Nguyễn Trọng Bình
Đảng ủy xã Bắc Tân Uyên, TP. Hồ Chí Minh
(Quanlynhanuoc.vn) – Trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 phát triển mạnh mẽ, ứng dụng công nghệ số đã và đang trở thành yêu cầu cấp thiết đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức. Đối với cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở TP. Hồ Chí Minh, việc nâng cao năng lực tư duy lý luận thông qua các nền tảng số không chỉ giúp cập nhật tri thức nhanh chóng mà còn mở rộng không gian thảo luận, trao đổi. Bài viết nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp ứng dụng công nghệ số trong nâng cao năng lực tư duy lý luận cho cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở TP. Hồ Chí Minh trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay.
Từ khóa: Ứng dụng; công nghệ số; tư duy lý luận; cán bộ; cấp cơ sở; TP. Hồ Chí Minh.
1. Đặt vấn đề
Dưới tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, ứng dụng công nghệ số đang trở thành xu thế tất yếu trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có công tác giáo dục lý luận chính trị. Ở TP. Hồ Chí Minh – trung tâm kinh tế, văn hóa, khoa học lớn của cả nước, yêu cầu nâng cao năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở càng trở nên cấp thiết nhằm đáp ứng đòi hỏi của quá trình lãnh đạo, quản lý trong bối cảnh mới. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, việc vận dụng các nền tảng số vào học tập, nghiên cứu và rèn luyện tư duy lý luận ở cấp cơ sở vẫn còn những hạn chế, chưa khai thác hết tiềm năng của dữ liệu số, trí tuệ nhân tạo (AI), học tập trực tuyến hay các công cụ hỗ trợ phân tích. Vì vậy, nghiên cứu ứng dụng công nghệ số trong nâng cao năng lực tư duy lý luận cho cán bộ chủ chốt cấp cơ sở không chỉ là yêu cầu khách quan mà còn là giải pháp quan trọng nhằm đổi mới phương thức bồi dưỡng, phát huy năng lực đội ngũ cán bộ trong thời kỳ chuyển đổi số mạnh mẽ hiện nay.
2. Cơ sở lý luận và vai trò của công nghệ số trong nâng cao tư duy lý luận cho cán bộ chủ chốt cấp cơ sở
Tư duy lý luận là quá trình phản ánh hiện thực ở tầm khái quát, bản chất nhằm xây dựng hệ thống quan điểm khoa học và phương pháp luận đúng đắn để chỉ đạo hoạt động thực tiễn. “Tư duy lý luận là hình thức phát triển cao nhất của tư duy, có vai trò to lớn đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người”1. Theo quan điểm của Ph.Ăngghen: “Một dân tộc muốn đứng vững trên đỉnh cao của khoa học thì không thể không có tư duy lý luận”2. Tư duy lý luận chính là “yếu tố cơ bản bảo đảm cho đội ngũ cán bộ hoàn thành nhiệm vụ và trưởng thành. Đó là khả năng vận dụng các tri thức lý luận khoa học, cách mạng để đội ngũ cán bộ hoàn thành các nhiệm vụ lãnh đạo, quản lý; tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tạo ra những tri thức lý luận mới, đề xuất giải pháp đúng đắn, phù hợp cho những vấn đề thực tiễn đặt ra”3.
Hiện nay, công nghệ số với các thành tựu, như: AI, dữ liệu lớn (Big Data), điện toán đám mây, hệ thống mô phỏng, thực tế ảo (VR/AR), nền tảng học trực tuyến… đang tạo nên bước chuyển quan trọng trong phương thức học tập, nghiên cứu lý luận và ra quyết định của cán bộ. Những công nghệ này cho phép mở rộng không gian và thời gian học tập; cung cấp lượng tri thức khổng lồ, chính xác và cập nhật theo thời gian thực; hỗ trợ phân tích, mô phỏng các tình huống thực tiễn; đồng thời, tạo điều kiện cho cán bộ tương tác, trao đổi thông tin nhanh chóng, hiệu quả. Có thể thấy, vai trò của công nghệ số đối với việc nâng cao tư duy lý luận cho cán bộ chủ chốt cấp cơ sở được thể hiện trên một số phương diện sau:
Một là, công nghệ số mở ra khả năng tiếp cận tri thức lý luận một cách nhanh chóng, đa dạng và có hệ thống. Thông qua các nền tảng học tập trực tuyến, thư viện số và các công cụ phân tích dữ liệu, cán bộ dễ dàng tiếp cận kho tàng lý luận Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng cũng như những công trình nghiên cứu khoa học mới. Việc tiếp cận tri thức thuận lợi giúp cán bộ hình thành tư duy lý luận sâu sắc hơn, kịp thời cập nhật tri thức mới, từ đó, nâng cao năng lực phân tích, tổng hợp và xử lý các vấn đề thực tiễn đặt ra ở cơ sở.
Hai là, công nghệ số tạo điều kiện nâng cao khả năng tư duy phản biện và tư duy hệ thống thông qua việc hỗ trợ phân tích dữ liệu, mô phỏng các tình huống quản lý, dự báo xu hướng phát triển kinh tế – xã hội. Các ứng dụng AI, Big Data giúp cán bộ nhận diện đúng bản chất vấn đề, phân tích nguyên nhân và dự báo tác động, từ đó, củng cố năng lực tư duy lý luận theo hướng khoa học, khách quan và thực tiễn hơn. Công nghệ số cũng giúp quá trình học tập lý luận trở nên sinh động, trực quan, gắn kết lý luận với thực tiễn qua các mô hình tương tác, bài giảng số, hệ thống câu hỏi – tình huống.
Ba là, việc ứng dụng công nghệ số còn thúc đẩy sự chủ động, tự giác học tập của cán bộ. Các nền tảng quản lý học tập (LMS) cho phép cá nhân xây dựng kế hoạch học tập linh hoạt, đánh giá mức độ tiến bộ, từ đó, phát triển tư duy lý luận một cách liên tục và bền vững. Công nghệ số cũng góp phần mở rộng môi trường trao đổi học thuật, tăng cường diễn đàn trực tuyến, tọa đàm chuyên đề giúp cán bộ giao lưu, chia sẻ kinh nghiệm và nâng cao tư duy lý luận thông qua tương tác đa chiều.
Như vậy, công nghệ số không chỉ là công cụ hỗ trợ mà còn là môi trường thúc đẩy sự đổi mới và phát triển tư duy lý luận của cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở Việt Nam nói chung, ở TP. Hồ Chí Minh nói riêng. Việc khai thác hiệu quả công nghệ số sẽ góp phần nâng cao năng lực tư duy, bản lĩnh chính trị và chất lượng lãnh đạo của đội ngũ cán bộ trong bối cảnh mới.
3. Những vấn đề đặt ra
Dưới tác động mạnh mẽ của chuyển đổi số và sự phổ cập rộng rãi của các nền tảng công nghệ hiện đại, việc ứng dụng công nghệ số trong nâng cao năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở TP. Hồ Chí Minh vừa mở ra nhiều cơ hội, vừa đặt ra không ít vấn đề cần được nhận diện và giải quyết kịp thời. Thực tiễn cho thấy, quá trình ứng dụng công nghệ số vào công tác giáo dục lý luận chính trị ở cơ sở đang đứng trước một số nhóm vấn đề lớn, đòi hỏi sự quan tâm đồng bộ của các cấp, các ngành.
Thứ nhất, vấn đề về nhận thức và năng lực tiếp cận công nghệ của một bộ phận cán bộ chủ chốt vẫn còn hạn chế. Trong điều kiện khối lượng công việc lớn, áp lực thực tiễn cao, không ít cán bộ cơ sở chưa dành sự đầu tư tương xứng cho việc cập nhật kỹ năng số, dẫn đến tâm lý e ngại hoặc sử dụng công nghệ ở mức tối thiểu. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng khai thác các hệ thống học tập trực tuyến, kho dữ liệu số hay công cụ phân tích thông tin phục vụ quá trình tư duy lý luận. Nhận thức chưa đầy đủ dễ dẫn tới tình trạng ứng dụng công nghệ theo phong trào, hình thức, thiếu chiều sâu và hiệu quả thực chất.
Thứ hai, hạ tầng công nghệ số tại một số địa bàn cơ sở còn chưa đồng bộ, nhất là ở những khu vực ngoại thành hoặc nơi có mật độ dân cư thấp. Việc thiếu hệ thống mạng ổn định, thiết bị truy cập hạn chế hoặc nền tảng số chưa được tối ưu hóa gây khó khăn cho việc tổ chức các hoạt động học tập, bồi dưỡng lý luận chính trị theo hình thức trực tuyến hoặc kết hợp. Hạ tầng không đáp ứng được yêu cầu sẽ kìm hãm tốc độ tiếp nhận tri thức mới, làm giảm chất lượng và tính tương tác trong quá trình học tập của cán bộ.
Thứ ba, nguồn học liệu số về lý luận chính trị mặc dù phong phú nhưng chưa thật sự chuẩn hoá và hệ thống hóa. Một bộ phận tài liệu còn trùng lặp, thiếu cập nhật hoặc tản mạn giữa nhiều nền tảng, gây lúng túng cho cán bộ trong việc lựa chọn, đối chiếu và vận dụng. Nếu không có bộ tiêu chuẩn chung, cơ chế thẩm định rõ ràng và hệ thống tích hợp thông minh, cán bộ rất dễ tiếp cận phải những nguồn thông tin thiếu tính chính xác hoặc chưa phù hợp, ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình tư duy lý luận và khả năng đề xuất giải pháp thực tiễn.
Thứ tư, thách thức từ môi trường thông tin số ngày càng phức tạp. Không gian mạng chứa lượng lớn thông tin đa chiều, trong đó có cả thông tin sai lệch, xuyên tạc, thù địch đối với nền tảng tư tưởng của Đảng. Nếu cán bộ không được trang bị kỹ năng phân tích, sàng lọc, phản biện và định hướng thông tin thì rất dễ bị tác động tiêu cực, làm suy giảm chất lượng tư duy lý luận. Trong bối cảnh đó, việc ứng dụng công nghệ số không chỉ là công cụ hỗ trợ mà còn đòi hỏi cán bộ phải làm chủ phương pháp tiếp cận và phòng vệ thông tin.
Những vấn đề trên cho thấy, để ứng dụng công nghệ số thực sự trở thành động lực nâng cao năng lực tư duy lý luận cho cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở TP. Hồ Chí Minh, cần có cách tiếp cận toàn diện, đồng bộ và bền vững, kết hợp giữa hoàn thiện hạ tầng, nâng cao nhận thức, chuẩn hóa học liệu và tăng cường kỹ năng xử lý thông tin số cho đội ngũ cán bộ.
4. Một số giải pháp
Một là, xây dựng và phát triển hệ sinh thái học tập lý luận chính trị số dành cho cán bộ chủ chốt cấp cơ sở. Hệ sinh thái học tập số không chỉ là tập hợp các công cụ, phần mềm hay kho dữ liệu điện tử mà là một môi trường toàn diện, nơi các chủ thể tham gia có thể tương tác, trao đổi, khai thác tri thức một cách thông minh, liên tục và cá nhân hóa. Điều này đặc biệt quan trọng đối với đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở – những người trực tiếp lãnh đạo, tổ chức thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng tại địa bàn dân cư, đơn vị cơ sở.
Cần hình thành hệ thống nền tảng học tập trực tuyến thống nhất, tích hợp đầy đủ các chương trình, bài giảng, tài liệu lý luận chính trị được số hóa theo chuẩn chung, bảo đảm tính chính thống, khoa học và cập nhật. Các nền tảng này phải được xây dựng trên cơ sở ứng dụng AI, Big Data nhằm gợi ý nội dung học tập phù hợp cho từng vị trí công tác, từng nhóm cán bộ; đồng thời, cho phép theo dõi tiến độ, đánh giá mức độ tiếp thu, tạo động lực học tập thường xuyên. Việc số hóa và chuẩn hóa tài liệu lý luận chính trị giúp cán bộ dễ dàng truy cập mọi lúc, mọi nơi, giảm phụ thuộc vào lớp học truyền thống, phù hợp với cường độ công tác cao của đội ngũ cán bộ cơ sở.
Bên cạnh đó, việc xây dựng hệ sinh thái học tập lý luận chính trị số còn cần sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, ban, ngành, đặc biệt là giữa Ban Tuyên giáo và Dân vận Thành ủy TP. Hồ Chí Minh với Học viện Cán bộ TP. Hồ Chí Minh nhằm hình thành mạng lưới cung cấp nội dung phong phú, đa chiều, tránh trùng lặp; đồng thời, tăng cường kiểm duyệt, bảo đảm an toàn thông tin, ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch lợi dụng môi trường số để xuyên tạc. Khi hệ sinh thái được vận hành đồng bộ, cán bộ chủ chốt cấp cơ sở có thể học tập, nghiên cứu, trao đổi, cập nhật lý luận một cách chủ động, liên tục và hiệu quả, qua đó, góp phần nâng cao chất lượng lãnh đạo, quản lý trong tình hình mới.
Hai là, xây dựng môi trường trao đổi, thảo luận và phản biện số. Môi trường trao đổi số cần được thiết kế theo hướng mở, đa chiều, tạo điều kiện để cán bộ mạnh dạn nêu ý kiến, phân tích vấn đề và đưa ra những luận cứ phản biện khoa học; đồng thời, hạn chế tâm lý e dè, ngại va chạm trong thảo luận. Thông qua các nền tảng trực tuyến, như: diễn đàn học tập chính trị số, các nhóm thảo luận chuyên đề, hệ thống hỏi đáp chính sách, hay các lớp học trực tuyến có tích hợp công cụ tương tác, cán bộ có thể trực tiếp tranh luận, tập dượt tư duy phản biện và nâng cao khả năng lập luận logic, khoa học.
Bên cạnh đó, cần khai thác hiệu quả các công cụ tương tác trực tuyến, như: phân tích dữ liệu, bình chọn ý kiến, hệ thống nhận diện chủ đề, từ khóa… nhằm nâng cao chất lượng thảo luận và phản biện. Việc ứng dụng các công nghệ này giúp tổng hợp nhanh thông tin, minh bạch hóa nội dung trao đổi; đồng thời, hỗ trợ cán bộ đánh giá nhiều chiều các quan điểm khác nhau. Môi trường thảo luận số không chỉ cung cấp thông tin mà còn tạo cơ hội hình thành văn hóa tranh luận lành mạnh, dựa trên cơ sở khoa học, pháp lý và thực tiễn địa phương.
Ngoài ra, cần xây dựng quy chế, hướng dẫn và nguyên tắc sử dụng các không gian trao đổi số nhằm bảo đảm tuân thủ kỷ luật phát ngôn, giữ vững định hướng chính trị và ngăn chặn việc lợi dụng môi trường số để lan truyền thông tin sai lệch. Công tác quản trị, điều phối thảo luận phải được thực hiện bài bản, bảo đảm sự tham gia tích cực của đội ngũ chuyên gia, giảng viên lý luận chính trị và các cơ quan tham mưu.
Việc phát triển môi trường trao đổi, thảo luận và phản biện số cần được xem như một nhiệm vụ thường xuyên, gắn với chương trình chuyển đổi số của thành phố. Khi được tổ chức khoa học, hiện đại và an toàn, đây sẽ là “không gian học thuật số” quan trọng, góp phần nâng cao hiệu quả rèn luyện tư duy lý luận, giúp cán bộ chủ chốt cấp cơ sở đáp ứng tốt hơn yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới.
Ba là, hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu số phục vụ công tác tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận.
Trong bối cảnh khối lượng thông tin ngày càng lớn, đa dạng và biến đổi nhanh, việc xây dựng một hệ thống dữ liệu số đồng bộ, thống nhất, dễ truy cập không chỉ đáp ứng yêu cầu quản lý khoa học mà còn tạo nền tảng để nâng cao năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở TP. Hồ Chí Minh một cách bền vững. Một hệ thống dữ liệu hoàn chỉnh sẽ giúp cán bộ có khả năng tiếp cận nhanh chóng với thông tin chính thống, có độ tin cậy cao, từ đó, nâng cao chất lượng đánh giá, dự báo và vận dụng lý luận vào thực tiễn.
(1) Cần tập trung xây dựng cơ sở dữ liệu số hóa toàn diện về tình hình kinh tế – xã hội, quốc phòng – an ninh, công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị ở cơ sở. Đây phải là nguồn dữ liệu mở, được cập nhật thường xuyên, có cấu trúc khoa học và liên kết chặt chẽ giữa các lĩnh vực. Dữ liệu cần được tổ chức theo dạng bảng, biểu đồ, bản đồ số, kết hợp với kho lưu trữ văn bản, báo cáo, kết quả khảo sát, mô hình hay, cách làm hiệu quả từ các địa phương. Việc số hóa này không chỉ giúp giảm thời gian tra cứu mà còn hỗ trợ cán bộ phân tích xu hướng, so sánh, đối chiếu với các mô hình lý luận đã có, từ đó, rút ra bài học thực tiễn xác đáng hơn.
(2) Hoàn thiện hạ tầng và các công cụ phân tích dữ liệu nhằm hỗ trợ cán bộ trong quá trình xử lý thông tin. Hệ thống phải được tích hợp các công nghệ, như: phân tích Big Data, AI và các mô hình gợi ý thông minh để giúp người dùng nhận diện vấn đề, phát hiện mối liên hệ giữa các dữ liệu rời rạc cũng như đưa ra dự báo phục vụ công tác hoạch định và đề xuất giải pháp. Đây là yếu tố quan trọng để cán bộ nâng cao năng lực lập luận, phân tích và tư duy phản biện trong môi trường số.
(3) Cần có cơ chế chia sẻ, liên thông dữ liệu giữa các cơ quan, đơn vị trên địa bàn thành phố, bảo đảm tính thống nhất, tránh phân mảnh. Đồng thời, cần tăng cường bảo mật thông tin, phân quyền truy cập phù hợp, bảo đảm dữ liệu được khai thác đúng mục đích, phục vụ hiệu quả cho nhiệm vụ tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận. Một hệ thống cơ sở dữ liệu số được hoàn thiện không chỉ là công cụ làm việc mà còn là “nguồn tri thức số” quan trọng, góp phần phát triển tư duy lý luận của cán bộ chủ chốt cấp cơ sở trong thời kỳ chuyển đổi số toàn diện hiện nay.
Bốn là, bồi dưỡng kỹ năng số và nâng cao nhận thức về an toàn thông tin cho cán bộ chủ chốt cấp cơ sở.
Đây là yêu cầu cấp thiết trong bối cảnh đô thị thông minh, chính quyền điện tử và các hoạt động lãnh đạo, quản lý ngày càng dựa trên nền tảng số. Trong thực tế, năng lực sử dụng công nghệ của đội ngũ cán bộ cơ sở vẫn không đồng đều; một số đồng chí còn hạn chế trong khai thác dữ liệu, phân tích thông tin hay xử lý tình huống phát sinh trên môi trường mạng. Vì vậy, việc tổ chức các chương trình đào tạo, bồi dưỡng có tính hệ thống, phù hợp đối tượng, bám sát yêu cầu nhiệm vụ chính trị tại địa phương là điều kiện để nâng cao hiệu quả ứng dụng công nghệ số vào rèn luyện tư duy lý luận.
Cần xây dựng chương trình bồi dưỡng kỹ năng số theo hướng thực hành, tập trung vào các nội dung thiết yếu, như: khai thác dữ liệu trực tuyến, sử dụng các nền tảng quản lý công việc, học tập trực tuyến, phân tích thông tin đa nguồn và kỹ năng đánh giá nhanh các vấn đề xã hội đặt ra trên môi trường số. Quá trình bồi dưỡng phải gắn với nhiệm vụ thực tiễn, giúp cán bộ biết vận dụng công nghệ trong tham mưu, tuyên truyền, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, nhận diện thông tin xấu độc và hiểu đúng về những vấn đề lý luận – thực tiễn đang đặt ra đối với TP. Hồ Chí Minh hiện nay.
Một nội dung quan trọng khác là giáo dục, nâng cao nhận thức về an toàn thông tin. Nhiều vụ lộ lọt, giả mạo tài khoản, xuyên tạc thông tin, tấn công mạng xảy ra thời gian qua cho thấy nếu không trang bị kiến thức đầy đủ về bảo mật, cán bộ dễ trở thành đối tượng bị khai thác, tác động, thậm chí lợi dụng để phát tán thông tin sai lệch. Bồi dưỡng an toàn thông tin cần chú trọng các kỹ năng bảo mật thiết bị, quản lý tài khoản, nhận biết rủi ro khi sử dụng mạng xã hội, phòng chống lừa đảo trực tuyến và xử lý sự cố thông tin.
Việc nâng cao kỹ năng số không chỉ diễn ra theo những lớp bồi dưỡng truyền thống, mà cần triển khai đa dạng hình thức như học trực tuyến, học qua sự kiện thực hành, diễn tập tình huống an ninh mạng, chia sẻ kinh nghiệm giữa các địa bàn. Đồng thời, khuyến khích cán bộ tự học, tự cập nhật kiến thức thông qua các khóa học mở, nền tảng học tập số, từ đó, hình thành thói quen ứng dụng công nghệ trong mọi hoạt động chuyên môn.
5. Kết luận
Ứng dụng công nghệ số trong nâng cao năng lực tư duy lý luận cho cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở TP. Hồ Chí Minh hiện nay là xu thế tất yếu, phù hợp với yêu cầu đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng và nhiệm vụ phát triển thành phố trong công cuộc cách mạng công nghiệp 4.0. Việc tận dụng các nền tảng số, AI, cơ sở dữ liệu mở, hệ thống học tập trực tuyến… đã và đang tạo ra điều kiện thuận lợi để cán bộ tiếp cận tri thức nhanh hơn, rộng hơn, qua đó, góp phần đổi mới tư duy, nâng cao năng lực phân tích, nhận định và xử lý các vấn đề thực tiễn. Tuy nhiên, để quá trình ứng dụng đạt hiệu quả bền vững cần tiếp tục đầu tư hạ tầng số, hoàn thiện cơ chế, tăng cường bảo đảm an toàn thông tin; đồng thời, đào tạo đội ngũ cán bộ có khả năng vận hành, sử dụng công nghệ một cách sáng tạo. Trong bối cảnh mới, việc ứng dụng công nghệ số không chỉ là giải pháp kỹ thuật mà còn là yêu cầu mang tính chiến lược nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt có tư duy lý luận sắc bén, bản lĩnh chính trị vững vàng, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn hiện nay.
Chú thích:
1, 3. Nguyễn Thành Dũng (2023). Nâng cao năng lực tư duy lý luận của đội ngũ cán bộ theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng. Tạp chí Triết học và Đời sống, số 2 (12/2023), tr. 58 – 64.
2. C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập (1995). Tập 20. H. NXB Chính trị quốc gia, tr. 489.
Tài liệu tham khảo:
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Tập I. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
2. Nguyễn Văn Linh (1987). Cách mạng tháng Mười và cách mạng Việt Nam. Tạp chí Cộng sản, số 11 (11/1987), tr. 6.
3. Công tác tư tưởng, lý luận trong bối cảnh chuyển đổi số. https://lyluanchinhtrivatruyenthong.vn/cong-tac-tu-tuong-ly-luan-trong-boi-canh-chuyen-doi-so-p29338.html
4. Phát triển năng lực số cho công chức thông qua đào tạo, bồi dưỡng. https://lyluanchinhtri.vn/phat-trien-nang-luc-so-cho-cong-chuc-thong-qua-dao-tao-boi-duong-7162.html



