Legal education on anti-corruption for students in Dak Lak province: current situation and solutions
ThS. Triệu Quang Hùng
Trường Cao đẳng Đắk Lắk
(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết phân tích thực trạng giáo dục pháp luật về phòng, chống tham nhũng cho sinh viên tại tỉnh Đắk Lắk trên cơ sở kết quả khảo sát bằng phiếu được thực hiện tại 5 cơ sở giáo dục công lập, gồm: Trường Đại học Tây Nguyên và 4 trường cao đẳng trên địa bàn tỉnh. Qua khảo sát cho thấy, công tác giáo dục pháp luật về phòng, chống tham nhũng đã được triển khai trong nhà trường, tuy nhiên hiệu quả chưa đồng đều. Nhất là nội dung giáo dục còn thiên về lý thuyết; phương pháp giảng dạy chậm đổi mới; mức độ ứng dụng công nghệ số và sự tham gia của sinh viên vào các hoạt động ngoại khóa còn hạn chế. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục pháp luật về phòng, chống tham nhũng cho sinh viên, góp phần hình thành ý thức liêm chính và phòng ngừa tham nhũng từ sớm, từ xa1.
Từ khóa: Giáo dục pháp luật; phòng, chống tham nhũng; sinh viên; tỉnh Đắk Lắk; khảo sát thực tiễn.
Abstract: This article analyzes the current state of legal education on anti-corruption for students in Đắk Lắk Province, based on survey results collected through questionnaires conducted at five public educational institutions, including Tay Nguyen University and four colleges in the province. The findings indicate that legal education on anti-corruption has been implemented within these institutions; however, its effectiveness remains uneven. In particular, the content tends to be overly theoretical, teaching methods have been slow to innovate, and the application of digital technology as well as student participation in extracurricular activities is still limited. Based on these findings, the article proposes several solutions aimed at enhancing the effectiveness of anti-corruption legal education for students, thereby contributing to the early formation of integrity and the prevention of corruption from its roots.
Keywords: Legal education; anti-corruption; students; Dak Lak province; practical survey
1. Đặt vấn đề
Tham nhũng là một trong những nguy cơ lớn đe dọa sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia, không chỉ gây ra những hệ lụy nghiêm trọng về kinh tế – xã hội mà còn làm xói mòn niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ. Trong cuốn sách Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nêu: “Tham nhũng (tham ô, nhũng nhiễu) là hiện tượng xã hội tiêu cực, xấu xa mà thời nào, chế độ nào, quốc gia nào cũng có; đó là “khuyết tật bẩm sinh” của quyền lực. Các quốc gia tồn tại và phát triển vững mạnh đều quan tâm và tiến hành đấu tranh phòng, chống tham nhũng có hiệu quả” 2. Vì vậy, đấu tranh phòng, chống tham nhũng luôn được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên và lâu dài trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và quản lý nhà nước. Trong bối cảnh đó, sinh viên – lực lượng trí thức trẻ, nguồn nhân lực quan trọng trong tương lai – là đối tượng cần được trang bị kiến thức pháp luật, ý thức liêm chính và trách nhiệm công dân ngay từ giai đoạn đào tạo.
Tại tỉnh Đắk Lắk, công tác giáo dục pháp luật nói chung và giáo dục pháp luật về phòng, chống tham nhũng nói riêng đã được triển khai trong các cơ sở đào tạo thông qua các môn học lý luận chính trị, pháp luật đại cương, tuần sinh hoạt công dân – sinh viên, tọa đàm và một số hoạt động ngoại khóa. Tuy nhiên, qua khảo sát đã chỉ ra nhiều hạn chế: nội dung còn tản mạn, chủ yếu lồng ghép; hình thức tuyên truyền đơn điệu; phương pháp còn nặng về thuyết trình một chiều; việc ứng dụng công nghệ thông tin, mạng xã hội, học liệu số còn hạn chế; đội ngũ giảng viên chưa được bồi dưỡng chuyên sâu; học liệu và kinh phí còn thiếu; nhận thức của một bộ phận sinh viên về tham nhũng và trách nhiệm của bản thân chưa đầy đủ.
Bên cạnh đó, trong giai đoạn gần đây, hệ thống pháp luật về phòng, chống tham nhũng đã có nhiều thay đổi quan trọng, tạo cơ sở pháp lý trực tiếp cho việc triển khai công tác giáo dục pháp luật trong nhà trường. Trọng tâm là Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 với nhiều nội dung đổi mới theo hướng tăng cường phòng ngừa, kiểm soát quyền lực và minh bạch trong hoạt động công vụ; cùng với đó là Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2013. Các văn bản hướng dẫn thi hành như Nghị định số 59/2019/NĐ-CP ngày 01/7/2019 của Chính phủ, Nghị định số 130/2020/NĐ-CP ngày 30/10/2020 của Chính phủ và Thông tư số 06/2025/TT-TTCP ngày 29/9/2025 của Thanh tra Chính phủ tiếp tục cụ thể hóa các cơ chế kiểm soát, trách nhiệm giải trình và chế độ báo cáo trong công tác phòng, chống tham nhũng.
Những quy định này không chỉ hoàn thiện khung pháp lý mà còn đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, đặc biệt trong môi trường giáo dục. Từ thực tiễn đó, bài viết tập trung phân tích thực trạng phổ biến, giáo dục pháp luật về phòng, chống tham nhũng cho sinh viên tại các cơ sở giáo dục công lập trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk trong giai đoạn 2023 – 2025, từ đó đề xuất các giải pháp và định hướng nâng cao hiệu quả công tác này trong thời gian tới.
2. Phương pháp nghiên cứu
Bài viết sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng, chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Cụ thể, phương pháp nghiên cứu tài liệu được sử dụng để thu thập, phân tích các văn bản pháp luật, chính sách và công trình khoa học liên quan đến phòng, chống tham nhũng và giáo dục pháp luật; phương pháp điều tra xã hội học được triển khai thông qua phát phiếu khảo sát sinh viên và phỏng vấn sâu chuyên gia, giảng viên; phương pháp thống kê được dùng để xử lý, phân tích dữ liệu khảo sát; cùng với các phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, đối chiếu để rút ra nhận định và đề xuất giải pháp. Không gian nghiên cứu được giới hạn trong các trường cao đẳng và đại học công lập có trụ sở chính tại tỉnh Đắk Lắk; thời gian tập trung vào giai đoạn năm học 2023 – 2025 và định hướng đến năm 2030.
3. Thực trạng giáo dục pháp luật về phòng, chống tham nhũng cho sinh viên tại tỉnh Đắk Lắk.
Trên cơ sở kết quả điều tra bằng phiếu khảo sát đối với sinh viên tại 5 cơ sở giáo dục công lập trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, gồm: Trường Đại học Tây Nguyên, Trường Cao đẳng Đắk Lắk, Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật Đắk Lắk, Trường Cao đẳng Y tế Đắk Lắk và Trường Cao đẳng Sư phạm Đắk Lắk, với tổng số 500 phiếu khảo sát được phát ra, thu về 455 phiếu hợp lệ về nội dung triển khai và 474 phiếu hợp lệ về nhận thức sinh viên, cho phép đánh giá khá đầy đủ thực trạng công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về phòng, chống tham nhũng trong các cơ sở đào tạo hiện nay. Các kết quả khảo sát không chỉ phản ánh mức độ tiếp cận và nhận thức của sinh viên mà còn cho thấy mức độ tổ chức, triển khai của nhà trường3.
Trước hết, về mức độ triển khai, kết quả khảo sát cho thấy, có 65,93% sinh viên cho biết nhà trường có triển khai giáo dục pháp luật về phòng, chống tham nhũng, trong khi 34,07% cho rằng chưa được tiếp cận hoặc không nhận diện rõ hoạt động này. Đồng thời, 61,54% sinh viên cho biết nội dung phòng, chống tham nhũng là bắt buộc trong chương trình đào tạo, còn 38,46% cho biết không bắt buộc. Kết quả này phản ánh công tác triển khai đã được quan tâm nhưng chưa đồng bộ giữa các cơ sở đào tạo; vẫn còn một bộ phận đáng kể sinh viên chưa thực sự được thụ hưởng hoạt động giáo dục một cách rõ ràng, có hệ thống.
Về nhận thức của sinh viên, kết quả khảo sát 474 phiếu hợp lệ cho thấy, chỉ có 27,85% sinh viên biết rõ khái niệm, bản chất và biểu hiện của tham nhũng; 43,88% chỉ biết sơ lược, chưa đầy đủ; 21,94% chỉ nghe nói đến nhưng không hiểu rõ và 6,33% chưa từng tìm hiểu. Điều này cho thấy, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu mới dừng ở mức cung cấp thông tin, chưa chuyển hóa đầy đủ thành tri thức pháp lý có chiều sâu và năng lực nhận diện thực tiễn của sinh viên.
Liên quan đến nội dung giáo dục, số liệu từ khảo sát cho thấy các nội dung được đề cập nhiều nhất là tác hại, hậu quả của tham nhũng (66,46%) và các quy định pháp luật (63,29%), trong khi nội dung gắn với tình huống thực tế, án lệ chỉ đạt 41,14%. Kết quả này phản ánh xu hướng giáo dục còn thiên về truyền đạt kiến thức quy phạm và hậu quả chung, chưa chú trọng đúng mức đến các tình huống thực tiễn, kỹ năng nhận diện, phản ứng và xử lý hành vi tham nhũng. Khi nội dung giáo dục thiếu tính thực hành và bối cảnh hóa, sinh viên khó chuyển hóa kiến thức thành năng lực pháp lý và hành vi liêm chính cụ thể. Thực trạng này càng trở nên đáng chú ý khi đặt trong bối cảnh định hướng chính sách của Nhà nước về giáo dục phòng, chống tham nhũng.
Theo đó, từ Quyết định số 137/2009/QĐ-TTg ngày 02/12/2009 của Thủ tướng Chính phủ đến Chỉ thị số 10/CT-TTg năm 2013 ngày 12/06/2013 của Thủ tướng Chính phủ, nội dung phòng, chống tham nhũng đã được đưa vào chương trình giáo dục một cách chính thức và có hệ thống. Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã quy định cụ thể về nội dung và thời lượng giảng dạy đối với từng bậc học, như bố trí 4 tiết ở bậc trung cấp chuyên nghiệp, khoảng 5 tiết đối với đại học không chuyên luật và 15 tiết đối với đại học chuyên ngành luật. Tuy nhiên, việc triển khai nội dung này vẫn chủ yếu dừng lại ở việc truyền đạt kiến thức lý thuyết, chưa gắn kết chặt chẽ với các tình huống thực tiễn và yêu cầu hình thành kỹ năng cho người học, dẫn đến khoảng cách nhất định giữa định hướng chính sách và hiệu quả thực thi.
Về phương pháp và hình thức tổ chức, kết quả khảo sát cho thấy, có 65,93% sinh viên chủ yếu được học thông qua thuyết trình lý thuyết, trong khi các phương pháp được đánh giá hiệu quả hơn, như: thảo luận nhóm, phân tích tình huống, sân khấu hóa hay ứng dụng công nghệ số chưa được triển khai rộng rãi. Điều đó cho thấy, phương pháp giảng dạy còn nặng về truyền đạt một chiều, chưa phát huy đầy đủ tính chủ động, tương tác và phản biện của người học. Trong bối cảnh sinh viên ngày càng quen thuộc với môi trường số và các hình thức học tập linh hoạt, cách tiếp cận nặng lý thuyết này không còn phù hợp với yêu cầu đổi mới phương pháp giáo dục hiện nay.
Về hình thức và mức độ tham gia của sinh viên vào các hoạt động ngoại khóa, truyền thông pháp luật, kết quả khảo sát cho thấy, chỉ khoảng 23,9% cơ sở đào tạo sử dụng mạng xã hội, website hoặc fanpage để truyền thông về phòng, chống tham nhũng; hơn 36% sinh viên cho biết hiếm khi tham gia các hoạt động ngoại khóa liên quan và 13,8% khẳng định hầu như chưa từng tham gia các chương trình có nội dung phòng, chống tham nhũng. Dữ liệu khảo sát cho thấy công tác giáo dục pháp luật về phòng, chống tham nhũng chưa bắt kịp xu hướng số hóa, chưa tạo được sức hấp dẫn và chưa huy động được sự tham gia thường xuyên, chủ động của sinh viên. Khi hoạt động ngoại khóa và truyền thông pháp luật còn mờ nhạt, hiệu quả lan tỏa và khả năng hình thành văn hóa liêm chính trong sinh viên sẽ bị hạn chế đáng kể.
Ngoài ra, các điều kiện bảo đảm cho công tác này cũng còn nhiều bất cập. Theo nội dung phần mở đầu của đề án, đội ngũ giảng viên và cán bộ phụ trách công tác phổ biến, giáo dục pháp luật tại một số trường chưa được bồi dưỡng chuyên sâu về nội dung phòng, chống tham nhũng; còn lúng túng khi vận dụng các quy định pháp luật vào giảng dạy và tổ chức hoạt động ngoại khóa. Nguồn tài liệu, giáo trình, học liệu chuyên đề về phòng, chống tham nhũng dành riêng cho sinh viên còn thiếu và chưa thống nhất; kinh phí bố trí cho công tác này còn hạn chế. Đây là những rào cản trực tiếp ảnh hưởng đến chất lượng, quy mô và tính bền vững của hoạt động giáo dục.
Tổng hợp các kết quả khảo sát cho thấy, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về phòng, chống tham nhũng cho sinh viên tại tỉnh Đắk Lắk đã có những chuyển biến bước đầu, thể hiện ở việc các cơ sở đào tạo đã có quan tâm triển khai và phần lớn sinh viên đã từng được tiếp cận nội dung liên quan. Tuy nhiên, hiệu quả còn chưa tương xứng với yêu cầu thực tiễn. Từ kết quả khảo sát có thể xác định 06 nhóm vấn đề chủ yếu cần giải quyết.
Thứ nhất, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về phòng, chống tham nhũng chưa được triển khai đồng bộ giữa các cơ sở đào tạo, còn có sự chênh lệch đáng kể về mức độ và hiệu quả thực hiện. Kết quả khảo sát cho thấy, vẫn còn một tỷ lệ không nhỏ sinh viên chưa được tiếp cận hoặc không nhận diện rõ các hoạt động giáo dục liên quan. Điều này phản ánh thực trạng tổ chức còn thiếu tính hệ thống, chưa có sự thống nhất về nội dung bắt buộc, thời lượng triển khai cũng như hình thức tổ chức giữa các trường. Việc giáo dục pháp luật về phòng, chống tham nhũng hiện nay chủ yếu vẫn được thực hiện theo hình thức lồng ghép vào một số môn học hoặc hoạt động ngoại khóa, thiếu một chương trình riêng có cấu trúc rõ ràng và tiêu chí đánh giá cụ thể. Sự thiếu đồng bộ này dẫn đến tình trạng có nơi làm tốt, có nơi làm hình thức, làm giảm hiệu quả chung của công tác giáo dục.
Thứ hai, nội dung giáo dục còn thiên về lý thuyết, thiếu chiều sâu thực tiễn và tính ứng dụng. Các nội dung được giảng dạy chủ yếu tập trung vào khái niệm, đặc điểm, nguyên nhân và hậu quả của tham nhũng, cũng như các quy định pháp luật hiện hành, trong khi các nội dung gắn với tình huống thực tế, kỹ năng nhận diện và xử lý hành vi tham nhũng lại chưa được chú trọng đúng mức. Điều này khiến cho kiến thức pháp luật của sinh viên mang tính “biết” nhiều hơn “hiểu” và “làm được”, khó chuyển hóa thành năng lực hành vi trong thực tiễn. Trong bối cảnh sinh viên sẽ tham gia vào thị trường lao động và bộ máy quản lý nhà nước trong tương lai, việc thiếu hụt kỹ năng pháp lý thực hành là một hạn chế lớn, làm giảm vai trò phòng ngừa từ sớm của giáo dục.
Thứ ba, phương pháp giảng dạy chậm được đổi mới, còn nặng về truyền đạt một chiều, chưa phát huy tính chủ động và tư duy phản biện của người học. Kết quả khảo sát cho thấy, hình thức thuyết trình vẫn chiếm ưu thế, trong khi các phương pháp tích cực như thảo luận nhóm, phân tích tình huống, mô phỏng hay học tập trải nghiệm chưa được triển khai rộng rãi. Điều này dẫn đến khoảng cách đáng kể giữa việc “được học” và “hiểu rõ” nội dung pháp luật, thể hiện qua tỷ lệ sinh viên có hiểu biết sâu về tham nhũng còn thấp. Việc thiếu các phương pháp tương tác và thực hành cũng làm giảm hứng thú học tập, khiến sinh viên tiếp cận nội dung một cách thụ động, từ đó ảnh hưởng đến hiệu quả tiếp nhận và ghi nhớ kiến thức.
Thứ tư, việc ứng dụng công nghệ số và các phương thức truyền thông hiện đại trong giáo dục pháp luật còn hạn chế, chưa tương xứng với đặc điểm của đối tượng sinh viên. Trong khi sinh viên hiện nay chủ yếu tiếp cận thông tin thông qua môi trường số, việc chưa khai thác hiệu quả các nền tảng, như: website, mạng xã hội, học liệu điện tử, video tình huống hay các hệ thống học trực tuyến đã làm giảm đáng kể khả năng lan tỏa và tính hấp dẫn của nội dung giáo dục. Hoạt động giáo dục pháp luật vì vậy vẫn mang tính truyền thống, thiếu tính linh hoạt và chưa tận dụng được lợi thế của chuyển đổi số trong giáo dục.
Thứ năm, nhận thức của sinh viên về phòng, chống tham nhũng chưa được chuyển hóa đầy đủ thành thái độ và hành vi thực tiễn. Mặc dù một bộ phận sinh viên đã được tiếp cận kiến thức pháp luật, nhưng tỷ lệ “biết rõ” vẫn còn thấp, trong khi phần lớn chỉ dừng lại ở mức hiểu biết sơ lược. Đáng chú ý, vẫn tồn tại tâm lý phổ biến cho rằng tham nhũng là vấn đề của cơ quan nhà nước, ít liên quan trực tiếp đến bản thân. Nhận thức này làm giảm vai trò chủ động của sinh viên trong việc phòng ngừa và đấu tranh với các hành vi tiêu cực, đồng thời hạn chế khả năng hình thành văn hóa liêm chính trong môi trường học đường.
Thứ sáu, các điều kiện bảo đảm cho công tác giáo dục pháp luật về phòng, chống tham nhũng còn nhiều hạn chế, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và tính bền vững của hoạt động này. Đội ngũ giảng viên và cán bộ phụ trách chưa được bồi dưỡng chuyên sâu về nội dung phòng, chống tham nhũng; hệ thống tài liệu, học liệu chuyên đề còn thiếu và chưa được chuẩn hóa; nguồn kinh phí dành cho hoạt động giáo dục còn hạn chế; cơ chế phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị chưa chặt chẽ. Đây là những yếu tố nền tảng, bởi nếu thiếu nguồn lực và năng lực tổ chức thực hiện thì việc đổi mới nội dung, phương pháp và hình thức giáo dục khó có thể đạt được hiệu quả thực chất.
4. Một số giải pháp
Một là, tăng cường công tác chỉ đạo, tổ chức và hướng dẫn thực hiện theo hướng thống nhất, có kiểm soát và đo lường được kết quả.
Thực trạng triển khai chưa đồng đều giữa các cơ sở đào tạo cho thấy cần thiết phải thiết lập một cơ chế chỉ đạo thống nhất ở cấp tỉnh, trong đó xác định rõ cơ quan trên địa bàn tỉnh (có thể là Sở Giáo dục và Đào tạo hoặc phối hợp với Thanh tra tỉnh, Sở Tư pháp) chịu trách nhiệm xây dựng kế hoạch tổng thể hằng năm về giáo dục pháp luật phòng, chống tham nhũng trong các trường cao đẳng, đại học. Đồng thời, cần ban hành Chương trình giáo dục pháp luật về phòng, chống tham nhũng trong các cơ sở giáo dục đại học, cao đẳng trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2026-2030 làm khung định hướng thống nhất để các đơn vị triển khai.
Trên cơ sở đó, mỗi cơ sở đào tạo cần cụ thể hóa thành kế hoạch nội bộ với các nội dung rõ ràng, như: số lượng chuyên đề bắt buộc trong năm học, tỷ lệ sinh viên được tiếp cận, số lượng hoạt động ngoại khóa, hình thức kiểm tra, đánh giá…Trong giai đoạn 2026 – 2030, các kế hoạch này cần được xây dựng theo lộ trình cụ thể, bảo đảm tính kế thừa và phát triển, trong đó giai đoạn 2026 – 2027 tập trung hoàn thiện nội dung, tài liệu và thí điểm mô hình; giai đoạn 2028 – 2029 triển khai đồng bộ; năm 2030 tổ chức tổng kết, đánh giá và điều chỉnh.
Đồng thời, cần xây dựng bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả (KPI) cụ thể, ví dụ: tỷ lệ sinh viên hiểu đúng khái niệm tham nhũng, tỷ lệ tham gia hoạt động ngoại khóa, mức độ hài lòng của sinh viên… Bên cạnh đó, cần thiết lập cơ chế kiểm tra, giám sát định kỳ (6 tháng hoặc hằng năm), gắn kết quả thực hiện với đánh giá thi đua của nhà trường và đơn vị phụ trách. Việc công khai kết quả đánh giá giữa các trường cũng tạo ra áp lực tích cực, góp phần nâng cao tính cạnh tranh và trách nhiệm trong tổ chức thực hiện.
Hai là, hoàn thiện cơ chế, chính sách theo hướng đưa giáo dục phòng, chống tham nhũng trở thành nội dung chính thức, có cấu trúc và bắt buộc trong chương trình đào tạo.
Một trong những nguyên nhân của tình trạng triển khai không đồng đều là do nội dung này chủ yếu đang được lồng ghép, thiếu tính bắt buộc. Do đó, cần từng bước thể chế hóa việc đưa giáo dục pháp luật về phòng, chống tham nhũng thành một học phần hoặc chuyên đề bắt buộc trong chương trình đào tạo, đặc biệt đối với các ngành có liên quan đến quản lý nhà nước, kinh tế, tài chính, luật.
Việc thiết kế chương trình cần bảo đảm cân đối giữa lý thuyết và thực hành, trong đó tối thiểu 30 – 40% thời lượng dành cho các hoạt động như thảo luận tình huống, phân tích vụ việc thực tế, mô phỏng hành vi vi phạm và cách xử lý. Đồng thời, cần xây dựng hệ thống học liệu thống nhất (giáo trình, tài liệu, ngân hàng câu hỏi) dùng chung cho toàn tỉnh, tránh tình trạng mỗi trường triển khai một cách khác nhau, thiếu tính chuẩn hóa.
Ngoài ra, cần có cơ chế khuyến khích như tính điểm rèn luyện, cộng điểm đánh giá học phần hoặc chứng nhận hoàn thành chuyên đề, nhằm tăng động lực tham gia của sinh viên.
Ba là, đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương pháp và công cụ giáo dục theo hướng thực tiễn, tương tác và phát triển năng lực.
Để khắc phục tình trạng nội dung còn nặng về lý thuyết, cần chuyển trọng tâm từ truyền đạt kiến thức sang phát triển năng lực nhận diện và ứng xử pháp lý cho sinh viên. Nội dung giảng dạy cần được thiết kế theo các tình huống cụ thể, gắn với bối cảnh nghề nghiệp tương lai, như: hành vi đưa – nhận hối lộ trong môi trường doanh nghiệp; xung đột lợi ích trong khu vực công; trách nhiệm pháp lý khi phát hiện hoặc không tố giác hành vi tham nhũng… Cách tiếp cận này giúp sinh viên không chỉ biết luật mà còn hiểu cách vận dụng trong thực tế.
Về phương pháp, cần tăng cường các hình thức giảng dạy tích cực, lấy người học làm trung tâm, như: (1) Thảo luận nhóm theo tình huống cụ thể; (2) Mô phỏng phiên tòa, phiên xử lý kỷ luật; (3) Tổ chức các cuộc thi “phiên tòa giả định”, “tình huống pháp lý”; (4) Mời các chủ thể có kinh nghiệm thực tiễn như thanh tra, kiểm sát viên, luật sư tham gia giảng dạy, trao đổi.
Thực tế cho thấy, một số cơ sở đào tạo đã triển khai tương đối hiệu quả các phương thức này. Chẳng hạn, Trường Đại học Tây Nguyên đã tổ chức các hoạt động ngoại khóa dưới dạng phiên tòa giả định và sinh hoạt chuyên đề pháp luật, qua đó, giúp sinh viên tiếp cận vấn đề một cách trực quan và sinh động hơn. Một số trường cao đẳng trên địa bàn cũng bước đầu lồng ghép các tình huống thực tiễn vào giảng dạy môn pháp luật đại cương và các hoạt động đoàn – hội, tuy nhiên mức độ triển khai còn chưa đồng đều. Những mô hình này cho thấy việc đổi mới phương pháp là khả thi, vấn đề còn lại là cần được chuẩn hóa và nhân rộng.
Về công cụ, cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong giáo dục pháp luật, như: xây dựng video tình huống, bài giảng e-learning, hệ thống trắc nghiệm trực tuyến, nền tảng học tập tích hợp LMS (Learning Management System). Việc ứng dụng các công cụ này không chỉ tăng tính hấp dẫn mà còn tạo điều kiện để sinh viên chủ động học tập, tiếp cận kiến thức mọi lúc, mọi nơi, phù hợp với đặc điểm của môi trường giáo dục hiện nay.
Bốn là, tăng cường ứng dụng công nghệ số và truyền thông hiện đại để mở rộng phạm vi và nâng cao hiệu quả giáo dục.
Trong bối cảnh sinh viên tiếp cận thông tin chủ yếu qua môi trường số, việc đổi mới phương thức truyền thông là yêu cầu cấp thiết. Các cơ sở đào tạo cần xây dựng và vận hành hiệu quả các kênh truyền thông, như: website, fanpage, kênh video ngắn để phổ biến kiến thức pháp luật về phòng, chống tham nhũng một cách sinh động, dễ tiếp cận.
Đồng thời, có thể triển khai các hình thức như: (1) Chuỗi video tình huống pháp lý ngắn; (2) Infographic về hành vi tham nhũng và chế tài xử lý; (3) Mini game, pháp luật trên nền tảng số; (4) Các chiến dịch truyền thông theo chủ đề (ví dụ: Tuần lễ liêm chính).
Việc ứng dụng công nghệ không chỉ giúp lan tỏa nội dung nhanh hơn mà còn tạo ra môi trường học tập gần gũi với thói quen của sinh viên, từ đó nâng cao hiệu quả tiếp nhận.
Năm là, phát triển nguồn lực và bảo đảm điều kiện thực hiện theo hướng chuyên sâu và bền vững.
Để nâng cao chất lượng giáo dục, cần chú trọng phát triển đội ngũ giảng viên và cán bộ phụ trách theo hướng chuyên sâu. Cụ thể, cần tổ chức các lớp bồi dưỡng định kỳ về kiến thức pháp luật phòng, chống tham nhũng, kỹ năng giảng dạy tình huống, phương pháp giáo dục tích cực lấy người học làm trung tâm trong quá trình giảng dạy.
Bên cạnh đó, cần huy động sự tham gia của đội ngũ chuyên gia ngoài nhà trường, như: cán bộ thanh tra, kiểm sát, tòa án, luật sư… nhằm tăng tính thực tiễn và đa chiều cho nội dung giảng dạy.
Về học liệu, cần xây dựng hệ thống tài liệu chuyên đề thống nhất, cập nhật theo quy định pháp luật mới. Về kinh phí, cần bố trí nguồn ngân sách hợp lý cho các hoạt động như tổ chức tọa đàm, cuộc thi, xây dựng học liệu số, trả thù lao cho báo cáo viên.
Sáu là, phát huy vai trò chủ động của sinh viên và xây dựng môi trường liêm chính trong nhà trường
Sinh viên cần được xác định không chỉ là đối tượng thụ hưởng mà còn là chủ thể tham gia vào quá trình giáo dục. Do đó, cần tạo điều kiện để sinh viên chủ động tham gia thông qua các mô hình, như: (1) Câu lạc bộ pháp luật, câu lạc bộ liêm chính; (2) Diễn đàn sinh viên với chủ đề phòng, chống tham nhũng; (3) Cuộc thi tìm hiểu pháp luật, phiên tòa giả định; (4) Các hoạt động truyền thông do sinh viên thực hiện.
Đồng thời, cần lồng ghép nội dung phòng, chống tham nhũng vào tiêu chí đánh giá rèn luyện, gắn với danh hiệu “sinh viên 5 tốt”, “công dân trách nhiệm”. Việc xây dựng môi trường học đường minh bạch, công khai, công bằng cũng là yếu tố quan trọng giúp hình thành văn hóa liêm chính một cách bền vững.
5. Kết luận
Kết quả nghiên cứu cho thấy, công tác giáo dục pháp luật về phòng, chống tham nhũng cho sinh viên tại tỉnh Đắk Lắk đã được triển khai tại 5 cơ sở giáo dục công lập và bước đầu đạt được những kết quả nhất định. Tuy nhiên, hiệu quả còn chưa tương xứng với yêu cầu thực tiễn, bài viết đề xuất một số giải pháp theo hướng tăng cường chỉ đạo, hoàn thiện cơ chế, đổi mới nội dung – phương pháp – công cụ, phát triển nguồn lực, tăng cường phối hợp và phát huy vai trò chủ động của sinh viên. Các giải pháp này không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục pháp luật về phòng, chống tham nhũng trong nhà trường mà còn góp phần hình thành thế hệ sinh viên có tri thức pháp luật, ý thức liêm chính và trách nhiệm xã hội, đáp ứng yêu cầu phòng ngừa tham nhũng từ sớm, từ xa trong giai đoạn hiện nay.
Chú thích:
1, 3. Bài viết sử dụng kết quả nghiên cứu của đề tài: Phổ biến, giáo dục pháp luật về phòng, chống tham nhũng cho sinh viên các trường cao đẳng, đại học trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk. Học viện Hành chính và Quản trị công, mã số 8380102.
2. Nguyễn Phú Trọng (2023). Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh, H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 14, 15, 16.
Tài liệu tham khảo:
1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
2. Ban Nội chính Trung ương (2022). Báo cáo tổng kết công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.
3. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2021). Tài liệu hướng dẫn công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhà trường.
4. Bộ Tư pháp (2020). Tài liệu phổ biến, giáo dục pháp luật về phòng, chống tham nhũng.
5. Chính phủ (2019). Nghị định số 59/2019/NĐ-CP ngày 01/7/2019 quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng.
6. Lê Thiên Hương; Trần Thị Diệu Oanh (2015). Phổ biến, giáo dục pháp luật về phòng, chống tham nhũng cho sinh viên. H. NXB Chính trị quốc gia.



