ThS. Lê Tự Cảnh
Trường Đại học Đông Á
(Quanlynhanuoc.vn) – Quản lý nhà nước đối với hoạt động xã hội của Phật giáo là một trong những hoạt động quan trọng trong hệ thống bảo đảm an sinh xã hội của Việt Nam. Trên cơ sở đánh giá thực tiễn tại phường An Thắng, thành phố Đà Nẵng, bài viết nêu những điểm còn hạn chế, bất cập trong công tác quản lý và gợi mở các giải pháp đổi mới nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, bảo đảm việc triển khai tổ chức các hoạt động xã hội của Phật giáo được diễn ra đúng pháp luật trong bối cảnh sau sáp nhập các đơn vị hành chính tại Đà Nẵng.
Từ khóa: Quản lý nhà nước; an sinh xã hội; hoạt động xã hội; Phật giáo; phường An Khánh, Đà Nẵng.
1. Đặt vấn đề
Thực hiện chủ trương tinh gọn bộ máy, việc sáp nhập các đơn vị hành chính tại Đà Nẵng đã hình thành diện mạo mới cho phường An Thắng, đồng thời, đặt ra yêu cầu nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động xã hội của Phật giáo.
Sau sáp nhập, những biến động về quy mô địa bàn, số lượng cơ sở tự viện và tín đồ gia tăng, cùng sự khác biệt trong phương thức tổ chức hoạt động giữa các đơn vị cũ, đặt ra thách thức đối với công tác quản lý, đặc biệt trong bảo đảm an ninh tôn giáo và phòng ngừa việc lợi dụng hoạt động xã hội vì mục đích tiêu cực. Do đó, việc nghiên cứu, đánh giá toàn diện thực trạng các hoạt động xã hội của Phật giáo, đề xuất giải pháp khả thi, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động xã hội của Phật giáo tại phường An Thắng, bảo đảm tuân thủ pháp luật và thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội bền vững tại địa phương.
2. Quan điểm, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước
Từ năm 1986, công cuộc đổi mới đã tạo bước chuyển quan trọng trong nhận thức và chính sách về tôn giáo. Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 16/10/1990 của Bộ Chính trị về tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới, khẳng định quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là quyền cơ bản của con người; thừa nhận tôn giáo là nhu cầu tinh thần chính đáng của một bộ phận nhân dân và khuyến khích các hoạt động xã hội, từ thiện trong khuôn khổ pháp luật.
Trải qua các kỳ Đại hội, việc quản lý tôn giáo nói chung và đối với các hoạt động xã hội của Phật giáo nói riêng được củng cố và kiện toàn. Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định yêu cầu phát huy vai trò tích cực của tôn giáo trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và tăng cường tính chủ động trong công tác tôn giáo. Đồng thời, trong Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 10 năm 2021 – 2030, Đảng nhấn mạnh mục tiêu thực hiện đoàn kết tôn giáo, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng theo pháp luật, phát huy giá trị văn hóa, đạo đức của tôn giáo gắn với xây dựng đời sống văn hóa cơ sở và ưu tiên thực hiện các chính sách an sinh xã hội, đặc biệt đối với nhóm yếu thế và người nghèo.
Song song với đó, Nhà nước cũng từng bước hoàn thiện khung pháp lý về tín ngưỡng, tôn giáo, bảo đảm cơ sở pháp lý cho hoạt động tôn giáo trong giai đoạn mới. Điều 55 Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo năm 2016 quy định rõ quyền của các tổ chức tôn giáo trong tham gia giáo dục, y tế, bảo trợ xã hội, từ thiện và nhân đạo; Nghị định số 93/2019/NĐ-CP ngày 25/11/2019 của Chính phủ xác lập nguyên tắc tổ chức, hoạt động quỹ xã hội, quỹ từ thiện theo định hướng phi lợi nhuận, hỗ trợ nhóm yếu thế. Hệ thống văn bản dưới luật được ban hành tương đối đồng bộ, như Thông tư số 01/2013/TT-BNV ngày 25/3/2013 của Bộ Nội vụ; Nghị định số 20/2021/NĐ-CP ngày 15/3/2021 của Chính phủ và Quyết định số 491/QĐ-BNV ngày 10/7/2024 của Bộ Nội vụ… đã góp phần chuẩn hóa thủ tục hành chính, bảo đảm quản lý minh bạch, thống nhất. Đồng thời, các chính sách khuyến khích xã hội hóa và hỗ trợ về đất đai, tài chính, thuế và khen thưởng theo Luật Đất đai, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp và Luật Thi đua – Khen thưởng đã tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức tôn giáo tham gia hoạt động xã hội. Tổng thể, hệ thống pháp luật hiện hành bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; đồng thời, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước và thúc đẩy thực hiện mục tiêu an sinh xã hội.
3. Thực trạng công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động xã hội của Phật giáo trên địa bàn phường An Thắng
3.1. Tình hình của phường An Thắng sau sáp nhập
Phường An Thắng có vị trí địa lý – kinh tế đặc biệt quan trọng của thành phố Đà Nẵng và là vùng kinh tế trọng điểm của khu vực. Phường có diện tích tự nhiên là 19,64 km². Tính tới tháng 7/2025, phường có tổng dân số là 34,176 người, với cơ cấu lao động đa dạng, ngành nghề phong phú, phản ánh đặc trưng của một địa bàn đang phát triển mạnh về đô thị và dịch vụ1.
Từ ngày 01/7/2025, thành phố Đà Nẵng (trên cơ sở hợp nhất thành phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam) chính thức hoạt động2. Theo đó, phường An Thắng được thành lập dựa trên sự hợp nhất nguyên trạng 3 đơn vị hành chính, vốn đã có lịch sử phát triển lâu đời và mang những giá trị văn hóa đặc sắc đó là phường Điện An, Điện Thắng Nam và Điện Thắng Trung của thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam cũ. Sau sáp nhập, phường An Thắng trở thành một trong những tâm điểm chú ý với sự phát triển vượt bậc về kinh tế, văn hóa – xã hội, đánh dấu một bước ngoặt trong việc tối ưu hóa quản lý hành chính và thúc đẩy phát triển bền vững.
Theo số liệu của tác giả khảo sát, toàn phường An Thắng hiện có 5 cơ sở sinh hoạt Phật giáo thuộc hệ phái Bắc tông Đại thừa (Phong Quang, Liên Hoa, Vĩnh Gia, Châu Phong, Từ Tâm), với 171 chức sắc, chức việc và hơn 1.500 tín đồ. Tổng số tăng ni, điệu chúng là 85 vị. Tổ chức gia đình Phật tử duy trì hoạt động ổn định với 5 đơn vị, 45 huynh trưởng và 228 đoàn sinh. Các câu lạc bộ thanh thiếu niên Phật tử tại cơ sở cũng được hình thành, thu hút đông đảo giới trẻ tham gia tu học dưới sự hướng dẫn của trụ trì. Công tác hướng dẫn Phật tử được quan tâm thông qua các đạo tràng và khóa tu thường kỳ, quy tụ từ 40 – 100 Phật tử; các khóa tu thập thiện dành cho cư sĩ được tổ chức hằng tháng, thu hút 50 – 80 người tham gia.
3.2. Công tác quản lý đối với hoạt động xã hội của Phật giáo trên địa bàn phường
(1) Trong lĩnh vực giáo dục.
Những năm qua các cơ sở Phật giáo trên địa bàn phường An Thắng tích cực triển khai hoạt động giáo dục xã hội, như: tổ chức lớp học tình thương, trao học bổng, hỗ trợ học sinh nghèo. Hiện có 2 lớp học tình thương dành cho trẻ mồ côi, hoàn cảnh đặc biệt, được tổ chức miễn phí 3 buổi/tuần do tang ni và Phật tử đảm trách. Hằng năm, các chùa đăng ký tổ chức khóa tu mùa hè ngắn hạn, thu hút khoảng 150 thanh thiếu niên/cơ sở, góp phần giáo dục đạo đức, kỹ năng sống và phòng ngừa tệ nạn xã hội. Tuy nhiên, chưa có cơ chế phối hợp chính thức giữa chính quyền và cơ sở Phật giáo trong phát triển giáo dục mầm non hoặc đào tạo nghề, hạn chế tính hệ thống và bền vững của hoạt động.
Hoạt động giáo dục chủ yếu tận dụng không gian chùa (giảng đường, phòng sinh hoạt chung), giúp tiết kiệm chi phí nhưng còn nhiều hạn chế về diện tích, trang thiết bị, tài liệu và điều kiện an toàn. Khi số lượng người học tăng, đặc biệt vào mùa hè, tình trạng quá tải xảy ra. Nguồn kinh phí chủ yếu dựa vào đóng góp xã hội hóa, chưa có hỗ trợ thường xuyên. Công tác quản lý nhà nước mới dừng ở kiểm tra, nhắc nhở, chưa có giải pháp nâng cấp cơ sở vật chất, ảnh hưởng đến hiệu quả và khả năng mở rộng mô hình.
Đội ngũ và đối tượng hướng đến, đội ngũ thực hiện gồm gần 20 tăng, ni và 46 Phật tử tình nguyện tại 5 cơ sở, đảm nhiệm giảng dạy kiến thức cơ bản, kỹ năng sống và tổ chức khóa tu; một số giáo viên, sinh viên địa phương tham gia hỗ trợ chuyên môn. Đối tượng thụ hưởng chủ yếu là trẻ em khó khăn, mồ côi, học sinh yếu và thanh thiếu niên. Một số chương trình còn thu hút sinh viên, phụ huynh. Tuy nhiên, công tác thống kê, phân loại nhu cầu còn hạn chế; quy mô tiếp nhận phụ thuộc điều kiện từng cơ sở, thiếu cơ chế liên kết và phân bổ nguồn lực giữa các cơ sở Phật giáo.
Nhìn chung, sự tham gia của Phật giáo trong lĩnh vực giáo dục tại phường An Thắng hiện còn ở mức khiêm tốn, chủ yếu tập trung vào các hoạt động hỗ trợ mang tính bổ trợ xã hội. Điều này góp phần lý giải tỷ lệ người dân ghi nhận hoạt động giáo dục của Phật giáo ở mức thấp, đồng thời, phản ánh những giới hạn nhất định trong việc mở rộng và phát huy vai trò của Phật giáo trong lĩnh vực giáo dục xã hội tại địa phương.
(2) Trong lĩnh vực y tế.
Trong bối cảnh tăng cường xã hội hóa hoạt động chăm sóc sức khỏe cộng đồng, các hoạt động từ thiện y tế của Phật giáo tại phường An Thắng thời gian qua có xu hướng gia tăng cả về tần suất lẫn quy mô phục vụ. Dưới sự hỗ trợ và tạo điều kiện của chính quyền địa phương, mô hình phối hợp giữa cơ sở Phật giáo và các phòng chẩn trị y học cổ truyền tư nhân đã góp phần bổ sung nguồn lực cho hệ thống y tế cơ sở, đặc biệt đối với nhóm dân cư dễ bị tổn thương, như người nghèo, người cao tuổi và người có hoàn cảnh khó khăn. Việc tổ chức khám, tư vấn và cấp phát thuốc miễn phí định kỳ (1 – 3 ngày/đợt), với số lượng trên 150 lượt người/ngày, cho thấy, vai trò nhất định của mạng lưới hoạt động xã hội của Phật giáo trong việc hỗ trợ an sinh xã hội ở cấp cơ sở.
Tuy nhiên, xét dưới góc độ thể chế và quản trị công, mô hình này chủ yếu vận hành theo cơ chế liên kết tự nguyện, thiếu nền tảng pháp lý và tổ chức ổn định. Trên địa bàn hiện chưa tồn tại cơ sở y tế chuyên biệt do Phật giáo trực tiếp thành lập và quản lý như Tuệ Tĩnh đường hoặc phòng khám y học cổ truyền hoạt động thường xuyên… dẫn đến việc cung ứng dịch vụ phụ thuộc vào nguồn lực bên ngoài và tính sẵn sàng của đội ngũ chuyên môn. Sự phụ thuộc này làm gia tăng tính bất định về thời gian, phạm vi và chất lượng dịch vụ; đồng thời, hạn chế khả năng tích hợp hoạt động vào hệ thống chăm sóc sức khỏe ban đầu tại địa phương.
Ở phương diện quản lý nhà nước, các hoạt động y tế xã hội do Phật giáo tham gia triển khai tại phường An Thắng hiện được quản lý chủ yếu theo hướng hành chính, thủ tục, tập trung vào việc cấp phép, thẩm định kế hoạch và giám sát theo từng đợt hoạt động nhằm bảo đảm tuân thủ quy định của pháp luật về khám, chữa bệnh nhân đạo. Hệ quả là các hoạt động y tế xã hội của Phật giáo tại phường An Thắng tuy có ý nghĩa nhân đạo và tác động tích cực trước mắt, nhưng chưa đạt được tính ổn định và bền vững, chưa tạo được mạng lưới chăm sóc sức khỏe cộng đồng gắn với sinh hoạt tín ngưỡng Phật giáo. Điều này đặt ra yêu cầu cần đổi mới phương thức quản lý nhà nước theo hướng đồng hành, hỗ trợ và phối hợp liên ngành, nhằm phát huy hiệu quả lâu dài của các hoạt động y tế xã hội do Phật giáo tham gia thực hiện
(3) Trong lĩnh vực từ thiện.
Đối với hoạt động cứu trợ đột xuất, Phật giáo phường An Thắng phối hợp với chính quyền, Mặt trận Tổ quốc phường và các đoàn thể triển khai hiệu quả hoạt động cứu trợ khẩn cấp, hỗ trợ kịp thời các trường hợp khó khăn trên địa bàn. Hằng năm, nguồn lực xã hội hóa được huy động để thực hiện cứu trợ thiên tai, hỗ trợ hộ nghèo, chăm sóc người già neo đơn, thăm hỏi gia đình chính sách và xây dựng công trình dân sinh.
Đối với hoạt động bảo trợ thường xuyên, mặc dù chưa có cơ sở bảo trợ chuyên biệt, các cơ sở Phật giáo trên địa bàn vẫn trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ mồ côi và người già neo đơn. Hiện chùa Châu Phong nuôi dưỡng 4 trẻ bị bỏ rơi và 2 người cao tuổi; chùa Từ Tâm bảo trợ 4 cụ già không nơi nương tựa. Đồng thời, Phật giáo phường hỗ trợ định kỳ khoảng 30 triệu đồng/tháng cho Trung tâm Giáo dục trẻ khuyết tật Điện Bàn và tổ chức cấp phát gạo, nhu yếu phẩm hằng tháng cho các hộ khó khăn, góp phần cải thiện đời sống và hỗ trợ giảm nghèo bền vững trên địa bàn
Từ thực tiễn cho thấy, các hoạt động từ thiện xã hội của Phật giáo hiện vẫn mang tính tự phát, quy mô nhỏ và phụ thuộc nhiều vào nguồn thiện nguyện xã hội hóa cũng như uy tín cá nhân. Công tác quản lý nhà nước đối với lĩnh vực này chủ yếu dừng ở việc giám sát và phối hợp hành chính theo từng chương trình, chưa gắn kết chặt chẽ với quy hoạch an sinh xã hội chung của địa phương, trong khi đội ngũ tham gia hoạt động còn hạn chế về kỹ năng chuyên môn xã hội. Điều này đặt ra yêu cầu cần tăng cường vai trò định hướng, hỗ trợ và phối hợp liên ngành của chính quyền địa phương nhằm nâng cao tính bền vững và chuyên nghiệp của các hoạt động bảo trợ xã hội do Phật giáo thực hiện trong thời gian tới.
3.3. Đánh giá chung
Về kết quả, công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động Phật giáo tại phường An Thắng đã đạt được một số kết quả đáng ghi nhận, phản ánh vai trò chủ động của chính quyền cơ sở và sự đồng thuận của cộng đồng tôn giáo.
Thứ nhất, vai trò chủ thể quản lý của UBND phường được thể hiện rõ thông qua việc tăng cường kiểm tra, giám sát thường xuyên các hoạt động xã hội do tôn giáo tổ chức. Nhờ cơ chế theo dõi kịp thời, các vi phạm hành chính ở mức độ nhẹ, đặc biệt liên quan đến trật tự trong quá trình tổ chức sự kiện, được phát hiện và chấn chỉnh ngay từ giai đoạn đầu, qua đó góp phần duy trì ổn định an ninh – trật tự trên địa bàn.
Thứ hai, công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật được triển khai tương đối hiệu quả. 100% cơ sở Phật giáo trên địa bàn nắm được các quy định liên quan đến vận động quyên góp và hoạt động cứu trợ xã hội. Các hoạt động từ thiện từng bước chuyển từ tính chất tự phát sang có kế hoạch, thực hiện thông báo và phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phường, góp phần bảo đảm tính minh bạch và phân bổ nguồn lực đúng đối tượng thụ hưởng.
Thứ ba, chính quyền phường đã chủ động lồng ghép hoạt động Phật giáo với các chương trình, phong trào của thành phố Đà Nẵng như xây dựng nông thôn mới, xóa nhà tạm, bảo vệ môi trường và các chiến dịch vệ sinh cộng đồng. Cách tiếp cận này không chỉ phát huy nguồn lực hoạt động xã hội trong phát triển địa phương mà còn góp phần hình thành nếp sống văn minh đô thị.
Thứ tư, đội ngũ cán bộ chuyên trách thực hiện tương đối tốt chức năng giám sát và định hướng, bảo đảm các hoạt động xã hội của Phật giáo diễn ra đúng tôn chỉ, mục đích. Đồng thời, công tác quản lý đã góp phần ngăn chặn tình trạng lợi dụng danh nghĩa Phật giáo để thực hiện hành vi mê tín dị đoan hoặc kêu gọi quyên góp trái phép, qua đó bảo vệ uy tín của các cơ sở tôn giáo hợp pháp trên địa bàn.
Tuy nhiên, cũng còn có những hạn chế, như: (1) Hệ thống pháp luật hiện hành chưa hoàn toàn theo kịp tốc độ phát triển của thực tiễn, đặc biệt là trong bối cảnh chuyển đổi số và sự mở rộng địa bàn quản lý sau khi sáp nhập hành chính. Khoảng trống pháp lý này có thể gây khó khăn cho công tác quản lý của nhà nước và tiềm ẩn nguy cơ phát sinh những vấn đề phức tạp. (2) Hiệu quả quản lý nhà nước đối với triển khai các hoạt động xã hội của Phật giáo còn bị ảnh hưởng bởi sự thiếu đồng bộ trong cơ chế, tổ chức bộ máy phối hợp liên ngành. Sự phối hợp quản lý các hoạt động xã hội của tôn giáo giữa các sở, ban, ngành và chính quyền địa phương chưa chặt chẽ, dẫn đến tình trạng chồng chéo chức năng hoặc bỏ sót nhiệm vụ, làm giảm hiệu quả xử lý các vấn đề phát sinh, gây chậm trễ và tạo ra những khoảng trống trong công tác quản lý. (3) Việc ứng dụng công nghệ trong công tác quản lý còn nhiều hạn chế và chưa tương xứng với tiềm năng. Các hệ thống cơ sở dữ liệu, nếu có, thường còn rời rạc, thiếu sự kết nối và chia sẻ thông tin giữa các cơ quan. (4) Nguồn nhân lực, một bộ phận cán bộ chưa được trang bị đầy đủ kiến thức chuyên sâu về Phật giáo cũng như các kỹ năng cần thiết của thời đại số. (5) Sự bùng nổ của các hoạt động Phật giáo tự phát và biến tướng trên mạng tạo ra “môi trường thuận lợi” cho việc truyền bá thông tin sai lệch, mê tín dị đoan và các hành vi trục lợi, làm tổn hại đến hình ảnh chân chính của Phật giáo và gây bất ổn xã hội.
4. Một số giải pháp
Một là, nâng cao chất lượng công tác xây dựng chính sách và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến quản lý các hoạt động xã hội của Phật giáo.
Cần tập trung xây dựng cơ sở pháp lý vững chắc và hệ thống quy hoạch rõ ràng để làm căn cứ cho mọi quyết định quản lý, nhằm ngăn chặn và xử lý vi phạm kịp thời, dứt điểm, đồng thời tích hợp các hoạt động xã hội vào quy hoạch phát triển kinh tế chung của phường, nhằm thúc đẩy sự tự giác tuân thủ của cộng đồng và các chủ thể liên quan, từ đó tăng cường hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước đối với các hoạt động xã hội của Phật giáo nói riêng và tôn giáo khác nói chung
Hai là, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực thực hiện quản lý nhà nước về hoạt động xã hội của Phật giáo.
Cần tiến hành đánh giá năng lực hiện có của đội ngũ cán bộ, nhân viên trực tiếp làm công tác quản lý tôn giáo và các hoạt động của tôn giáo, trong đó có hoạt động xã hội của Phật giáo để xây dựng khung năng lực chuẩn, làm cơ sở cho công tác đào tạo, bồi dưỡng, tuyển chọn và sử dụng nhân sự, bảo đảm có cơ chế quản lý linh hoạt, bao quát 5 lĩnh vực: chuyên môn, nhân sự, tài chính, bộ máy và cơ sở vật chất, đồng thời tăng cường quản lý theo ngành và lãnh thổ thông qua việc phân cấp quản lý tôn giáo hợp lý cho các phòng ban, đoàn thể, bảo đảm bảo sự thống nhất theo pháp luật và phân cấp của thành phố
Ba là, đổi mới phương thức lãnh đạo, cơ chế quản lý.
Đổi mới phương thức lãnh đạo, cơ chế quản lý cần gắn với yêu cầu cải cách hành chính, phân cấp quản lý và chuyển đổi số trong bối cảnh sắp xếp đơn vị hành chính. Việc đổi mới không chỉ dừng lại ở điều chỉnh kỹ thuật hành chính mà hướng đến thay đổi toàn diện về tư duy quản lý. Để tiếp tục nâng cao hiệu quả trong thời gian tới, cần tăng cường hơn nữa vai trò lãnh đạo toàn diện của Đảng và hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực này. Trọng tâm là chủ động bố trí, cân đối nguồn lực để các chính sách cho hoạt động xã hội trở thành công cụ bảo đảm an sinh thiết thực cho cộng đồng. Đồng thời, cần thiết lập cơ chế phối hợp liên ngành nhằm cung cấp đồng bộ các dịch vụ chăm sóc, giáo dục, đào tạo nghề và hỗ trợ y tế.
Bốn là, nâng cao hiệu quả công tác huy động, sử dụng phù hợp các nguồn vốn xã hội hoá vào công tác tổ chức, quản lý các hoạt động xã hội của Phật giáo.
Trong giai đoạn tới, cần tiếp tục đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động xã hội của Phật giáo trên cơ sở xây dựng môi trường hợp tác giữa Nhà nước, cộng đồng và khu vực tư nhân. Thay vì chỉ dựa vào nguồn ngân sách, cần coi các nguồn lực xã hội, bao gồm tài chính, nhân lực, tri thức và công nghệ, là thành phần quan trọng của hệ thống an sinh. Nhà nước đóng vai trò định hướng, còn các tổ chức xã hội, cơ sở Phật giáo và doanh nghiệp tham gia với tư cách là đối tác đồng hành trong việc cung cấp dịch vụ, tổ chức hoạt động hỗ trợ nguồn vốn để thúc đẩy các hoạt động xã hội phát triển hơn.
Năm là, hiện đại hóa quản lý thông qua chuyển đổi số và số hóa dữ liệu.
Với định hướng lâu dài cần thiết lập một cơ sở dữ liệu dùng chung giữa chính quyền địa phương, các cơ quan chuyên môn và các tổ chức tôn giáo, xã hội. Thay vì lưu trữ hồ sơ bằng văn bản giấy, vốn dễ thất lạc và khó tra cứu nên mã hóa và lưu trữ trên hệ thống điện toán đám mây toàn bộ thông tin về danh mục di tích, hồ sơ bệnh nhân, hay danh sách nhân lực tình nguyện. Việc này giúp các nhà quản lý có cái nhìn tổng thể và tức thời về thực trạng tại địa bàn, từ đó, đưa ra các quyết định điều phối nguồn lực một cách chính xác thay vì chỉ phản ứng thụ động trước các sự vụ phát sinh.
Sáu là, đổi mới cơ chế thanh tra, kiểm tra, đánh giá việc thực hiện tổ chức các hoạt động xã hội của Phật giáo.
Trong bối cảnh chuyển đổi số và đẩy mạnh cải cách hành chính giai đoạn sau sáp nhập, thì hoạt động thanh tra, kiểm tra và đánh giá các hoạt động xã hội của Phật giáo cần được tái cấu trúc theo hướng hiện đại hóa phương thức quản trị. Cần xây dựng cơ chế giám sát thông minh, ứng dụng công nghệ số, bảo đảm tính công khai dữ liệu, khả năng truy xuất thông tin và cơ chế phản hồi hai chiều giữa cơ quan quản lý, tổ chức tôn giáo và người thụ hưởng.
Việc đổi mới cơ chế thanh tra, kiểm tra không chỉ mang ý nghĩa kỹ thuật mà còn thể hiện sự chuyển dịch về tư duy quản lý nhà nước, từ mô hình thiên về phát hiện và xử lý vi phạm sang mô hình giám sát định hướng cải tiến, nâng cao chất lượng hoạt động và bảo đảm quyền lợi thực chất của cộng đồng. Khi quá trình triển khai được minh bạch hóa, dữ liệu được công khai phù hợp và ý kiến phản hồi của người dân được tiếp nhận, xử lý kịp thời, các hoạt động xã hội của tôn giáo nói chung và Phật giáo nói riêng mới có điều kiện phát huy giá trị xã hội một cách bền vững, vượt ra khỏi tính hình thức hoặc phong trào ngắn hạn.
5. Kết luận
Công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động xã hội của Phật giáo tại phường An Thắng là một quá trình kiến tạo sự hài hòa giữa pháp luật, văn hóa và niềm tin tôn giáo. Vai trò của Phật giáo hiện nay đã vượt ra khỏi phạm vi tín ngưỡng tâm linh, trở thành một nguồn lực quan trọng cho sự phát triển bền vững. Thực tiễn tại An Thắng đã minh chứng rõ nét cho điều này, khi các hoạt động xã hội của Phật giáo trong các lĩnh vực từ thiện, y tế, giáo dục và bảo vệ môi trường luôn đồng hành chặt chẽ cùng chính quyền địa phương. Đây là biểu hiện sinh động cho thấy vai trò tích cực và không thể thiếu của Phật giáo trong đời sống xã hội hiện đại. Đây chính là nền tảng để xây dựng địa phương phát triển bền vững, văn minh, giàu bản sắc, kiến tạo sức mạnh từ sự đoàn kết hài hòa giữa Nhà nước – Phật giáo – người dân và cũng là minh chứng sống động cho sự tiếp nối truyền thống nhập thế, đồng hành cùng dân tộc của Phật giáo Việt Nam trong thời kỳ mới.
Chú thích:
1. Đà Nẵng: Phường An Thắng vững tin bước vào kỷ nguyên mới. https://danviet.vn/da-nang-phuong-an-thang-vung-tin-buoc-vao-ky-nguyen-moi-d1348098.html, ngày 16/7/2025.
2. Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2025). Nghị quyết số 1659/NQ-UBTVQH15 ngày 16/6/2025 về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã của thành phố Đà Nẵng năm 2025.
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Nội vụ (2013). Thông tư số 01/2013/TT-BNV ngày 25/3/2013 về hướng dẫn sử dụng biểu mẫu về thủ tục hành chính trong lĩnh vực tín ngưỡng.
2. Chính phủ (2019). Nghị định số 93/2019/NĐ-CP ngày 25/11/2019 về tổ chức và hoạt động của quỹ xã hội, quỹ từ thiện.
3. Chính phủ (2021). Nghị định số 20/2021/NĐ-CP ngày 15/3/2021 về chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội.
4. Đảng cộng sản Việt Nam (2011). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng lần thứ XI. H. NXB Chính trị quốc gia.
5. Đảng cộng sản Việt Nam (2016). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
6. Đảng cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
7. Quốc hội (2016). Luật Tín ngưỡng – Tôn giáo năm 2016.
8. Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 10 năm 2021 – 2030. https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/ban-chap-hanh-trung-uong-dang/dai-hoi-dang/lan-thu-xiii/chien-luoc-phat-trien-kinh-te-xa-hoi-10-nam-2021-2030-3735, ngày 22/3/2021.



