Quyền con người trong văn kiện đại hội XIII của Đảng  

(Quanlynhanuoc.vn) – Văn kiện Đại hội XIII của Đảng, trên cơ sở tổng kết thực tiễn hình thành, phát triển các quan điểm của Đảng về quyền con người trong thời kỳ đổi mới, đã đề ra những chủ trương đúng đắn cho việc giải quyết vấn đề quyền con người trong thời gian tới.

 

Ảnh minh họa.
Tổng kết thực tiễn phát triển và thực hiện các quan điểm của Đảng về quyền con người trong thời kỳ đổi mới

Trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta nhất quán tiếp cận vấn đề quyền con người (QCN) gắn với quyền dân tộc, đồng thời khẳng định chủ nghĩa xã hội là chế độ tốt nhất bảo đảm QCN cho Nhân dân Việt Nam. Trong Tuyên ngôn Độc lập ngày 02/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh, lần đầu tiên trong pháp luật quốc tế đã phát triển tư tưởng quyền “tự nhiên” của mỗi cá nhân thành quyền đương nhiên của mọi dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định, dân là chủ thì mới làm chủ và coi quyền cá nhân gắn với quyền tập thể, với quyền của toàn thể xã hội; bảo đảm quyền lợi của Nhân dân Việt Nam, đồng thời, tôn trọng quyền lợi của các dân tộc khác.

Các cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ là nhằm giành quyền độc lập, tự do cho dân tộc gắn với quyền của người dân Việt Nam. Nếu các cuộc cách mạng giải phóng dân tộc trước tiên nhằm vào việc giành quyền dân tộc thì sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội trên miền Bắc từ năm 1955 – 1975 và trên cả nước từ sau năm 1975, cốt lõi là nhằm vào việc bảo vệ, bảo đảm quyền công dân, quyền “được sống sung sướng” và luôn gắn với quyền dân tộc. QCN được ghi nhận trong các văn kiện của Đảng và trong Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước.

Từ quan điểm QCN gắn với quyền dân tộc, Đảng và Nhà nước luôn xem xét, giải quyết hài hòa, đúng đắn mối quan hệ giữa quyền dân tộc – quốc gia và quyền của các cộng đồng, giai tầng xã hội ở nước ta. Theo đó, tất cả các cộng đồng dân tộc, tôn giáo, nông dân, công nhân, trí thức, doanh nhân… đều được tôn trọng, bảo vệ, thực hiện và thúc đẩy quyền bình đẳng, tương trợ, đoàn kết…, trong quá trình bảo đảm quyền dân tộc – quốc gia tự quyết ở Việt Nam. Hồ Chí Minh yêu cầu cán bộ, đảng viên phải là “công bộc”, là tấm gương phục vụ quyền lợi của Nhân dân và đề ra nguyên tắc “trăm điều phải có thần linh pháp quyền” trong tổ chức xây dựng, vận hành chế độ dân chủ với Nhà nước của dân, do dân và vì dân, trong đó việc bảo đảm QCN là trách nhiệm trước tiên của Đảng và Nhà nước.

Đại hội VI của Đảng (năm 1986) khẳng định quan điểm xuyên suốt là: “Cùng với việc chăm lo đời sống Nhân dân, các cơ quan nhà nước phải tôn trọng và bảo đảm những quyền công dân mà Hiến pháp đã quy định”1 và “… bảo đảm quyền dân chủ thật sự của nhân dân lao động, đồng thời kiên quyết trừng trị những kẻ vi phạm quyền làm chủ của Nhân dân”2.

Trên cơ sở thực tiễn đổi mới, phù hợp với các Hiến pháp năm 1992 và 2013, các văn kiện của Đảng, Nhà nước, như Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991), Cương lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011 và trực tiếp là các Chỉ thị số 12-CT/TW ngày 12/7/1992 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về vấn đề QCN và quan điểm chủ trương của Đảng ta, Chỉ thị số 41/2004/CT-TTg ngày 02/12/2004 của Thủ tướng Chính phủ về công tác nhân quyền, Chỉ thị số 44-CT/TW ngày 20/7/2010 của Ban Bí thư về công tác nhân quyền đã  đúc kết những quan điểm cơ bản sau về QCN 3:

(1) QCN là giá trị chung của nhân loại. (2) QCN, về bản chất không có tính giai cấp, nhưng trong xã hội có phân chia giai cấp đối kháng, khái niệm về quyền con người mang tính giai cấp. (3) QCN gắn với quyền dân tộc cơ bản và thuộc phạm vi chủ quyền quốc gia. (4) QCN là mục tiêu, bản chất, động lực của chế độ xã hội chủ nghĩa. (5) Quyền dân chủ, tự do của mỗi cá nhân kết hợp hài hòa với quyền tập thể và không tách rời nghĩa vụ, trách nhiệm công dân. (6) QCN, quyền công dân được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm bằng Hiến pháp, pháp luật và trách nhiệm của Nhà nước, của tất cả các ngành, các địa phương, cơ sở là phải tích cực, chủ động thực hiện nhằm ngày càng hoàn thiện và nâng cao các QCN. (7) Chủ động, tích cực hợp tác đồng thời sẵn sàng đối thoại và kiên quyết đấu tranh trong quan hệ quốc tế vì QCN…

Công tác bảo đảm QCN trong thực tế hơn 30 năm đổi mới vừa qua đã thu được nhiều thành tựu nổi bật, như: phổ cập giáo dục tiểu học và tất cả các tỉnh, thành phố đã đạt chuẩn giáo dục trung học cơ sở từ năm 2011.  Việt Nam được quốc tế thừa nhận đã thực hiện tốt các “mục tiêu thiên niên kỷ” của Liên hiệp quốc (giai đoạn 2001 – 2015). Thực tế đổi mới cho thấy, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã và đang làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh là không quên quyền lợi của bất kỳ một cộng đồng, một giai tầng xã hội nào (hay không bỏ lại ai ở phía sau). Do đó, bất bình đẳng theo thước đo hệ số bất bình đẳng thu nhập (GINI) về tiêu dùng có tăng, nhưng ở mức tương đối thấp trong khu vực ASEAN. Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn đa chiều giảm còn khoảng còn  6,8%4. Chỉ số phát triển con người (HDI) trong năm 2017 của nước ta  đạt 0,694 và xếp thứ 116/189 quốc gia, tức là thuộc nhóm nước trung bình cao5.

Đại hội XII của Đảng (năm 2016) đã đưa nội dung QCN vào tất cả các văn kiện Đại hội, nhấn mạnh nhiệm vụ trọng tâm là tiếp tục “thực hiện quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013…”6; đồng thời, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế trên lĩnh vực QCN. Chẳng hạn, là thành viên tích cực của Ủy ban QCN nhiệm kỳ 2001 – 2003 và Hội đồng nhân quyền nhiệm kỳ 2014 – 2016; là thành viên của 7/9 công ước cơ bản về QCN và ký kết nhiều công ước về lao động và an sinh xã hội. Mới đây, thông báo Kết luận của Ban Bí thư khóa XII về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 44-CT/TW ngày 20/7/2010 về công tác nhân quyền trong tình hình mới (22/02/2018) nêu rõ: “Việc thể chế hóa đường lối của Ðảng, hệ thống pháp luật từng bước được hoàn thiện, đặc biệt là Quốc hội thông qua Hiến pháp năm 2013, đã tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc bảo vệ, thực thi quyền con người và ngăn chặn, xử lý các hành vi xâm phạm quyền con người”.

Một số chủ trương tiếp tục giải quyết vấn đề quyền con người trong thời gian tới theo Văn kiện Đại hội XIII của Đảng

Một là, các văn kiện trình Đại hội XIII xác định phải thực hiện tốt, có hiệu quả trên thực tế phương châm: ”Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”7. Do đó, phải lồng ghép, tích hợp, tìm cách tiếp cận dựa trên QCN vào cách tiếp cận chính trị – pháp lý trong Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 10 năm 2021 – 2030, cho phù hợp với thể chế Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa nhằm kịp thời ghi nhận, bảo vệ, bảo đảm những quyền mới phát sinh, như quyền an ninh và an toàn thông tin mạng, quyền kinh doanh và thanh toán trên nền tảng internet, quyền giáo dục và sinh hoạt tôn giáo, văn hóa trực tuyến, quyền riêng tư, nhất là trên mạng xã hội, quyền an toàn thân thể, danh dự, nhân phẩm của trẻ em, quyền của nhóm LGBT…

Hai là, xác lập mối quan hệ giữa “lấy con người làm trung tâm”, bảo đảm QCN và phát triển con người toàn diện. Mục tiêu  phát triển con người toàn diện đương nhiên phải xuất phát từ con người và “lấy con người làm trung tâm”. Nhưng nếu không có sự tham gia chủ động, tích cực của người dân với tư cách là người là chủ – làm chủ thì không thể “dựa vào dân” nhằm đạt được mục tiêu đó. Nói cách khác, việc “lấy con người làm trung tâm” là tất yếu, nhưng nếu con người không được bảo đảm quyền của mình, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân thì không thể “lấy dân làm gốc”, không thể phát huy được sức dân và xây dựng được con người phát triển toàn diện.

Do đó, việc bảo đảm QCN là khâu kết nối cần thiết, không thể thiếu giữa khâu “lấy con người làm trung tâm” và phát triển con người toàn diện. Một giải pháp có tính đột phá là đa dạng hóa hình thức, nội dung, phương pháp lồng ghép, tích hợp giáo dục QCN trong hệ thống giáo dục quốc dân để thực hiện phương châm lấy người học làm trung tâm nhằm thúc đẩy giáo dục con người phát triển toàn diện từ nhà trường đến ngoài xã hội.

Ba là, các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Tiếp tục cụ thể hóa, hoàn thiện thể chế thực hành dân chủ…, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân”8… Tuy nhiên, hiện nay trong phương hướng tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa chủ yếu mới tập trung vào xây dựng, hoàn thiện thể chế pháp quyền của Nhà nước mà hầu như chưa chú ý đúng mức đến việc xây dựng thể chế pháp quyền của con người, của công dân với tính chất là các quan hệ nền tảng và có tính bình đẳng với thể chế pháp quyền của Nhà nước. Do đó, để tiếp tục cụ thể hóa, hoàn thiện thực hành dân chủ, phải coi trọng việc bảo đảm trên thực tế thể chế pháp quyền có tính bình đẳng của con người, của công dân và của Nhà nước trong thể chế Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa nói chung ở Việt Nam.

Bốn là, tích cực, chủ động giải quyết những vấn đề QCN  mới nảy sinh trong thực tiễn. Chẳng hạn, vấn đề QCN được đề cập trực tiếp ngày càng nhiều hơn trong các vụ khiếu kiện đông người, điểm nóng (thay vì chỉ được giới hạn trong quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân như hiện nay); vấn đề bảo vệ, bảo đảm QCN trong hoạt động tư pháp, hay QCN của những nghi can, nghị phạm trong tạm giữ, tạm giam (vì quyền của những người đã bị kết án cơ bản đã được thể chế hóa khá rõ và ổn định); vấn đề xây dựng cơ quan nhân quyền quốc gia và sau khi đã gia nhập 7 công ước quốc tế cơ bản về QCN, tiếp tục gia nhập 2 công ước cơ bản còn lại của Liên hiệp quốc về quyền của những người lao động di trú, quyền của những người bị cưỡng bức đưa đi mất tích.

Năm là, tiếp tục xây dựng, hoàn thiện thể chế pháp quyền trong hoạt động tư pháp nhằm thực hiện công khai, minh bạch nghĩa vụ bảo đảm công lý, QCN, quyền công dân như các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng đã xác định: “Hoạt động tư pháp phải bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, đấu tranh có hiệu quả với mọi loại tội phạm và vi phạm”9.

Sáu là, tiếp tục chủ động, tích cực đối thoại, đấu tranh phòng ngừa, ngăn chặn kịp thời những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Nhân dân, nhất là trong đội ngũ cán bộ, đảng viên; mặt khác, phải tiếp tục đẩy mạnh hợp tác quốc tế nhằm thúc đẩy việc thực hiện các chính sách, pháp luật về bảo đảm QCN gắn với nâng cao hiệu quả hội nhập quốc tế. Trong quá trình đó, phải tăng cường thực hiện phương thức trong đối thoại có đấu tranh để nâng cao sự hiểu biết lẫn nhau, từng bước thu hẹp bất đồng và những sự hiểu biết khác nhau giữa Việt Nam với các đối tác quốc tế trong vấn đề dân chủ, nhân quyền; kiên quyết bảo vệ quan điểm, lập trường, lợi ích quốc gia – dân tộc và đấu tranh ngăn chặn một cách hiệu quả các hoạt động lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền để can thiệp vào công việc  nội bộ của Việt Nam.

Chú thích:
1, 2. Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI. H. NXB Sự thật, 1987, tr. 112, 117.
3.Chỉ thị số 12- CT/TW ngày 12/7/1992 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về vấn đề quyền con người và quan điểm chủ trương của Đảng ta.
4. Kết quả thực hiện các chỉ tiêu chủ yếu phát triển kinh tế – xã hội năm 2019 so với năm 2018. https://nhandan.com.vn, ngày 11/7/2020.
5. Chỉ số phát triển con người: Chiều hướng tăng đang chững lại. Tia sáng, ngày 06/01/2019.
6. Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII. H. NXB Chính trị quốc gia, 2016, tr. 169.
7, 8, 9. Đảng Cộng sản Việt Nam. Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng, tháng 4/2020, tr. 57, 57, 59.
PGS. TS. Nguyễn Thanh Tuấn
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh