảm thực hiện dân chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Ninh Bình.
Tỉnh ủy Ninh Bình (2025). Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Ninh Bình lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 – 2030.
Tỉnh ủy Ninh Bình (2026a). Báo cáo số 106-BC/TU ngày 06/4/2026 của Tỉnh ủy Ninh Bình về kết quả lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ Quý I/2026 và phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm Quý II/2026.
Tỉnh ủy Ninh Bình (2026b). Báo cáo số 148-BC/TU ngày 03/6/2026 của Tỉnh ủy Ninh Bình về sơ kết 1 năm vận hành bộ máy của hệ thống chính trị và chính quyền địa phương hai cấp.
Tỉnh ủy Ninh Bình (2026c). Báo cáo số 176-BC/TU, tháng 7/2026 của Tỉnh ủy Ninh Bình về kết quả lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ 6 tháng đầu năm và phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026.