Thúc đẩy mạnh mẽ chuyển đổi số trong doanh nghiệp tư nhân

ThS. Nguyễn Thị Thùy Mai
Phân hiệu Học viện Hành chính và Quản trị công tại tỉnh Đắk Lắk

(Quanlynhanuoc.vn) – Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân đã xác định kinh tế tư nhân là động lực quan trọng của nền kinh tế quốc gia và đề ra mục tiêu phát triển nhanh, bền vững, hiệu quả, chất lượng cao. Trong đó, chuyển đổi số được coi là một nhiệm vụ tiên phong và chiến lược để khu vực này nâng cao năng lực cạnh tranh. Bài viết phân tích các cơ hội cho doanh nghiệp tư nhân theo Nghị quyết số 68-NQ/TW, chỉ ra những thách thức và đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy mạnh mẽ quá trình chuyển đổi số, đưa doanh nghiệp tư nhân trở thành lực lượng tiên phong trong kỷ nguyên mới.

Từ khóa: Kinh tế tư nhân; chuyển đổi số; cơ hội; thách thức; giải pháp; Nghị quyết số 68-NQ/TW.

1. Đặt vấn đề

Khu vực kinh tế tư nhân tại Việt Nam sau 40 năm thực hiện đường lối đổi mới đã khẳng định vai trò là một trụ cột vững chắc và là lực lượng then chốt của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Khu vực này với gần một triệu doanh nghiệp, khoảng 5 triệu hộ kinh doanh cá thể, đóng góp khoảng 51% GDP, hơn 30% ngân sách nhà nước, tạo ra hơn 40 triệu việc làm, chiếm hơn 82% tổng số lao động trong nền kinh tế, đóng góp gần 60% vốn đầu tư toàn xã hội1. Nhiều doanh nghiệp đã phát triển lớn mạnh, khẳng định thương hiệu và vươn ra thị trường khu vực, thế giới.

Trong bối cảnh toàn cầu đang bước vào giai đoạn tăng tốc của cách mạng công nghiệp 4.0, chuyển đổi số đã trở thành một yêu cầu cấp thiết đối với doanh nghiệp tư nhân Việt Nam. Chuyển đổi số được xem là giải pháp để tái cấu trúc mô hình kinh doanh, tối ưu hóa quy trình vận hành và nâng cao năng suất lao động, từ đó, giải quyết được các điểm nghẽn về quy mô và công nghệ.

Nghị quyết số 68-NQ/TW đã đặt chuyển đổi số vào vị trí chiến lược, được thể hiện qua các quan điểm chỉ đạo, mục tiêu và giải pháp cụ thể nhằm kiến tạo môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp tư nhân phát triển kinh tế số. Bài viết tập trung làm rõ các cơ hội đột phá về thể chế và tài chính, chỉ ra những thách thức cần vượt qua; đồng thời, đề xuất các giải pháp nhằm hiện thực hóa mục tiêu đưa doanh nghiệp tư nhân Việt Nam trở thành lực lượng dẫn đầu về năng lực số trong khu vực.

2. Cơ hội từ Nghị quyết số 68-NQ/TW đối với doanh nghiệp tư nhân trong chuyển đổi số

Nghị quyết số 68-NQ/TW đã tạo ra ba nhóm cơ hội chiến lược mang tính kiến tạo và đột phá, giúp các doanh nghiệp tư nhân có động lực và nguồn lực để bứt phá thông qua quá trình chuyển đổi số một cách mạnh mẽ và bền vững.

Thứ nhất, cơ hội về thể chế kiến tạo và giảm rào cản pháp lý đối với đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Nghị quyết mở ra những cơ hội quan trọng về hoàn thiện thể chế theo hướng kiến tạo phát triển, giảm thiểu rào cản pháp lý – các yếu tố có tác động trực tiếp đến chi phí tuân thủ và mức độ chủ động của doanh nghiệp trong quá trình chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo.

Số hóa và trí tuệ hóa thủ tục hành chính. Nghị quyết yêu cầu số hóa, thông minh hóa và tự động hóa các quy trình thủ tục hành chính; đồng thời, đặt mục tiêu cắt giảm tối thiểu 30% thời gian xử lý đối với nhiều nhóm thủ tục liên quan đến đầu tư, sản xuất – kinh doanh, tiếp cận đất đai, thuế, hải quan và đăng ký giao dịch điện tử. Đây là một bước cải cách thể chế quan trọng mang ý nghĩa hai chiều. Các cải cách này có tác dụng giảm chi phí giao dịch và thời gian tuân thủ pháp luật, vốn là gánh nặng lớn đối với doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp quy mô nhỏ và vừa. Khi thời gian, nhân lực và chi phí tuân thủ giảm xuống, doanh nghiệp có khả năng phân bổ lại nguồn lực cho các hoạt động có giá trị gia tăng cao, đặc biệt là đầu tư vào chuyển đổi số nội bộ, xây dựng hạ tầng dữ liệu và triển khai công nghệ mới.

Việc hình thành môi trường hành chính số, kết nối và minh bạch giúp doanh nghiệp tương tác với cơ quan quản lý nhà nước thông qua các nền tảng trực tuyến tích hợp, hạn chế rủi ro sai sót, giảm sự phụ thuộc vào quan hệ trực tiếp; nâng cao mức độ dự đoán của môi trường kinh doanh. Điều này tạo ra một “không gian số” nơi quá trình vận hành của Nhà nước và doanh nghiệp trở nên tương thích, thúc đẩy sự lan tỏa của các mô hình kinh doanh số và góp phần củng cố niềm tin của khu vực tư nhân vào chiến lược chuyển đổi số quốc gia.

Sandbox tạo ra một không gian pháp lý an toàn, cho phép doanh nghiệp thử nghiệm sản phẩm, dịch vụ hoặc mô hình công nghệ mới trong một phạm vi và thời gian được kiểm soát; hạn chế tác động của các quy định pháp lý truyền thống vốn chưa kịp điều chỉnh theo tốc độ phát triển của công nghệ; giảm thiểu rủi ro pháp lý, đặc biệt đối với các đổi mới mang tính phá vỡ. Đối với khu vực doanh nghiệp tư nhân, đặc biệt là các startup công nghệ, đây là yếu tố then chốt vì đổi mới sáng tạo bản chất là hoạt động có rủi ro cao và cần được thử nghiệm trước khi triển khai ra thị trường. Sandbox cho phép doanh nghiệp kiểm chứng tính khả thi của mô hình; đánh giá tác động xã hội và rủi ro kỹ thuật; điều chỉnh sản phẩm theo yêu cầu quản lý trước khi thương mại hóa diện rộng.

Thứ hai, cơ hội về đòn bẩy tài chính và vốn đầu tư công nghệ. Nghị quyết đã cung cấp các công cụ tài chính mạnh mẽ nhằm khuyến khích đầu tư vào chuyển đổi số:

Ưu đãi thuế cho hoạt động nghiên cứu và phát triển. Một trong những điểm nhấn quan trọng của Nghị quyết là khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào hoạt động nghiên cứu và phát triển nhằm hình thành năng lực công nghệ nội sinh. Chính sách cho phép doanh nghiệp tính chi phí bằng 200% chi phí thực tế khi xác định thu nhập chịu thuế tạo ra một cơ chế ưu đãi đặc biệt mạnh, làm giảm đáng kể chi phí vốn cho hoạt động nghiên cứu và thử nghiệm – vốn là lĩnh vực có rủi ro cao và chi phí cơ hội lớn. Khi chi phí được khấu trừ gấp đôi, doanh nghiệp thực chất chỉ phải chịu một nửa gánh nặng chi phí, từ đó, tăng mức sẵn sàng đầu tư vào các dự án công nghệ. Đồng thời, cơ chế cũng thúc đẩy các doanh nghiệp chuyển từ mô hình ứng dụng công nghệ sang tự phát triển công nghệ. Đây là bước chuyển quan trọng, phù hợp mục tiêu của Nghị quyết về nâng cao vị trí của doanh nghiệp Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu và giảm phụ thuộc vào công nghệ ngoại nhập. Việc ưu đãi thuế cũng tạo điều kiện hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo trong khu vực doanh nghiệp tư nhân thông qua việc thúc đẩy hợp tác giữa doanh nghiệp – viện nghiên cứu – trường đại học, hình thành các trung tâm nghiên cứu và phát triển và gia tăng nhu cầu nhân lực chất lượng cao.

Tự chủ nguồn vốn chuyển đổi số. Bên cạnh ưu đãi thuế, Nghị quyết nhấn mạnh yêu cầu phát triển quỹ phát triển khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nghiên cứu phát triển, cho phép doanh nghiệp trích tối đa 20% thu nhập tính thuế để bổ sung vào quỹ này. Đây là cơ chế quan trọng đối với sự bền vững trong lộ trình chuyển đổi số của doanh nghiệp.

Việc hình thành quỹ nội bộ giúp doanh nghiệp chủ động nguồn vốn dài hạn cho các dự án chuyển đổi số có quy mô lớn, thời gian đầu tư kéo dài và yêu cầu nâng cấp thường xuyên. Điều này khắc phục tình trạng “đầu tư nửa vời” do hạn chế về dòng tiền ngắn hạn. Đồng thời, cơ chế này giảm sự phụ thuộc vào vốn vay, giúp doanh nghiệp tránh rủi ro lãi suất và các điều kiện tín dụng chặt chẽ.

Tiếp cận vốn dựa trên tài sản vô hình. Là đột phá trong huy động vốn cho doanh nghiệp công nghệ. Một trong những rào cản lớn nhất của doanh nghiệp công nghệ Việt Nam là khó tiếp cận tín dụng do thiếu tài sản bảo đảm mang tính hữu hình. Việc công nhận tài sản vô hình, như: dữ liệu, thuật toán, phần mềm, mạng lưới người dùng, chuỗi giá trị số… sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp công nghệ có thêm kênh huy động vốn, đặc biệt là các startup công nghệ sở hữu tài sản trí tuệ nhưng ít tài sản vật chất. Đồng thời, cơ chế này thúc đẩy sự phát triển của hệ sinh thái tài chính cho kinh tế số, bao gồm: mô hình cho vay dựa trên dữ liệu, định giá tài sản vô hình và các công cụ tài chính mới liên quan đến dòng tiền số. Mặt khác, tiếp cận vốn dựa trên tài sản số giúp doanh nghiệp mở rộng quy mô, tăng khả năng thương mại hóa sản phẩm công nghệ và tham gia sâu hơn vào các chuỗi cung ứng số toàn cầu.

Thứ ba, cơ hội về phát triển nguồn lực và thị trường số. Cùng với cải cách thể chế và hoàn thiện các cơ chế tài chính cho đổi mới sáng tạo, Nghị quyết đặt trọng tâm vào phát triển nguồn nhân lực số và thúc đẩy hình thành các chuỗi giá trị số trong khu vực kinh tế tư nhân. Đây là hai yếu tố quyết định đối với khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong kỷ nguyên kinh tế số, nơi năng lực công nghệ và khả năng tham gia mạng lưới giá trị số toàn cầu ngày càng trở thành tiêu chí phân biệt giữa doanh nghiệp phát triển và doanh nghiệp tụt hậu.

Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực số là yếu tố quyết định đối với năng lực chuyển đổi số của doanh nghiệp tư nhân. Trên thực tế, nhiều nghiên cứu cho thấy thất bại của các dự án chuyển đổi số không đến từ công nghệ mà từ hạn chế trong năng lực lãnh đạo số5, bao gồm: tư duy chiến lược, khả năng quản trị dữ liệu, ra quyết định dựa trên phân tích và tổ chức mô hình hoạt động tinh gọn dựa trên nền tảng số. Do đó, chương trình đào tạo và phát triển lãnh đạo số theo tinh thần Nghị quyết góp phần giảm khoảng cách về năng lực quản trị số giữa doanh nghiệp Việt Nam và doanh nghiệp quốc tế; cung cấp lực lượng quản lý có khả năng dẫn dắt các dự án chuyển đổi toàn diện, từ cải tổ quy trình, hiện đại hóa hệ thống đến phát triển mô hình kinh doanh số và sẽ thúc đẩy hình thành văn hóa đổi mới sáng tạo trong khu vực tư nhân. Song song với đó, các chương trình bồi dưỡng kỹ năng số cho lao động nói chung tạo điều kiện để doanh nghiệp xây dựng đội ngũ nhân sự sẵn sàng tiếp nhận và vận hành công nghệ mới, một yếu tố then chốt giúp giảm chi phí triển khai chuyển đổi số và tăng tốc độ hấp thụ công nghệ.

Thúc đẩy tham gia chuỗi giá trị số là cơ hội mở rộng thị trường và gia tăng năng lực cạnh tranh. Nghị quyết cũng nhấn mạnh chính sách khuyến khích doanh nghiệp lớn dẫn dắt quá trình chuyển giao công nghệ và xây dựng chuỗi cung ứng số cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Đây là một chiến lược quan trọng nhằm tạo ra sự lan tỏa công nghệ và nâng cao mức độ số hóa trên toàn bộ hệ sinh thái doanh nghiệp. Việc doanh nghiệp lớn có vốn sở hữu nền tảng công nghệ mạnh, dữ liệu lớn và hệ thống quản trị tiên tiến hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ tạo điều kiện để các doanh nghiệp này tiếp cận công nghệ mới với chi phí thấp hơn, giảm rủi ro thử nghiệm và tăng tốc độ số hóa. Đồng thời, doanh nghiệp nhỏ và vừa buộc phải thực hiện chuyển đổi số để đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn dữ liệu và yêu cầu vận hành của chuỗi cung ứng số. Điều này tạo ra động lực thị trường mạnh mẽ hơn cả các chính sách khuyến khích đơn lẻ của Nhà nước. Hơn nữa, việc tham gia vào chuỗi giá trị số và thương mại điện tử mở ra cơ hội giúp doanh nghiệp tiếp cận thị trường toàn cầu thông qua các nền tảng số; nâng cao khả năng truy xuất dữ liệu và minh bạch hóa quy trình, các yêu cầu quan trọng của thị trường quốc tế và giảm chi phí giao dịch, lưu kho và vận chuyển nhờ ứng dụng dữ liệu và công nghệ số. Đây là bước tiến quan trọng để doanh nghiệp tư nhân Việt Nam dịch chuyển từ mô hình kinh doanh truyền thống sang mô hình vận hành theo dữ liệu, phù hợp với xu hướng phát triển của kinh tế số thế giới.

3. Thách thức trong quá trình chuyển đổi số

Thứ nhất, thách thức nội tại về quy mô và năng lực quản trị.

Khoảng 95% doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam thuộc khu vực siêu nhỏ, nhỏ và vừa6, vốn là khu vực có năng lực tài chính hạn chế. Việc đầu tư cho chuyển đổi số vốn đòi hỏi chi phí lớn, liên tục và đồng bộ cho hạ tầng số, hệ thống quản trị, an ninh mạng, phần mềm chuyên dụng đã trở thành gánh nặng vượt quá khả năng của đa số doanh nghiệp. Bên cạnh đó, năng lực quản trị và tư duy chuyển đổi số còn nhiều bất cập. Một bộ phận doanh nghiệp vẫn tiếp cận chuyển đổi số theo hướng “mua sắm công nghệ”, thay vì coi đó là quá trình tái thiết kế toàn diện mô hình kinh doanh, quy trình vận hành và hệ thống quản trị. Đặc biệt, nhiều doanh nghiệp chưa xây dựng được đội ngũ lãnh đạo có hiểu biết sâu về công nghệ và năng lực dẫn dắt thay đổi, yếu tố được xem là quyết định thành bại của chuyển đổi số.

Thứ hai, thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao.

Một trong những rào cản lớn nhất đối với chuyển đổi số trong khu vực kinh tế tư nhân là tình trạng thiếu hụt nghiêm trọng nguồn nhân lực số. Đây là vấn đề mang tính cấu trúc, xuất phát từ khoảng cách kỹ năng giữa nhu cầu thực tiễn của doanh nghiệp và khả năng đáp ứng của lực lượng lao động hiện hữu.

Khoảng cách về kỹ năng số ngày càng gia tăng. Dù nhu cầu về các vị trí chuyên sâu, như: kỹ sư dữ liệu, chuyên gia an ninh mạng, phân tích nghiệp vụ số hay chuyên viên quản trị nền tảng tăng mạnh, phần lớn lao động Việt Nam vẫn chưa được trang bị hệ thống kỹ năng cần thiết để vận hành các công nghệ chuyển đổi số. Điều này dẫn tới tình trạng “đầu tư công nghệ nhưng không vận hành được”, khi doanh nghiệp sở hữu nền tảng mới nhưng năng lực khai thác còn hạn chế, gây lãng phí nguồn lực và làm giảm hiệu quả kỳ vọng của các dự án chuyển đổi.

Áp lực cạnh tranh nhân tài tạo ra bất lợi lớn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa. Trong bối cảnh nhân lực công nghệ chất lượng cao đang trở thành nguồn lực khan hiếm, các tập đoàn lớn và doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) có lợi thế vượt trội trong việc trả lương, phúc lợi và môi trường làm việc hấp dẫn để thu hút nhân sự giỏi. Ngược lại, nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa không đủ khả năng cạnh tranh về đãi ngộ, dẫn đến tình trạng “chảy máu nhân lực số”. Hệ quả là nhiều dự án chuyển đổi số bị đình trệ, gián đoạn hoặc thất bại ngay từ giai đoạn triển khai vì thiếu đội ngũ chuyên môn dẫn dắt quá trình thay đổi.

Thứ ba, rào cản về môi trường thực thi và rủi ro pháp lý.

Sự thiếu đồng bộ trong thực thi chính sách gây ra tình trạng không nhất quán giữa định hướng trung ương và hành động của các cơ quan thực thi. Mặc dù Nghị quyết nhấn mạnh yêu cầu đẩy mạnh số hóa, minh bạch hóa và rút ngắn khoảng 30% thời gian xử lý thủ tục hành chính, việc triển khai tại một số bộ, ngành và địa phương còn chậm và thiếu quyết liệt. Sự khác biệt về tốc độ, năng lực và mức độ ưu tiên đối với chuyển đổi số giữa các cơ quan hành chính tạo ra “điểm nghẽn thể chế” mới, khiến doanh nghiệp gặp khó khăn khi cần tương tác với hệ thống công quyền. Điều này làm giảm hiệu quả kỳ vọng của các chính sách hỗ trợ và gia tăng chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp.

Rủi ro pháp lý đối với các mô hình kinh doanh đổi mới sáng tạo vẫn còn hiện hữu. Mặc dù Nghị quyết đã xác lập định hướng xây dựng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát, việc chậm ban hành hướng dẫn chi tiết và hoàn thiện khung vận hành khiến nhiều doanh nghiệp, đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ tài chính, trí tuệ nhân tạo và nền tảng số, vẫn đối diện với sự bất định pháp lý. Trong điều kiện “thiếu khung nhưng vẫn phải hoạt động”, các doanh nghiệp buộc phải chấp nhận rủi ro cao hoặc trì hoãn các sáng kiến đổi mới. Điều này kìm hãm nhịp độ sáng tạo, vốn là yếu tố cốt lõi của chuyển đổi số.

Thách thức về dữ liệu và an toàn bảo mật tiếp tục là nỗi lo lớn của khu vực tư nhân. Hạn chế về chuẩn hóa dữ liệu, cơ chế chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan và giữa Nhà nước với doanh nghiệp vẫn chưa được thiết lập đầy đủ. Đồng thời, nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa không đủ nguồn vốn để đầu tư hạ tầng dữ liệu, điện toán đám mây hoặc các giải pháp bảo mật tiên tiến. Trong bối cảnh các mối đe dọa an ninh mạng gia tăng, thiếu năng lực bảo vệ dữ liệu có thể dẫn đến những rủi ro nghiêm trọng, làm suy giảm niềm tin và cản trở doanh nghiệp mở rộng các hoạt động số hóa.

4. Giải pháp đẩy mạnh chuyển đổi số trong doanh nghiệp tư nhân

Thứ nhất, hoàn thiện thể chế và môi trường chính sách thúc đẩy chuyển đổi số. Cần khẩn trương ban hành và vận hành hiệu quả cơ chế sandbox tại các lĩnh vực công nghệ mới nổi, như: FinTech, AI, IoT và dữ liệu lớn sẽ giúp doanh nghiệp giảm rủi ro pháp lý khi thử nghiệm mô hình kinh doanh mới trong một môi trường được giám sát; đồng thời, rút ngắn thời gian tiếp cận thị trường, cho phép doanh nghiệp nhanh chóng chuyển đổi quy trình, sản phẩm và dịch vụ dựa trên dữ liệu số. Hơn nữa sẽ khuyến khích đổi mới sáng tạo, hình thành các hệ sinh thái công nghệ và thúc đẩy sự tham gia của doanh nghiệp vào các ngành công nghiệp số giá trị cao. Sandbox trở thành công cụ thể chế quan trọng để thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân theo hướng hiện đại, bền vững và gắn với tiến trình chuyển đổi số quốc gia.

Bên cạnh đó, cần đẩy nhanh tự động hóa và số hóa dịch vụ hành chính công. Một trong những rào cản lớn của doanh nghiệp là chi phí tuân thủ và thủ tục hành chính phức tạp. Nghị quyết yêu cầu tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh, trong đó trọng tâm là “giảm chi phí không chính thức, tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp phát triển”. Để thực hiện yêu cầu này, cần số hóa toàn bộ quy trình thủ tục hành chính, cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ cao, hướng tới mô hình “chính phủ số phục vụ doanh nghiệp”. Tự động hóa quy trình xử lý hồ sơ, giảm phụ thuộc vào phương thức thủ công, bảo đảm tính minh bạch, nhất quán và giảm thời gian chờ đợi cho doanh nghiệp. Đồng thời, mở rộng thanh tra, kiểm tra trực tuyến, ưu tiên áp dụng quản lý rủi ro và miễn kiểm tra thực tế đối với doanh nghiệp tuân thủ tốt.

Thứ hai, giải pháp tài chính và ưu đãi đầu tư công nghệ. Theo định hướng của Nghị quyết số 68-NQ/TW, Nhà nước cần tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp tiếp cận nguồn lực tài chính phục vụ đổi mới công nghệ; đồng thời, khuyến khích doanh nghiệp tăng đầu tư vào nghiên cứu và phát triển và các nền tảng số. Các giải pháp trọng tâm bao gồm:

Đơn giản hóa thủ tục liên quan đến ưu đãi thuế cho hoạt động nghiên cứu và phát triển và chuyển đổi số. Việc áp dụng ưu đãi khấu trừ chi phí nghiên cứu và phát triển và cơ chế trích lập Quỹ phát triển khoa học, công nghệ và chuyển đổi số là chính sách quan trọng nhằm giảm chi phí đầu tư cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, thủ tục hiện hành còn phức tạp, khiến nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa khó tiếp cận. Do đó, cần đơn giản hóa hồ sơ, quy trình và điều kiện chứng minh chi phí nghiên cứu và phát triển, hướng tới mô hình kê khai minh bạch dựa trên rủi ro thay vì kiểm tra trước, tăng cường tích hợp dữ liệu thuế, tài chính, giúp cơ quan quản lý và doanh nghiệp giảm thời gian xử lý và loại bỏ các yêu cầu chứng từ trùng lặp. Những cải cách này sẽ bảo đảm ưu đãi tài chính đến đúng đối tượng, đúng thời điểm, từ đó, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư mạnh mẽ hơn vào công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Phát triển cơ chế tín dụng dựa trên dữ liệu để mở rộng tiếp cận vốn. Một trong những điểm nghẽn lớn nhất của doanh nghiệp tư nhân là khả năng tiếp cận tín dụng do thiếu tài sản bảo đảm hữu hình. Nghị quyết nhấn mạnh yêu cầu phát triển thị trường tài chính và đa dạng hóa các kênh vốn cho khu vực kinh tế tư nhân. Theo đó, xây dựng cơ chế tín dụng dựa trên dữ liệu là giải pháp thiết thực, bao gồm: công nhận giá trị của tài sản vô hình, như: dữ liệu khách hàng, dòng tiền điện tử, mức độ tuân thủ thuế hay vị trí của doanh nghiệp trong chuỗi giá trị số như một dạng tài sản bảo đảm mới; khuyến khích các tổ chức tín dụng ứng dụng mô hình chấm điểm tín dụng tự động, kết hợp Big Data và AI để đánh giá rủi ro chính xác hơn đối với doanh nghiệp khởi nghiệp và doanh nghiệp công nghệ; phát triển các sản phẩm tín dụng chuyên biệt cho dự án chuyển đổi số, bao gồm cho vay ưu đãi, bảo lãnh tín dụng và quỹ đầu tư đồng hành. Cơ chế này không chỉ khắc phục hạn chế về tài sản thế chấp mà còn tạo động lực để doanh nghiệp số hóa hoạt động nhằm tăng mức độ “hiển thị tài chính” trong hệ thống ngân hàng.

Mở rộng hỗ trợ tài chính trực tiếp cho doanh nghiệp nhỏ và vừa. Doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm tỷ trọng lớn trong khu vực kinh tế tư nhân nhưng lại có năng lực tài chính hạn chế. Để thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện, cần triển khai các chương trình hỗ trợ tài chính có mục tiêu, tập trung vào các khoản chi mang tính nền tảng, bao gồm: chương trình tài trợ hoặc đồng tài trợ từ ngân sách nhà nước cho hoạt động mua sắm nền tảng số cơ bản, như: phần mềm kế toán, quản trị nhân sự, quản lý bán hàng, quản trị quan hệ khách hàng; hỗ trợ chi phí thuê chuyên gia tư vấn, đánh giá mức độ sẵn sàng chuyển đổi số, đặc biệt tại các ngành sản xuất, thương mại và dịch vụ; ưu tiên hỗ trợ doanh nghiệp hoạt động tại địa phương khó khăn, nhằm thu hẹp khoảng cách số giữa các vùng.

Thứ ba, phát triển nguồn nhân lực và tăng cường kết nối hệ sinh thái chuyển đổi số. Nguồn nhân lực và hệ sinh thái hỗ trợ là hai yếu tố quyết định sự thành công của chuyển đổi số trong doanh nghiệp tư nhân. Theo định hướng của Nghị quyết, việc nâng cao năng lực lao động, năng lực quản trị của đội ngũ lãnh đạo; đồng thời, thiết lập cơ chế kết nối giữa các chủ thể trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, sẽ tạo nền tảng vững chắc để khu vực kinh tế tư nhân bứt phá trong giai đoạn tới.

Đào tạo kỹ năng số và phát triển năng lực lãnh đạo chuyển đổi số. Cần bồi dưỡng kỹ năng số chuyên sâu cho lực lượng lao động hiện có, đặc biệt trong các lĩnh vực như quản trị dữ liệu, phân tích dữ liệu, vận hành nền tảng số và an ninh mạng; đào tạo đội ngũ lãnh đạo cấp cao về tư duy chiến lược số, quản trị rủi ro công nghệ và khả năng định hình mô hình kinh doanh dựa trên dữ liệu. Kết hợp đào tạo trực tuyến và trực tiếp, khai thác các trung tâm đổi mới sáng tạo, trường đại học và doanh nghiệp công nghệ để bảo đảm tính thực tiễn cao trong chương trình.

Phát triển nền tảng hỗ trợ chung cho doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và hộ kinh doanh. Cần phát triển các nền tảng số dùng chung có tính tiêu chuẩn hóa được tích hợp sẵn các chức năng cơ bản, như: kế toán, bán hàng, quản trị nhân sự, quản lý chuỗi cung ứng; cung cấp nền tảng với chi phí thấp hoặc miễn phí cho doanh nghiệp siêu nhỏ và hộ kinh doanh trong giai đoạn đầu, giúp họ tiếp cận công nghệ mà không phải chịu chi phí đầu tư lớn; bảo đảm kết nối dữ liệu liền mạch giữa các nền tảng dùng chung và hệ thống dữ liệu quốc gia, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp trong việc kê khai thuế, quản lý hóa đơn, tiếp cận tín dụng và tham gia chuỗi giá trị. Nền tảng hỗ trợ chung chính là “hạ tầng mềm” quan trọng giúp doanh nghiệp bắt đầu hành trình số hóa một cách dễ dàng, bài bản và chi phí thấp.

Thúc đẩy liên kết và chuyển giao công nghệ trong hệ sinh thái doanh nghiệp. Cần xây dựng cơ chế liên kết giữa doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp công nghệ và doanh nghiệp nhỏ và vừa. Các giải pháp chủ đạo, gồm: thiết lập chính sách ưu tiên doanh nghiệp dẫn dắt chuỗi giá trị trong việc chia sẻ dữ liệu, công nghệ và mô hình vận hành số cho các doanh nghiệp vệ tinh và đối tác cung ứng; khuyến khích doanh nghiệp lớn đầu tư hoặc hỗ trợ vốn cho các dự án số hóa của doanh nghiệp nhỏ và vừa, thông qua Quỹ đổi mới sáng tạo doanh nghiệp, chương trình hợp tác hoặc đầu tư mạo hiểm doanh nghiệp; xây dựng các trung tâm đổi mới sáng tạo và “không gian chia sẻ công nghệ”, tạo môi trường để doanh nghiệp giao lưu, học hỏi và chuyển giao giải pháp công nghệ. Sự liên kết này không chỉ nâng cao năng lực chuyển đổi số của từng doanh nghiệp mà còn thúc đẩy sự phát triển hài hòa, đồng bộ trong toàn bộ hệ sinh thái kinh tế tư nhân.

5. Kết luận

Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân khẳng định vai trò chiến lược của khu vực doanh nghiệp tư nhân trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chuyển đổi số quốc gia. Những định hướng mang tính kiến tạo về thể chế, tài chính và nguồn lực mà Nghị quyết đặt ra đã mở ra một không gian phát triển mới, tạo nền tảng để doanh nghiệp tư nhân bứt phá trong kỷ nguyên số. Tuy nhiên, để hiện thực hóa mục tiêu trở thành nhóm quốc gia dẫn đầu ASEAN về chuyển đổi số, doanh nghiệp tư nhân cần nỗ lực vượt qua các hạn chế nội tại liên quan đến quy mô, năng lực công nghệ, khả năng quản trị và mức độ sẵn sàng số.

Ở góc độ chính sách, Nhà nước cần tiếp tục thể hiện vai trò kiến tạo phát triển thông qua việc đẩy nhanh hoàn thiện thể chế kinh tế số, mở rộng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát, đơn giản hóa thủ tục ưu đãi tài chính và tăng cường các chương trình hỗ trợ trực tiếp cho doanh nghiệp. Đặc biệt, cần bảo đảm sự thống nhất trong chỉ đạo, sự đồng bộ giữa các cấp, ngành và tính nhất quán trong thực thi chính sách, đó là những yếu tố có ảnh hưởng lớn đến niềm tin và quyết định đầu tư của doanh nghiệp. Sự kết hợp giữa ý chí chuyển đổi và tinh thần đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp với vai trò kiến tạo, hỗ trợ mạnh mẽ từ Nhà nước sẽ là động lực then chốt để khu vực kinh tế tư nhân phát triển hiện đại, cạnh tranh và bền vững. Khi những điều kiện này được đáp ứng, doanh nghiệp tư nhân hoàn toàn có thể trở thành lực lượng tiên phong trong phát triển kinh tế số, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong giai đoạn mới.

Chú thích:
1. Phát triển kinh tế tư nhân – đòn bẩy cho một Việt Nam thịnh vượng. https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/phat-trien-kinh-te-tu-nhan-don-bay-cho-mot-viet-nam-thinh-vuong-119250318000126845.htm
2, 3, 4. Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân.
5. Mô hình lý thuyết về ảnh hưởng của lãnh đạo số và sự linh hoạt của tổ chức đến sự sẵn sàng chuyển đổi số. https://jst-ud.vn/jst-ud/article/download/8867/6124/20002
6. Chiếm gần 98% tổng số doanh nghiệp, doanh nghiệp nhỏ và vừa đang ở đâu trong nền kinh tế. https://baodautu.vn/chiem-gan-98-tong-so-doanh-nghiep-doanh-nghiep-nho-va-vua-dang-o-dau-trong-nen-kinh-te-d249574.html
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
2. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2024). Báo cáo tình hình phát triển doanh nghiệp tư nhân và những kiến nghị, giải pháp thúc đẩy.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
4.  Trần Thọ Đạt (2020). Kinh tế số: Những vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam. H. NXB Đại học Kinh tế Quốc dân.
5. Võ Đại Lược (2021). Kinh tế tư nhân trong phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
6.  Nguyễn Đăng Minh (2021). Quản trị tinh gọn thực chất trong chuyển đổi số tại các doanh nghiệp Việt Nam. Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
7. Thủ tướng Chính phủ (2020). Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 phê duyệt Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
8. Thủ tướng Chính phủ (2022). Quyết định số 411/QĐ-TTg ngày 31/3/2022 phê duyệt Chiến lược quốc gia phát triển kinh tế số và xã hội đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.  
9. Westerman, G., Bonnet, D., & McAfee, A. (2014). Leading Digital: Turning Technology into Business Transformation. Harvard Business Review Press.