Những thành tựu nổi bật từ sự lãnh đạo của Đảng phát triển kinh tế vùng Trung du và miền núi Bắc bộ giai đoạn 2004 – 2020

Trung tá, ThS. Trịnh Ngọc Bình
Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng

(Quanlynhannuoc.vn) –  Phát triển kinh tế vùng là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước trong chiến lược phát triển toàn diện đất nước. Trong tiến trình Đổi mới, Đảng đặc biệt quan tâm đến sự phát triển kinh tế các vùng lãnh thổ nhằm phát huy tiềm năng, lợi thế so sánh của mỗi vùng. Vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ là một trong sáu vùng kinh tế có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về chính trị, kinh tế, văn hoá – xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Trong giai đoạn 2004 – 2020, kinh tế của Vùng đã đạt được nhiều kết quả quan trọng có ý nghĩa cơ bản, góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam trong hội nhập quốc tế.

Từ khoá: Chủ trương; kinh tế vùng; vùng Trung du; miền núi Bắc Bộ; tăng trưởng kinh tế.

1. Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng về phát triển kinh tế vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ

Thực hiện Nghị quyết Đại hội IX (tháng 01/2001) của Đảng, ngày 01/7/2004, Bộ Chính trị (khóa IX) đã ban hành Nghị quyết 37-NQ/TW về phương hướng phát triển kinh tế – xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ đến năm 2010 (sau đây viết tắt là Nghị quyết số 37- NQ/TW). Nghị quyết đề ra quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ phát triển, gồm:

(1) Quan điểm

Một là, phát huy cao độ nội lực của vùng, đi đôi với gia tăng đầu tư của Trung ương, thu hút mạnh các nguồn lực từ các vùng khác và các nguồn tài trợ để đưa kinh tế vùng phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững1. Tập trung đầu tư vào những ngành, lĩnh vực, sản phẩm có lợi thế so sánh của vùng và từng tiểu vùng, tạo ra các mũi đột phá làm điểm tựa để phát triển những nơi có ít lợi thế. Đặc biệt coi trọng bảo vệ rừng, bảo vệ nguồn nước và môi trường sinh thái.

Hai là, phát triển kinh tế đi liền với xóa đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống nhân dân, nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số tại các vùng kháng chiến cũ, vùng nghèo, vùng khó khăn, bảo đảm công bằng xã hội; từng bước thu hẹp khoảng cách về mức sống của nhân dân trong vùng so với các vùng khác trong cả nước2. Trong đó đặc biệt coi trọng việc nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực, nhất là cán bộ dân tộc thiểu số, đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.

Ba là, đi đôi với phát triển kinh tế, luôn coi trọng giữ vững ổn định chính trị, không ngừng củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, đoàn kết giữa các đồng bào dân tộc xây dựng và củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ đất nước3.

(2) Mục tiêu đến năm 2010: “Đẩy nhịp độ phát triển kinh tế – xã hội vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ cao hơn nhịp độ phát triển chung của cả nước; cải thiện rõ rệt hệ thống hạ tầng kinh tế – xã hội đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế”4.

Đối với nhiệm vụ phát triển kinh tế: Nghị quyết đề ra mục tiêu cụ thể đối với từng ngành, lĩnh vực. Nghị quyết xác định: “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là nhiệm vụ hết sức quan trọng trong chiến lược phát triển của vùng nhằm đẩy nhanh tốc độ phát triển, phấn đấu tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hàng năm đạt 9 – 10%, đến năm 2010 GDP bình quân đầu người gấp 2,5 lần so với năm 2000; giá trị sản xuất nông – lâm nghiệp chiếm 26%, công nghiệp – xây dựng chiếm 34% và thương mại dịch vụ chiếm khoảng 40% trong tổng số GDP của vùng”5.

Triển khai thực hiện Nghị quyết số 37- NQ/TW, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 79/2005/QĐ-TTg ngày 15/4/2005 Chương trình hành động Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 37 – NQ/TW về phương hướng phát triển kinh tế – xã hội và bảo đảm phòng, an ninh vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ đến năm 2010. Chương trình hành động là sự “cụ thể hoá” mục tiêu của Nghị quyết  37- NQ/TW trên từng lĩnh vực. Chương trình hành động xác định bốn nhiệm vụ chính: “Một là, rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội. Hai là, phát triển đầu tư các dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội. Ba là, phát triển dự án sản xuất sản phẩm chủ yếu. Bốn là, hoàn thiện cơ chế chính sách”6.

Triển khai Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 37- NQ/TW, Chính phủ giao cho các bộ, ngành 37 nhiệm vụ trong việc rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội, quy hoạch phát triển ngành, gắn quy hoạch với kế hoạch năm 2006 – 2010; 20 nhiệm vụ đối với các dự án đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội; 11 nhiệm vụ đối với các dự án sản xuất sản phẩm chủ yếu và 18 nhiệm vụ trong việc hoàn thiện cơ chế chính sách. Đối với các địa phương trong vùng, Chính phủ giao 28 nhiệm vụ trong việc rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội, quy hoạch phát triển ngành, gắn quy hoạch với kế hoạch năm 2006 – 2010; 41 nhiệm vụ đối với các dự án đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội; 39 nhiệm vụ đối với các dự án sản xuất sản phẩm chủ yếu.

Trong bối cảnh đó, trên cơ sở tổng kết 6 năm thực hiện Nhị quyết số 37-NQ/TW, ngày 02/8/2012, Bộ Chính trị ra Kết luận số 26- KL/TW “về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 37-NQ/TW, ngày 01/7/2004 của Bộ Chính trị khóa IX” nhằm đẩy mạnh phát triển kinh tế – xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng trung du và miền núi Bắc Bộ đến năm 2020 (sau đây viết tắt là Kết luận số 26-KL/TW), với mục tiêu tổng quát: “Tiếp tục duy trì nhịp độ phát triển kinh tế – xã hội vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ cao hơn nhịp độ phát triển chung của cả nước; cải thiện rõ rệt và đồng bộ hệ thống hạ tầng kinh tế – xã hội đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế…, từng bước thu hẹp khoảng cách về trình độ phát triển và mức sống của người dân trong vùng so với mức bình quân chung của cả nước”7. Về phát triển kinh tế, Đảng xác định: “Nâng cao chất lượng, hiệu quả và tính bền vững của kinh tế vùng, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và an sinh xã hội, phấn đấu đến năm 2020 GDP bình quân/người đạt 2.000 USD”8.

Thực hiện Kết luận 26-KL/TW, ngày 06/9/2014, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1580/QĐ-TTg về Kế hoạch triển khai Kết luận số 26-KL/TW. Kế hoạch của Chính phủ cụ thể hóa mục tiêu theo Kết luận số 26-KL/TW của Bộ Chính trị; có điều chỉnh, bổ sung một số chỉ tiêu chủ yếu, nhiệm vụ cụ thể đã được xác định trong Nghị quyết số 37-NQ/TW phù hợp với điều kiện thực tiễn; giao nhiệm vụ cho các bộ, ngành, địa phương trong vùng. Các bộ, ngành đã chủ động xây dựng, ban hành các cơ chế, chính sách, bố trí các nguồn lực để triển khai các nhiệm vụ được giao theo Quyết định số 1580/QĐ/TTg, ngày 06/9/2014 của Thủ tướng Chính phủ; không ban hành Chương trình hành động riêng để triển khai các nhiệm vụ theo Nghị quyết, Kết luận và Chương trình, Kế hoạch của Chính phủ đã xác định. Các địa phương trong vùng căn cứ vào tình hình thực tiễn đã xây dựng Chương trình, Kế hoạch hành động nhằm cụ thể hoá các quan điểm, mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ của Kết luận vào nội dung cụ thể trong các Nghị quyết Đại hội Đảng bộ các nhiệm kỳ 2011 – 2015, 2016 – 2020; lồng ghép trong các nghị quyết chuyên đề, chương trình, đề án; phân công trách nhiệm các cấp, các ngành triển khai thực hiện.

2. Những thành tựu nổi bật về phát triển kinh tế vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ từ năm 2004 – 2020

Sau 17 năm thực hiện Nghị quyết số 37-NQ/TW và Kết luận số 26-KL/TW, vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ đã đạt được nhiều kết quả quan trọng về phát triển kinh tế.

Một là, tốc độ tăng trưởng và quy mô kinh tế của vùng không ngừng được cải thiện vượt mục tiêu nghị quyết đề ra.

Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) của vùng luôn ở mức cao và ổn định. Giai đoạn 2004 – 2010, tăng trưởng GRDP bình quân đạt 11,57%/năm, cao nhất trong sáu vùng kinh tế của cả nước. Giai đoạn 2011 – 2015, mặc dù kinh tế thế giới và trong nước gặp nhiều khó khăn, tốc độ tăng trưởng của vùng vẫn đạt 7,9%/năm. Giai đoạn 2016 – 2020, tốc độ này tiếp tục duy trì ở mức 8,41%/năm. Tính chung giai đoạn 2004 – 2020, tăng trưởng GRDP bình quân của vùng đạt 9,3%/năm9, vượt mục tiêu Nghị quyết số 37-NQ/TW và Kết luận số 26-KL/TW đề ra. Đặc biệt, trong năm 2020, khi đại dịch Covid-19 tác động tiêu cực đến toàn bộ nền kinh tế quốc dân, tăng trưởng kinh tế của cả nước chỉ đạt 2,91%, thì vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ vẫn giữ được tốc độ tăng trưởng 6,28%, cao hơn mức trung bình cả nước 3,29 điểm phần trăm và là mức cao nhất trong  sáu vùng kinh tế10. Điều này cho thấy khả năng thích ứng, sức chống chịu và phục hồi mạnh mẽ của kinh tế vùng.

Tăng trưởng theo khu vực kinh tế: khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản trong giai đoạn 2004 – 2010 tăng 5,11%, giai đoạn 2011 – 2020 tăng 4,16%/năm; công nghiệp và xây dựng giai đoạn 2004 – 2010 tăng 15,12%, giai đoạn 2011 – 2020 tăng 13,02%/năm; dịch vụ giai đoạn 2004 – 2010 tăng 22,8%, giai đoạn 2011 – 2020 tăng 6,27%/năm11. Nhìn chung, tốc độ tăng trưởng của khu vực công nghiệp và xây dựng cao nhất so với các vùng khác trong cả nước, sự tăng trưởng của ngành công nghiệp và xây dựng chủ yếu do đây là vùng giàu tài nguyên khoáng sản, trong đó có những loại có trữ lượng lớn, như: thuỷ điện chiếm 56%, apatit 100%, đồng 70%, đất hiếm chiếm gần 100% của cả nước; ngoài ra còn có nhiều đá vôi để sản xuất xi măng, sắt, chì, kẽm, thiếc… Đây là thế mạnh lớn, là cơ sở quan trọng để phát triển ngành công nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản góp phần vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa của vùng và cả nước.

Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và ổn định của vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ trong giai đoạn 2004 – 2020 đã khẳng định bước chuyển căn bản về năng lực phát triển. Từ một khu vực khó khăn, vùng đã vươn lên trở thành một trong những địa bàn có tốc độ tăng trưởng nhanh của cả nước, góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế chung, đồng thời, tạo tiền đề cho những cải thiện sâu hơn về chất lượng tăng trưởng trong giai đoạn tiếp theo.

Quy mô tổng sản phẩm (GRDP) trên địa bàn vùng năm 2020 đạt 688,9 nghìn tỷ đồng, chiếm 8,54% GDP cả nước, xếp thứ 5 về quy mô GRDP trong 6 vùng kinh tế. Theo địa phương, GRDP của tỉnh Thái Nguyên chiếm tỷ trọng cao nhất trong quy mô GRDP của vùng, chiếm 18,2%; Bắc Giang chiếm 17,6%; Phú Thọ chiếm 10,9%. Một số địa phương có tỷ lệ GRDP trong tổng GRDP của toàn vùng ở mức khá thấp như: Bắc Kạn 1,9%; Cao Bằng 2,8%; Lai Châu 2,9%; Điện Biên 3%; Hà Giang 3,7%12.

Năm 2020, tổng sản phẩm trên địa bàn bình quân đầu người của vùng theo giá so sánh đạt 54,1 triệu đồng (>2.000 USD), vượt mục tiêu Nghị quyết số 37-NQ/TW, Kết luận số 26-KL/TW đề ra (2.000 USD). Trong đó, có 5/12 tỉnh đạt trên mức bình quân là: Lào Cai 77,75 triệu đồng, Thái Nguyên 88,7 triệu đồng, Bắc Giang 65,7 triệu đồng, Phú Thọ 50,8 triệu đồng, Hòa Bình 60,34 triệu đồng13.

Hai là, cơ cấu kinh tế vùng có sự chuyển dịch tích cực theo hướng tăng dần tỷ trọng các ngành công nghiệp, xây dựng và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng các ngành nông, lâm, thuỷ sản.

Đến năm 2020, tỷ trọng nông – lâm – thủy sản trong GRDP vùng giảm còn 19,95%, giảm 6,5 điểm % so với năm 2010; công nghiệp – xây dựng tăng lên 40,41%, cao hơn 12,47 điểm %; dịch vụ chiếm 34,73%, giảm 5,25 điểm phần trăm. Cơ cấu lao động cũng có sự dịch chuyển tương ứng: tỷ lệ lao động trong nông, lâm, thủy sản giảm từ 71,3% năm 2010 xuống còn 55,4% năm 2020; lao động trong công nghiệp – xây dựng tăng từ 10,3% lên 21,8%; lao động trong dịch vụ tăng từ 18,4% lên 22,8%14. Như vậy, cơ cấu kinh tế của vùng đã có sự chuyển biến tích cực theo hướng công nghiệp hóa.

(1) Về phát triển công nghiệp. Công nghiệp vùng có sự phát triển vượt bậc, đóng vai trò động lực then chốt. Giá trị công nghiệp tăng nhanh, chiếm 10,2% giá trị công nghiệp cả nước vào năm 2020, gấp hơn ba lần so với năm 201015. Một số ngành chủ lực đã hình thành: công nghiệp điện tử, tập trung tại Thái Nguyên với sự hiện diện của tổ hợp Samsung Electronics, chiếm trên 80% giá trị công nghiệp điện tử toàn vùng. Công nghiệp khai khoáng, nổi bật là apatit ở Lào Cai (chiếm 41,4% giá trị công nghiệp khai khoáng vùng). Công nghiệp Dệt may, chủ yếu tại Bắc Giang, Phú Thọ, Thái Nguyên, chiếm tới 88,3% giá trị ngành của vùng. Ngành sản xuất vật liệu xây dựng, tập trung ở Phú Thọ, Thái Nguyên, Yên Bái, chiếm 63,2% giá trị ngành. Sự phát triển này cho thấy vùng đã trở thành trung tâm công nghiệp mới nổi của cả nước, với Thái Nguyên và Bắc Giang đóng vai trò “đầu tàu” dẫn dắt.

(2) Về phát triển nông – lâm nghiệp và thủy sản. Nông nghiệp vùng có sự chuyển dịch mạnh theo hướng hàng hóa, gắn với công nghiệp chế biến. Vùng hiện chiếm 79% diện tích chè cả nước, 23% diện tích cây ăn quả, đồng thời hình thành các thương hiệu nổi tiếng như chè Thái Nguyên, gạo Séng Cù, sữa Mộc Châu. Ngành chăn nuôi phát triển theo hướng công nghiệp và bán công nghiệp, với sự tham gia của các tập đoàn lớn (CP, DABACO, Japfa). Lâm nghiệp trở thành ngành kinh tế quan trọng, với độ che phủ rừng đạt 53,5% (2020), cao nhất cả nước, vượt mục tiêu Nghị quyết 37-NQ/TW (50%). Sản lượng gỗ khai thác từ rừng trồng tăng từ 0,8 triệu m³ (2004) lên 4,5 triệu m³ (2020)16. Những kết quả này không chỉ bảo đảm an ninh lương thực mà còn góp phần cải thiện sinh kế, giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số.

(3) Về phát triển dịch vụ. Lĩnh vực dịch vụ đã có bước khởi sắc, nhất là thương mại, xuất khẩu và du lịch. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tăng từ 20,6 nghìn tỷ đồng (2004) lên 263,9 nghìn tỷ đồng (2020), gấp hơn 12 lần. Xuất khẩu của vùng bứt phá, từ 3,3 tỷ USD (2013) lên 41,7 tỷ USD (2020), tốc độ tăng trưởng đạt 57,8%/năm, vượt xa mục tiêu Nghị quyết số 37-NQ/TW (16 -17%/năm)17. Cơ cấu xuất khẩu chuyển dịch tích cực, giảm hàng hóa dạng thô sơ, tăng sản phẩm công nghiệp chế biến: khoáng sản, nông lâm sản, hàng may mặc, hàng thủ công mỹ nghệ, điện tử…

(4) Về du lịch. Du lịch phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng, thị trường kinh doanh du lịch được mở rộng. Vùng đã thu hút được nhiều nhà đầu tư trong nước và quốc tế đến đầu tư phát triển du lịch, như: Tập đoàn Sun Group, VinGroup, Xuân Trường… Vùng đã hình thành những điểm du lịch nổi bật như: Sa Pa (Lào Cai), Mộc Châu (Sơn La), hồ Núi Cốc (Thái Nguyên), Đền Hùng (Phú Thọ) với các sản phẩm du lịch phong phú tạo ra sức hấp dẫn cho du khách như: du lịch nghỉ dưỡng – sinh thái, du lịch cộng đồng, homestay.

Ba là, những kết quả về phát triển kinh tế góp phần nâng cao năng suất lao động, tạo việc làm, cải thiện đời sống nhân dân

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, đến năm 2020, năng suất lao động  bình quân của vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ đạt 90,7 triệu đồng/người. Trong giai đoạn 2011 – 2015, tốc độ tăng năng suất lao động của vùng đạt 6,25%/năm, cao hơn mức bình quân cả nước (5,53%/năm) và chỉ thấp hơn vùng đồng bằng sông Hồng (6,35%/năm). Giai đoạn 2016 – 2020, tốc độ tăng trưởng năng suất lao động tiếp tục được cải thiện, đạt 7,77%/năm, cao hơn bình quân cả nước (6,43%/năm) và chỉ đứng sau đồng bằng sông Hồng (8,27%/năm). Tính chung giai đoạn 2011 – 2020, tốc độ tăng năng suất lao động của vùng đạt 7,01%/năm18, xếp thứ hai trong sáu vùng kinh tế – xã hội của cả nước, chỉ sau đồng bằng sông Hồng (7,31%/năm). Trong đó, một số địa phương có tốc độ tăng trưởng năng suất lao động nổi bật gồm: Bắc Giang (10,12%/năm), Thái Nguyên (9,59%/năm), Lai Châu (7,52%/năm), Lào Cai (7,35%/năm) và Phú Thọ (6,68%/năm). Ngược lại, một số tỉnh có mức tăng thấp, như: Hà Giang (4,55%/năm), Lạng Sơn (4,94%/năm), Cao Bằng (4,24%/năm) và đặc biệt Điện Biên chỉ đạt 2,91%/năm.

Trong cả giai đoạn, toàn vùng đã tạo việc làm cho khoảng 2,511 triệu lao động, bình quân mỗi năm giải quyết được 181,9 nghìn việc làm, chiếm 11,6% cả nước. Tỷ lệ thất nghiệp trong vùng liên tục giảm, đến năm 2020 chỉ còn 0,85%, thấp hơn mức bình quân cả nước (2,16%). Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi là 2,34%, thấp hơn so với bình quân cả nước (2,52%)19.

Những kết quả về phát triển kinh tế góp phần nâng cao đời sống nhân dân. Thu nhập của người dân trong vùng được nâng lên, một số địa phương trong vùng có mức thu nhập cao, cụ thể: Thái Nguyên đạt 165,7 triệu đồng/lao động, Lào Cai đạt 136,1 triệu đồng/lao động, Bắc Giang đạt 110,5 triệu đồng/lao động – vượt trội so với mặt bằng chung của cả nước. Đồng thời, tỷ lệ hộ nghèo của vùng giảm, đến năm 2020 xuống còn 12,76% theo chuẩn nghèo đa chiều, đạt mục tiêu Nghị quyết 37-NQ/TW và Kết luận 26-KL/TW đề ra. Tính chung trong cả giai đoạn tỷ lệ nghèo giảm bình quân 3 – 4%/năm20.

Bốn là, đóng góp vào sự phát triển chung của đất nước

Vùng là nơi cung cấp nguyên, nhiên liệu chiến lược cho phát triển đất nước, là địa bàn tập trung nhiều loại khoáng sản quan trọng như: than, quặng sắt, apatit, đồng, chì – kẽm… trong đó, tỉnh Thái Nguyên, Cao Bằng, Lào Cai được coi là trung tâm khai thác và chế biến khoáng sản lớn của cả nước. Ngoài ra, vùng còn chiếm khoảng 40% tổng công suất thủy điện quốc gia, với các công trình quy mô lớn như Hòa Bình (1.920 MW), Sơn La (2.400 MW), Lai Châu (1.200 MW). Đây là nguồn năng lượng quan trọng bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia.

Vùng có diện tích đất nông nghiệp lớn, phát triển các sản phẩm hàng hóa chủ lực, như: chè, ngô, lúa, cây ăn quả và chăn nuôi đại gia súc. Đến năm 2020, diện tích chè đạt trên 120 nghìn ha, chiếm khoảng 70% diện tích chè cả nước, cung cấp nguồn nguyên liệu xuất khẩu quan trọng. Sự phát triển này góp phần bảo đảm an ninh lương thực, thực phẩm cho quốc gia.

Thúc đẩy thương mại biên giới với Trung Quốc. Khu vực kinh tế cửa khẩu của Lạng Sơn, Lào Cai, Cao Bằng giữ vai trò động lực trong phát triển thương mại. Năm 2020, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu qua các cửa khẩu vùng đạt trên 30 tỷ USD, chiếm hơn 35% tổng kim ngạch thương mại biên giới Việt – Trung21. Điều này không chỉ tạo việc làm và thu nhập cho người dân mà còn góp phần tăng cường quan hệ đối tác chiến lược toàn diện giữa Việt Nam và Trung Quốc.

Những kết quả về phát triển kinh tế vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ trong giai đoạn 2004 – 2020 là rất cơ bản, có ý nghĩa quan trọng đóng góp vào sự phát triển chung của cả nước. Tuy nhiên, vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ vẫn còn tồn tại những hạn chế trong phát triển kinh tế, cụ thể:

(1) Quy mô kinh tế của vùng còn khá nhỏ và nhỏ hơn nhiều so với quy mô kinh tế của các vùng kinh tế khác, xếp thứ 5 trong 6 vùng kinh tế. Mức độ tập trung kinh tế ở mức thấp, chỉ bằng 29,7% mức độ tập trung kinh tế của cả nước. Tổng sản phẩm trên địa bàn bình quân đầu người (GRDP/người) thấp hơn so với GDP bình quân đầu người cả nước. GRDP bình quân đầu người năm 2020 mới đạt khoảng 50 triệu đồng/năm, thấp hơn nhiều so với mức bình quân cả nước (khoảng 70 triệu đồng) và một số vùng khác.

(2) Tăng trưởng chưa thực sự bền vững, chất lượng tăng trưởng chưa cao; chủ yếu dựa vào tăng vốn đầu tư; năng suất lao động ở mức thấp chỉ bằng 0,6 lần mức năng suất lao động của cả nước và khoảng cách trong năng suất lao động của vùng so với trung bình cả nước và một số vùng khác đang có xu hướng gia tăng. Phát triển của các địa phương trong vùng chưa đồng đều, một số tỉnh, như: Thái Nguyên, Lào Cai đang vượt lên và ngày càng bỏ xa các tỉnh khác. Tăng trưởng của một số địa phương chưa đạt được mục tiêu theo Nghị quyết số 37-NQ/TW và Kết luận số 26-KL/TW đề ra như: Lạng Sơn (7,21%), Điện Biên (7,42%).

(3) Cơ cấu ngành kinh tế vùng chuyển dịch còn chậm, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của các sản phẩm sản xuất trong vùng chưa cao. Tỷ trọng khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản trong GRDP của vùng cao hơn so với tỷ trọng bình quân chung cả nước, trong khi tỷ trọng khu vực dịch vụ thấp hơn bình quân chung cả nước và thấp nhất trong các vùng kinh tế.

3. Định hướng phát triển vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ trong giai đoạn mới

Thứ nhất, phát triển vùng đặt trong tổng thể chiến lược quốc gia.

Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 10/02/2022 của Bộ Chính trị xác định phát triển vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ phải được đặt trong tổng thể phát triển chung của đất nước, gắn liền với việc thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và các chiến lược phát triển kinh tế – xã hội đến năm 2030, tầm nhìn đến 2045. Đến năm 2030, vùng phải trở thành “vùng phát triển xanh, bền vững và toàn diện, trên cơ sở tăng cường đầu tư kết cấu hạ tầng, phát triển công nghiệp chế biến – chế tạo, nông nghiệp công nghệ cao, kinh tế cửa khẩu và du lịch”22. Đến năm 2045, vùng được xác định là hình mẫu phát triển xanh của cả nước, trong đó khoảng 50% số tỉnh thuộc nhóm phát triển khá, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt, quốc phòng, an ninh được củng cố vững chắc, hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết các dân tộc được tăng cường.

Thứ hai, phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế để phát triển nhanh và bền vững.

Vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ có lợi thế nổi bật về khoáng sản, thủy điện, tài nguyên rừng, cảnh quan thiên nhiên và di sản văn hóa. Tuy nhiên, đây vẫn là “vùng trũng” trong phát triển, là “lõi nghèo” của cả nước. Vì vậy, định hướng phát triển nhấn mạnh đến việc khai thác hợp lý tài nguyên, đi đôi với bảo vệ môi trường sinh thái, phát triển công nghiệp chế biến sâu, công nghiệp năng lượng tái tạo, nông nghiệp công nghệ cao, gắn sản xuất với chuỗi giá trị. Phát triển rừng, nhất là rừng đầu nguồn, được coi là “nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, là trung tâm trong các quyết định phát triển vùng” bởi giữ được rừng là giữ đất, giữ nước, giữ môi trường, văn hóa và quốc phòng, an ninh.

Thứ ba, đẩy mạnh liên kết vùng và hợp tác quốc tế.

Một trong những điểm mới, nổi bật của Nghị quyết số 11-NQ/TW là đặt yêu cầu đổi mới tư duy liên kết vùng. Các địa phương phải gắn kết phát triển trong cơ chế điều phối chung, tránh tình trạng cát cứ, cạnh tranh không lành mạnh và dàn trải nguồn lực. Trọng tâm là hình thành các hành lang kinh tế chiến lược. Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh hợp tác quốc tế, đặc biệt là với Trung Quốc qua hệ thống cửa khẩu quốc tế, phát triển mạnh kinh tế cửa khẩu, thương mại biên giới và du lịch xuyên biên giới, tạo động lực phát triển cho toàn vùng.

Thứ tư, phát triển toàn diện trong đó lấy con người làm trung tâm.

Nghị quyết khẳng định: “Phát triển vùng phải đặt người dân là trung tâm, mục tiêu và động lực của phát triển”24. Điều này thể hiện rõ tính xã hội chủ nghĩa trong tư duy phát triển của Đảng. Do đó, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt là nhân lực là người dân tộc thiểu số, đây được coi là một trong hai khâu đột phá chiến lược của đất nước, cùng với phát triển kết cấu hạ tầng giao thông. Song song, phải thực hiện giảm nghèo bền vững, thu hẹp khoảng cách phát triển với các vùng khác; bảo đảm công bằng xã hội và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân.

Thứ năm, phát triển kinh tế gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh.

Với vị trí chiến lược là “phên dậu” của Tổ quốc, vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ được xác định có ý nghĩa đặc biệt về quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Do đó, mọi định hướng phát triển kinh tế – xã hội phải gắn liền với xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân vững chắc, bảo vệ biên cương, chủ quyền lãnh thổ quốc gia, giữ ổn định chính trị – xã hội, chủ động phòng ngừa và làm thất bại âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.

Chú thích:
1, 2, 3, 4, 5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016). Văn kiện Đảng toàn tập. Tập 63. Nghị quyết số 37-NQ/TW ngày 01/7/2004 của Bộ Chính trị về phương hướng phát triển kinh tế – xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ đến năm 2010. H. NXB Chính trị quốc gia,  tr. 358, 359, 359, 359, 360.
6. Thủ tướng Chính phủ (2005). Quyết định số 79/2005/QĐ-TTg ngày 15/4/2005 ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 37-NQ/TW ngày 01/7/2004 của Bộ Chính trị về phương hướng phát triển kinh tế – xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ đến năm 2010. H. Văn phòng Chính phủ, tr. 1-5.
7, 8. Ban Chấp hành Trung ương (2012). Kết luận số 26-KL/TW, ngày 02/8/2012 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 37-NQ/TW, ngày 01/7/2004 của Bộ Chính trị (khóa IX) nhằm đẩy mạnh phát triển kinh tế – xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng trung du và miền núi Bắc bộ đến năm 2020.
9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21. Tổng cục Thống kê (2021). Niên giám thống kê 2021. H. NXB Thống kê.
22, 23. Toàn văn bài Phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị quán triệt, triển khai Nghị quyết số 11 của Bộ Chính trị. https://www.qdnd.vn/chinh-tri/tin-tuc/toan-van-bai-phat-bieu-cua-tong-bi-thu-nguyen-phu-trong-tai-hoi-nghi-quan-triet-trien-khai-nghi-quyet-so-11-cua-bo-chinh-tri, ngày 15/4/2022.
Tài liệu tham khảo:
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001). Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX. H. NXB Chính trị quốc gia.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011). Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI. H. NXB Chính trị quốc gia.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Tập I, Tập II. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
4. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2020). Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển bền vững vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ.  H. NXB Lý luận Chính trị.
5. Thủ tướng Chính phủ (2013). Quyết định số 1064/QĐ-TTg, ngày 08/7/2013 phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ đến năm 2020.