ThS. Vũ Đình Lãm
ThS. Nguyễn Tiến Việt
Trường Đào tạo cán bộ Lê Hồng Phong thành phố Hà Nội
(Quanlynhanuoc.vn) – Ngày 22/8/2025, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, khẳng định đây là nhân tố then chốt để hiện thực hóa khát vọng đưa đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, phồn vinh và hạnh phúc. Bài viết tập trung phân tích quan điểm chỉ đạo của Đảng về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo; đồng thời, đề xuất một số giải pháp đẩy mạnh phát triển giáo dục và đào tạo theo tinh thần Nghị quyết số 71-NQ/TW, góp phần xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, tạo động lực cho sự phát triển bền vững của đất nước trong kỷ nguyên mới.
Từ khóa: Nghị quyết số 71-NQ/TW; giáo dục và đào tạo; đột phá chiến lược; kỷ nguyên mới.
1. Đặt vấn đề
Trong suốt tiến trình lãnh đạo cách mạng, đặc biệt là trong công cuộc đổi mới, Đảng ta luôn nhất quán xác định giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là động lực then chốt và là một trong những khâu đột phá chiến lược để phát triển đất nước. Bước vào giai đoạn phát triển mới, để xây dựng nền tảng vững chắc cho sự phát triển toàn diện của đất nước, nâng cao dân trí, đào tạo nhân tài và hình thành đội ngũ nhân lực chất lượng cao phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, ngày 22/8/2025, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, cùng với bốn nghị quyết quan trọng, gồm: Nghị quyết số 57-NQ/TW về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết số 59-NQ/TW về hội nhập quốc tế trong tình hình mới; Nghị quyết số 66-NQ/TW về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật và Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân. Đây là hệ trụ cột chiến lược, vừa định hướng vừa tạo hành lang pháp lý quan trọng, thúc đẩy sự phát triển bứt phá của đất nước trên hành trình hướng tới hùng cường, thịnh vượng, phồn vinh và hạnh phúc.
2. Tầm nhìn chiến lược của Đảng về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo trong Nghị quyết số 71-NQ/TW
Sau 40 năm đổi mới, 35 năm thực hiện Cương lĩnh năm 1991 và 15 năm triển khai Cương lĩnh năm 2011, sự nghiệp giáo dục và đào tạo nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển đất nước. Nhất quán quan điểm, xem giáo dục và đào tạo cùng với khoa học – công nghệ là quốc sách hàng đầu trong tiến trình phát triển đất nước, Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách lớn thúc đẩy phát triển giáo dục và đào tạo. Nhờ đó, giáo dục và đào tạo nước ta đạt được những thành tựu đáng tự hào.
Chất lượng giáo dục từng bước được nâng lên ở tất cả các cấp học, bậc học; nội dung, chương trình, phương pháp giảng dạy không ngừng được đổi mới theo hướng hiện đại, hội nhập quốc tế. Hệ thống giáo dục quốc dân ngày càng hoàn thiện, cơ cấu ngành, nghề, trình độ đào tạo ngày càng đa dạng, đáp ứng tốt hơn nhu cầu học tập của Nhân dân và yêu cầu phát triển nguồn nhân lực cho đất nước. Mạng lưới cơ sở giáo dục và đào tạo được mở rộng cả về quy mô và loại hình, từ thành thị đến nông thôn, miền núi, hải đảo; cơ hội tiếp cận giáo dục của người dân ngày càng công bằng, bình đẳng hơn. Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh: nước ta đã hình thành hệ thống giáo dục quốc dân thống nhất từ giáo dục mầm non đến đào tạo sau đại học; các loại hình trường, lớp, loại hình đào tạo được đa dạng hóa, mang lại cơ hội học tập cho người dân ở mọi lứa tuổi1.
Không chỉ dừng lại ở việc mở rộng quy mô, giáo dục Việt Nam đã có bước tiến trong việc hội nhập quốc tế, nâng cao thứ hạng trong các bảng xếp hạng toàn cầu, từng bước khẳng định năng lực và vị thế của trí tuệ con người Việt Nam. Hiện nay, Việt Nam thuộc nhóm 21 quốc gia sớm đạt mục tiêu phát triển bền vững của Liên Hợp quốc đến năm 2030 về giáo dục chất lượng2. Đặc biệt, tinh thần “xã hội học tập” ngày càng được khơi dậy mạnh mẽ, thể hiện qua nhu cầu học tập suốt đời của mọi tầng lớp nhân dân, “ý thức học tập suốt đời đã và đang thấm sâu vào từng gia đình, từng khu dân cư, từng cơ sở đào tạo, từng vùng, miền”3. Qua đó, góp phần hình thành nguồn lực con người có tri thức, kỹ năng, đạo đức đóng góp quan trọng vào những thành tựu của đất nước sau 40 năm đổi mới, tạo tiền đề vững chắc để đưa đất nước tiến vào kỷ nguyên mới hùng cường, thịnh vượng sánh vai với các cường quốc năm châu.
Bên cạnh đó, giáo dục và đào tạo nước ta hiện nay vẫn còn bộc lộ một số tồn tại, hạn chế chưa thực sự trở thành động lực then chốt cho sự phát triển bứt phá của đất nước. Nghị quyết của Đảng chỉ rõ: “Cơ hội tiếp cận giáo dục còn thấp so với các nước phát triển; có sự chênh lệch lớn giữa các vùng, miền, nhóm đối tượng. Đội ngũ nhà giáo, điều kiện cơ sở vật chất, trường lớp ở nhiều nơi không đáp ứng yêu cầu. Hệ thống giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp phát triển manh mún, lạc hậu, chưa đáp ứng được yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và nghiên cứu khoa học, nhất là ở một số ngành, lĩnh vực trọng điểm4.
Đội ngũ nhà giáo nhìn chung đã có nhiều cố gắng, song chất lượng chưa đồng đều, trong khi điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị ở nhiều nơi vẫn lạc hậu, chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục. Hệ thống giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp còn phát triển manh mún, thiếu liên kết, chưa thực sự trở thành động lực quan trọng trong cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nội dung, chương trình đào tạo chậm đổi mới, vẫn nặng về truyền thụ kiến thức, trong khi giáo dục đạo đức, kỹ năng sống, thể chất và thẩm mỹ cho học sinh chưa được chú trọng đúng mức. Bên cạnh đó, nguồn lực đầu tư cho giáo dục còn hạn chế, cơ chế tài chính thiếu hiệu quả, nhiều chính sách sử dụng và đãi ngộ cán bộ còn mang tính hình thức, chưa khơi dậy và phát huy được vai trò to lớn của xã hội trong phát triển giáo dục. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ việc nhận thức và thực hiện quan điểm “giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu” chưa thật sự đầy đủ, tư duy quản lý giáo dục chậm đổi mới, còn nặng tính hành chính, cùng với đó là sự bất cập trong phân bổ nguồn lực, làm giảm hiệu quả của quá trình đổi mới giáo dục và đào tạo ở nước ta.
Hiện nay, sự nghiệp phát triển đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng đang diễn ra trong bối cảnh thế giới có sự biến đổi mạnh mẽ và toàn diện, đặc biệt là sự bùng nổ của công nghệ số và trí tuệ nhân tạo (AI) đang làm thay đổi sâu sắc nền giáo dục toàn cầu, buộc mỗi quốc gia phải định hình lại tầm nhìn và chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo trong tương lai. Đối với nước ta, đây là thời cơ lịch sử để bứt phá, trong đó nhiệm vụ xây dựng con người và phát triển nguồn nhân lực trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Điều đó đòi hỏi phải có bước đột phá mạnh mẽ trong giáo dục và đào tạo nhằm hình thành thế hệ công dân Việt Nam mới – những con người giàu lòng yêu nước, tự hào dân tộc, có bản lĩnh, trí tuệ, trình độ, năng lực và sức khỏe, đủ khả năng đáp ứng yêu cầu xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới. Chính vì vậy, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 71-NQ/TW. Đây không chỉ là sự kế thừa tư tưởng nhất quán của Đảng về vai trò trụ cột của giáo dục và đào tạo mà còn thể hiện tư duy nhạy bén và tầm nhìn chiến lược trong nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo động lực thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững, để đưa đất nước tiến vào kỷ nguyên mới – kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Nghị quyết số 71-NQ/TW khẳng định giáo dục và đào tạo giữ vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển đất nước, coi đây là quốc sách hàng đầu. Việc đặt giáo dục lên hàng đầu không chỉ thể hiện quyết tâm chính trị mạnh mẽ của Đảng và Nhà nước, mà còn phản ánh nhận thức sâu sắc rằng chất lượng nguồn nhân lực chính là nhân tố quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia. Trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, giáo dục được xác định là “chìa khóa” mở ra cơ hội phát triển và bắt kịp xu thế toàn cầu.
Nghị quyết tạo ra chuyển biến quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội về giáo dục, hướng tới thu hẹp khoảng cách cơ hội học tập giữa các vùng, miền, các nhóm đối tượng. Đây không chỉ là mục tiêu nhân văn sâu sắc mà còn là giải pháp thiết thực nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đồng đều, tạo nền tảng cho sự phát triển hài hòa và bền vững. Khi mọi công dân đều được tiếp cận tri thức, xã hội sẽ có thêm động lực để phát triển toàn diện. Nghị quyết định hình một hệ thống giáo dục đồng bộ, hiện đại, gắn kết chặt chẽ với yêu cầu đổi mới sáng tạo, vừa nâng cao dân trí, vừa thúc đẩy nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ. Qua đó, hình thành đội ngũ trí thức, chuyên gia, nhà khoa học có năng lực hội nhập quốc tế, đủ sức dẫn dắt sự phát triển đất nước.
3. Một số giải pháp hiện thực hóa Nghị quyết số 71-NQ/TW
Một là, nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và Nhân dân về vai trò chiến lược của phát triển giáo dục và đào tạo. Đây là yêu cầu quan trọng, góp phần tạo sự thống nhất cao trong tư tưởng và hành động trong thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW của Đảng. Trước hết, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến sâu rộng nội dung Nghị quyết số 71-NQ/TW và các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về giáo dục – đào tạo bằng nhiều hình thức phong phú, dễ tiếp cận. Đồng thời, đưa chuyên đề về phát triển giáo dục và đào tạo vào chương trình bồi dưỡng lý luận chính trị, tập huấn, sinh hoạt chi bộ nhằm giúp cán bộ, đảng viên thấm nhuần quan điểm coi giáo dục là quốc sách hàng đầu, là động lực then chốt của phát triển. Bên cạnh đó, phát huy vai trò của các cơ quan truyền thông, báo chí, các tổ chức chính trị – xã hội trong việc lan tỏa nhận thức đúng đắn, khơi dậy tinh thần trách nhiệm, sự quan tâm và đồng thuận của Nhân dân đối với sự nghiệp giáo dục. Đặc biệt, cần gắn nâng cao nhận thức với hành động cụ thể, để mỗi cán bộ, đảng viên và người dân đều thấy rõ trách nhiệm của mình trong việc chăm lo, ủng hộ và đồng hành cùng sự nghiệp phát triển giáo dục và đào tạo của đất nước.
Hai là, đổi mới căn bản, toàn diện chương trình, nội dung và phương pháp dạy học theo hướng gắn lý thuyết với thực hành, học đi đôi với hành. Chương trình giáo dục cần được xây dựng theo hướng chuẩn hóa, hiện đại, tinh giản những nội dung hàn lâm, trùng lặp, nặng tính lý thuyết; đồng thời, bổ sung các kiến thức thiết thực gắn với đời sống, sản xuất và nhu cầu phát triển xã hội. Phương pháp dạy học phải chuyển mạnh từ truyền thụ một chiều sang phát triển năng lực, lấy người học làm trung tâm, khuyến khích tư duy sáng tạo, năng lực tự học, tự nghiên cứu và kỹ năng giải quyết vấn đề. Cùng với đó, cần tăng cường thời lượng thực hành, thí nghiệm, trải nghiệm nghề nghiệp; mở rộng hoạt động thực tập tại doanh nghiệp, cơ sở nghiên cứu và cộng đồng, tạo cơ hội để người học vận dụng kiến thức vào giải quyết các vấn đề thực tiễn. Đồng thời, thúc đẩy sự gắn kết chặt chẽ giữa nhà trường – gia đình – xã hội và doanh nghiệp, biến nguyên tắc “học đi đôi với hành” thành xuyên suốt trong toàn bộ quá trình giáo dục, qua đó, góp phần đào tạo nguồn nhân lực có đủ tri thức, kỹ năng, phẩm chất và bản lĩnh, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
Ở bậc tiểu học và trung học cơ sở. Xây dựng chương trình học nhẹ nhàng, thiết thực, giảm tải kiến thức hàn lâm, tăng cường kỹ năng sống, kỹ năng giao tiếp, tinh thần hợp tác. Đưa các hoạt động trải nghiệm sáng tạo, lao động, chăm sóc cây xanh, tham quan di tích lịch sử – văn hóa, tham gia hoạt động cộng đồng vào chương trình chính khóa. Khuyến khích sử dụng phương pháp dạy học trực quan, trò chơi giáo dục, dự án nhỏ để học sinh vừa học vừa khám phá, tạo niềm vui trong học tập.
Ở bậc trung học phổ thông. Tăng cường các môn học định hướng nghề nghiệp, kỹ năng nghiên cứu khoa học, làm việc nhóm và tư duy phản biện. Đổi mới kiểm tra, đánh giá theo năng lực, kết hợp trắc nghiệm, tự luận, thuyết trình, sản phẩm thực tế thay vì chỉ dựa vào điểm số lý thuyết. Kết nối với doanh nghiệp, cơ sở sản xuất để học sinh có cơ hội tham quan, thực tập ngắn hạn, hình thành định hướng nghề nghiệp sớm.
Ở bậc đại học và giáo dục nghề nghiệp. Cập nhật, chuẩn hóa chương trình đào tạo theo chuẩn quốc tế, chú trọng cân bằng giữa lý thuyết – thực hành – nghiên cứu ứng dụng. Mở rộng các học phần thực tập, thực tế tại doanh nghiệp, phòng thí nghiệm, viện nghiên cứu để sinh viên được cọ xát với môi trường làm việc. Phát triển mô hình “học kỳ doanh nghiệp” hoặc “thực tập bắt buộc dài hạn”, bảo đảm sinh viên ra trường có kỹ năng nghề nghiệp vững chắc. Khuyến khích giảng viên áp dụng phương pháp dạy học dự án, mô phỏng tình huống thực tế, thúc đẩy khả năng sáng tạo và khởi nghiệp.
Ở các cơ sở giáo dục thường xuyên và đào tạo lại. Xây dựng các khóa học ngắn hạn, đào tạo lại, đào tạo nâng cao để người lao động có thể học suốt đời, thích ứng với sự thay đổi của khoa học – công nghệ. Chú trọng các chương trình kỹ năng nghề, kỹ năng số, ngoại ngữ, khởi nghiệp gắn với thực tiễn công việc và nhu cầu thị trường lao động.
Ba là, chú trọng giáo dục đạo đức, lối sống, nhân cách, kỹ năng, phát triển phẩm chất và năng lực người học. Đây là yêu cầu then chốt nhằm xây dựng thế hệ công dân vừa có tri thức, vừa có nhân cách và trách nhiệm xã hội. Cần đưa nội dung giáo dục đạo đức, lối sống, kỹ năng sống, kỹ năng số, kỹ năng hợp tác, tư duy phản biện… vào chương trình học một cách khoa học, thiết thực, tránh hình thức. Giáo dục đạo đức không chỉ diễn ra qua các môn học chính khóa mà còn được lồng ghép trong mọi hoạt động trải nghiệm, sinh hoạt tập thể, ngoại khóa, từ đó hình thành thói quen ứng xử văn minh, tinh thần trách nhiệm, biết yêu thương, chia sẻ. Đồng thời, các cơ sở giáo dục cần tăng cường phối hợp giữa nhà trường – gia đình – xã hội, xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, kỷ cương, thân thiện, trong đó thầy cô là tấm gương sáng về nhân cách và lối sống. Khi giáo dục đạo đức, nhân cách được quan tâm đúng mức, học sinh – sinh viên không chỉ giỏi kiến thức mà còn trưởng thành về tâm hồn, sống nhân ái, trung thực, sáng tạo, sẵn sàng cống hiến cho đất nước.
Đối với bậc tiểu học. Tập trung hình thành cho học sinh những phẩm chất nền tảng như lễ phép, trung thực, yêu thương bạn bè, giữ gìn vệ sinh, yêu thiên nhiên. Giáo dục thông qua các hoạt động trực quan, trò chơi, kể chuyện, gương người tốt – việc tốt để trẻ dễ tiếp nhận và hình thành thói quen. Đồng thời, lồng ghép kỹ năng cơ bản như tự phục vụ, hợp tác nhóm, kỹ năng giao tiếp trong học tập và sinh hoạt hằng ngày.
Đối với bậc trung học cơ sở và trung học phổ thông. Tăng cường giáo dục đạo đức, pháp luật, kỹ năng sống và trách nhiệm công dân. Đưa học sinh tham gia các hoạt động ngoại khóa, trải nghiệm thực tế, tình nguyện cộng đồng, nhằm rèn luyện tinh thần chia sẻ, ý thức kỷ luật và khả năng thích ứng với xã hội. Bên cạnh đó, chú trọng bồi dưỡng tư duy phản biện, kỹ năng giải quyết mâu thuẫn, quản lý cảm xúc, định hướng nghề nghiệp, để các em vừa trưởng thành về nhân cách, vừa có sự chuẩn bị cho tương lai.
Đối với bậc đại học và giáo dục nghề nghiệp. Gắn giáo dục đạo đức, lối sống với trách nhiệm xã hội, ý thức nghề nghiệp và tinh thần khởi nghiệp. Các trường cần lồng ghép nội dung về văn hóa ứng xử, đạo đức nghề nghiệp, trách nhiệm bảo vệ môi trường, tuân thủ pháp luật trong giảng dạy chuyên môn. Song song, tạo môi trường cho sinh viên rèn luyện kỹ năng mềm, như: làm việc nhóm, lãnh đạo, khởi nghiệp sáng tạo, quản trị công việc, kỹ năng số và hội nhập quốc tế.
Bốn là, xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục đủ phẩm chất, năng lực, đáp ứng yêu cầu giáo dục và đào tạo trong kỷ nguyên số. Xây dựng và bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục đủ phẩm chất, năng lực là nhiệm vụ có ý nghĩa quyết định, bởi “không có thầy giỏi thì khó có trò giỏi”. Trước hết, cần chú trọng tuyển chọn, đào tạo, sử dụng đội ngũ giáo viên theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, bảo đảm vừa vững vàng về chuyên môn, vừa gương mẫu về đạo đức, lối sống.
Công tác bồi dưỡng phải được tiến hành thường xuyên, cập nhật những phương pháp dạy học tiên tiến, kỹ năng số, năng lực ứng dụng công nghệ thông tin, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số trong giáo dục. Đối với cán bộ quản lý giáo dục, cần nâng cao năng lực lãnh đạo, quản trị nhà trường, khả năng hoạch định chiến lược phát triển, đồng thời có tầm nhìn đổi mới sáng tạo. Bên cạnh đó, chế độ đãi ngộ, chính sách tiền lương, khen thưởng cũng phải thỏa đáng để tạo động lực, thu hút và giữ chân người tài trong ngành. Khi đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý thực sự đủ tâm – tầm – tài, sự nghiệp đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo mới có thể đạt hiệu quả bền vững.
Năm là, phát triển mạnh hệ thống giáo dục nghề nghiệp và đại học gắn với nhu cầu xã hội và thị trường lao động trong nước và quốc tế. Đây là giải pháp then chốt để đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi cơ cấu kinh tế và hội nhập quốc tế. Trước hết, cần rà soát, quy hoạch lại mạng lưới các cơ sở giáo dục nghề nghiệp và đại học theo hướng tinh gọn, tránh dàn trải, gắn đào tạo với thế mạnh phát triển kinh tế – xã hội của từng vùng, từng ngành.
Nội dung và chương trình đào tạo phải thường xuyên được cập nhật, hiện đại hóa, chú trọng kỹ năng thực hành, tư duy sáng tạo, năng lực thích ứng công nghệ mới; đồng thời, gắn chặt với nhu cầu thực tế của doanh nghiệp và thị trường lao động. Nhà trường, doanh nghiệp và cơ quan quản lý cần thiết lập cơ chế phối hợp chặt chẽ trong việc dự báo nhu cầu nhân lực, xây dựng chương trình đào tạo, tổ chức thực tập, thực hành và giải quyết việc làm cho sinh viên sau khi tốt nghiệp. Bên cạnh đó, cần khuyến khích phát triển các trường đại học nghiên cứu, trung tâm đổi mới sáng tạo, gắn giáo dục với nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ. Khi hệ thống giáo dục nghề nghiệp và đại học được phát triển theo hướng mở, hiện đại, linh hoạt và gắn kết chặt chẽ với thị trường lao động, nó sẽ trở thành động lực quan trọng trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phục vụ phát triển nhanh và bền vững của đất nước.
Sáu là, đầu tư đồng bộ cơ sở vật chất, công nghệ, đẩy mạnh chuyển đổi số trong giáo dục. Đầu tư đồng bộ cơ sở vật chất, công nghệ, đẩy mạnh chuyển đổi số trong giáo dục là một trong những khâu đột phá nhằm nâng cao chất lượng và hiện đại hóa hệ thống giáo dục. Các cơ sở giáo dục cần được trang bị đầy đủ phòng học, thư viện, phòng thí nghiệm, khu thể chất, ký túc xá… theo chuẩn quốc gia, bảo đảm môi trường học tập an toàn, lành mạnh. Song song, cần ưu tiên ứng dụng công nghệ thông tin và hạ tầng số, xây dựng hệ thống học liệu điện tử, thư viện số, lớp học thông minh, nền tảng quản lý và giảng dạy trực tuyến để nâng cao tính linh hoạt, hiệu quả. Đặc biệt, chuyển đổi số phải đi đôi với đào tạo, bồi dưỡng năng lực số cho giáo viên, học sinh, sinh viên, giúp họ sử dụng công nghệ như một công cụ sáng tạo và học tập chủ động. Khi cơ sở vật chất được hiện đại hóa, công nghệ giáo dục được ứng dụng rộng rãi, việc dạy và học sẽ trở nên sinh động, tương tác hơn, góp phần hình thành nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu của thời kỳ công nghiệp 4.0 và hội nhập quốc tế.
Bảy là, tăng cường kiểm tra, giám sát, phòng chống tiêu cực, bệnh thành tích trong giáo dục. Đây là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm sự công bằng, minh bạch và nâng cao chất lượng thực chất của nền giáo dục. Các cơ quan quản lý giáo dục cần xây dựng hệ thống giám sát chặt chẽ, đồng bộ, trong đó chú trọng kiểm tra việc thực hiện chương trình, đánh giá, thi cử, cấp bằng, cấp chứng chỉ để ngăn chặn tình trạng chạy theo thành tích, gian lận thi cử, hay dạy học đối phó.
Công tác thanh tra, kiểm tra cần được thực hiện thường xuyên, khách quan, công khai và gắn với trách nhiệm giải trình của từng cá nhân, đơn vị. Song song với đó, cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong giám sát, nhằm kịp thời phát hiện sai phạm và hạn chế sự can thiệp chủ quan. Ngoài ra, phải coi trọng vai trò giám sát của xã hội, của phụ huynh, học sinh, báo chí và các tổ chức đoàn thể, để tạo nên một cơ chế kiểm tra đa chiều, minh bạch. Khi bệnh thành tích và các tiêu cực bị đẩy lùi, giáo dục mới thật sự lấy chất lượng làm thước đo, qua đó xây dựng niềm tin xã hội, khẳng định vị thế giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu trong sự nghiệp phát triển đất nước.
4. Kết luận
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang tác động sâu rộng đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, việc triển khai Nghị quyết số 71-NQ/TW trở thành yêu cầu vừa cấp bách, vừa có ý nghĩa chiến lược lâu dài. Đây không chỉ là nhiệm vụ trọng tâm của ngành Giáo dục và Đào tạo mà còn là sự nghiệp chung của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Thực hiện thành công Nghị quyết sẽ góp phần hiện thực hóa khát vọng xây dựng một nước Việt Nam phát triển nhanh, bền vững, hùng cường và thịnh vượng; đồng thời, nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của đất nước trong kỷ nguyên hội nhập sâu rộng và cạnh tranh toàn cầu.
Chú thích:
1, 2, 3. Học tập suốt đời. https://www.tapchicongsan.org.vn/media-story/-/asset_publisher/V8hhp4dK31Gf/content/hoc-tap-suot-doi
4. Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
2. Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 24/01/2025 về hội nhập quốc tế trong tình hình mới.
3. Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
4. Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế quốc dân.
5. Phát triển nhân lực trình độ cao cho Thủ đô Hà Nội theo Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. https://www.quanlynhanuoc.vn/2025/12/09/phat-trien-nhan-luc-trinh-do-cao-cho-thu-do-ha-noi-theo-nghi-quyet-so-71-nq-tw-cua-bo-chinh-tri/



