Developing human resources to meet the requirements of science and technology development at universities in Khanh Hoa province
TS. Lưu Mai Hoa
Trường Đại học Nha Trang
(Quanlynhanuoc). Trong bối cảnh đẩy mạnh phát triển khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW, nguồn nhân lực chất lượng cao trong các cơ sở giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Bài viết phân tích thực trạng nguồn nhân lực phục vụ phát triển khoa học – công nghệ tại các trường đại học trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa giai đoạn 2020 – 2025. Trên cơ sở đó, đề xuất giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực khoa học – công nghệ tại các trường đại học trên địa bàn, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển tỉnh Khánh Hòa trở thành trung tâm khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo của khu vực1.
Từ khóa: Chuyển đổi số; đổi mới sáng tạo; nguồn nhân lực; khoa học – công nghệ; tỉnh Khánh Hòa.
Abstract: In the context of promoting science and technology development, innovation, and digital transformation in accordance with Resolution No. 57-NQ/TW, high-quality human resources in higher education institutions play a particularly important role. This article focuses on analyzing the current state of human resources serving the development of science and technology at universities in Khanh Hoa province during the period 2020-2025. Based on this analysis, it proposes solutions to develop science and technology human resources at universities, contributing to the goal of developing Khanh Hoa province into a regional center for science, technology, and innovation.
Keywords: Digital conversion; creative innovation; higher education; science – technology; Khanh Hoa province.
1. Đặt vấn đề
Trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 và xu thế chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo đã trở thành động lực then chốt cho phát triển kinh tế – xã hội. Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia khẳng định phát triển khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là “yếu tố quyết định” đối với sự phát triển nhanh và bền vững của quốc gia.
Tại Việt Nam, nguồn nhân lực khoa học – công nghệ được xác định là một trong những trụ cột chiến lược. Trong đó, các cơ sở giáo dục đại học đóng vai trò trung tâm trong đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ. Đối với tỉnh Khánh Hòa, Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 28/01/2022 của Bộ Chính trị về xây dựng, phát triển tỉnh Khánh Hòa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã đặt mục tiêu xây dựng địa phương trở thành trung tâm kinh tế biển, khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo của cả nước.
Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, nguồn nhân lực tại các trường đại học trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa vẫn còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển khoa học – công nghệ trong bối cảnh mới. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải đánh giá toàn diện thực trạng và đề xuất các giải pháp phù hợp.
2. Cơ sở lý luận và chính sách về phát triển nguồn nhân lực khoa học – công nghệ
Nguồn nhân lực trong giáo dục đại học là tổng thể đội ngũ giảng viên, nhà nghiên cứu, cán bộ quản lý và nhân viên hỗ trợ tham gia vào hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học. Đây là lực lượng có tính chuyên môn hóa cao, giữ vai trò nòng cốt trong việc sản sinh và lan tỏa tri thức.
Phát triển nguồn nhân lực khoa học – công nghệ trong các trường đại học gồm một số đặc điểm nổi bật: (1) Tính học thuật cao; (2) Gắn chặt với hoạt động nghiên cứu và chuyển giao công nghệ; (3) Tính liên tục và cập nhật; (4) Xu hướng quốc tế hóa mạnh mẽ. Những đặc điểm này đòi hỏi chiến lược phát triển nhân lực phải mang tính dài hạn, đồng bộ và thích ứng nhanh với biến động công nghệ.
Về mặt chính sách, Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 01/11/2012 Hội nghị Trung ương 6 (khóa XI) về phát triển khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế nhấn mạnh yêu cầu xây dựng và thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng, trọng dụng, đãi ngộ, tôn vinh đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ, nhất là các chuyên gia giỏi, có nhiều đóng góp… Có chính sách trọng dụng đặc biệt đối với cán bộ khoa học – công nghệ đầu ngành, cán bộ khoa học – công nghệ được giao chủ trì nhiệm vụ quan trọng của quốc gia, cán bộ khoa học – công nghệ trẻ tài năng.
Hội nghị Trung ương 8 (khóa XI) ngày 04/11/2013 đã thông qua Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, trong đó xác định rõ: xây dựng quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục gắn với nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng – an ninh và hội nhập quốc tế. Triển khai các giải pháp, mô hình liên thông, liên kết giữa các cơ sở đào tạo, nhất là các trường đại học với các tổ chức khoa học và công nghệ, đặc biệt là các viện nghiên cứu.
Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 khẳng định: phát triển khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang là yếu tố quyết định phát triển của các quốc gia; là điều kiện tiên quyết, thời cơ tốt nhất để nước ta phát triển giàu mạnh, hùng cường trong kỷ nguyên mới – kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Trên cơ sở đó, Nghị quyết đề ra bảy nhóm nhiệm vụ, giải pháp lớn, trong đó nhấn mạnh việc phát triển nguồn nhân lực khoa học – công nghệ trong các cơ sở giáo dục đại học; đồng thời, nhấn mạnh: “Tăng cường đầu tư, đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, bảo đảm nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia… Xây dựng một số trường, trung tâm đào tạo tiên tiến chuyên sâu về trí tuệ nhân tạo. Phát triển đội ngũ giảng viên, các nhà khoa học đủ năng lực, trình độ đáp ứng việc giảng dạy lĩnh vực khoa học cơ bản, công nghệ chip bán dẫn, vi mạch, kỹ thuật và công nghệ then chốt; đẩy mạnh hợp tác với các đại học uy tín của nước ngoài; đổi mới mạnh mẽ chương trình đào tạo theo chuẩn quốc tế, hiện đại hóa phương thức đào tạo và ứng dụng công nghệ tiên tiến, nhất là trí tuệ nhân tạo”.
Trên tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 03/NQ-CP, ngày 09/01/2025 ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW, trong đó nhấn mạnh giải pháp: “Rà soát, sửa đổi, bổ sung Đề án nâng cao năng lực đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý các cơ sở giáo dục đại học đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo giai đoạn 2019 – 2030, đáp ứng yêu cầu trong bối cảnh mới”.
Thực hiện Chiến lược đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, ngày 18/01/2019, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 89/QĐ-TTg về phê duyệt Đề án nâng cao năng lực đội ngũ giảng viên, cán bộ tại các cơ sở giáo dục đại học đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo giai đoạn 2019 – 2030, nhấn mạnh mục tiêu: “Xây dựng đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý các cơ sở giáo dục đại học bảo đảm về chất lượng, hợp lý về cơ cấu, đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và phát triển khoa học, công nghệ cho đất nước, gắn với yêu cầu khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, yêu cầu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0”.
Quyết định số 2205/QĐ-TTg ngày 24/12/2020 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chương trình phát triển tài sản trí tuệ đến năm 2030 chỉ rõ: hỗ trợ các cơ sở giáo dục đại học tăng cường năng lực sở hữu trí tuệ, khuyến khích nghiên cứu khoa học có giá trị thương mại.
Ngày 11/5/2022, Thủ tướng Chính phủ ký ban hành Quyết định số 569/QĐ-TTg về Chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đến năm 2030, xác định: triển khai các chính sách, giải pháp để đại học thực sự trở thành các trung tâm nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, là nguồn cung tri thức cho các hoạt động đổi mới sáng tạo. Phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh và một số nhóm nghiên cứu trình độ quốc tế…
Tỉnh Khánh Hòa cũng đã ban hành nhiều chính sách nhằm phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt thông qua Nghị quyết số 48-NQ/TU về thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW, trong đó khẳng định: phối hợp, hỗ trợ để phát huy tối đa nguồn lực từ các viện, các trung tâm nghiên cứu, các trường đại học trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa trở thành các chủ thể nghiên cứu mạnh, kết hợp chặt chẽ giữa nghiên cứu, ứng dụng và đào tạo đóng góp vào sự phát triển khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo của tỉnh; xây dựng nền tảng giáo dục, đào tạo trực tuyến, mô hình giáo dục đại học số, nâng cao năng lực số trong xã hội. Đẩy nhanh việc triển khai Đề án nâng cấp Trường Đại học Nha Trang thành đại học vùng gắn với định hướng phát triển một số ngành đào tạo trọng điểm ngang tầm với các nước phát triển ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương.
Có thể thấy, hệ thống chính sách, văn bản pháp lý đã tạo hành lang thuận lợi cho việc xây dựng và phát triển nguồn nhân lực trong các trường đại học. Tuy nhiên, để chính sách đi vào thực tiễn, đòi hỏi phải có các giải pháp cụ thể, phù hợp với từng cơ sở đào tạo, đặc biệt trong bối cảnh yêu cầu chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo ngày càng cao.
3. Thực trạng nguồn nhân lực khoa học – công nghệ tại các trường đại học tỉnh Khánh Hòa
(1) Quy mô và cơ cấu nguồn nhân lực: hiện nay, tỉnh Khánh Hòa có một số cơ sở giáo dục đại học tiêu biểu, như: Trường Đại học Nha Trang, Trường Đại học Khánh Hòa, Trường Đại học Thông tin liên lạc, Học viện Hải quan, với tổng quy mô đào tạo khoảng 35.000 sinh viên2.
Đội ngũ giảng viên và cán bộ nghiên cứu khoa học đạt khoảng 1.800 người, trong đó 24% có trình độ tiến sĩ trở lên, 58% có trình độ thạc sĩ, 18% còn lại là trình độ đại học, chủ yếu làm việc tại các phòng, trung tâm thí nghiệm, thực hành. Mặc dù quy mô tăng trưởng, nhưng tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ vẫn còn thấp so với yêu cầu phát triển khoa học – công nghệ, đặc biệt trong các lĩnh vực mũi nhọn, như: trí tuệ nhân tạo (AI), công nghệ số, logistics và kinh tế biển.
Cơ cấu ngành nghề chưa cân đối: nhóm ngành kinh tế – du lịch chiếm trên 45%, trong khi các ngành kỹ thuật – công nghệ chỉ khoảng 32%. Điều này phản ánh định hướng đào tạo chưa gắn chặt với nhu cầu phát triển khoa học – công nghệ.
(2) Năng lực nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo: trong giai đoạn 2020 – 2024, hoạt động nghiên cứu khoa học tại các trường đại học có sự cải thiện nhất định. Số lượng đề tài nghiên cứu tăng lên, nội dung tập trung vào các lĩnh vực thế mạnh, như: kinh tế biển, thủy sản, du lịch. Tuy nhiên, năng lực nghiên cứu vẫn còn nhiều hạn chế: trung bình mỗi năm chỉ có khoảng 20 – 30 bài báo quốc tế thuộc WoS/Scopus, 50 – 70 bài báo trong nước, số lượng đề tài cấp bộ, cấp tỉnh còn ít. Ngoài ra, chưa hình thành nhiều nhóm nghiên cứu mạnh, thiếu các đề tài có tính đột phá và khả năng ứng dụng rộng rãi.
Hoạt động đổi mới sáng tạo còn manh mún, nhiều trường chưa có trung tâm đổi mới sáng tạo hoặc vườn ươm khởi nghiệp. Năng lực số của giảng viên còn hạn chế, chỉ khoảng 38% sử dụng thành thạo công cụ dạy học số.
(3) Hợp tác với doanh nghiệp và quốc tế: hợp tác giữa các trường đại học và doanh nghiệp bước đầu được triển khai thông qua các chương trình thực tập, liên kết đào tạo và nghiên cứu ứng dụng. Tuy nhiên, quy mô hợp tác còn nhỏ, thiếu các dự án nghiên cứu chung quy mô lớn. Cơ chế phối hợp chưa rõ ràng, chưa hình thành được hệ sinh thái đổi mới sáng tạo hoàn chỉnh.
(4) Về cơ chế, chính sách: cơ chế đãi ngộ chưa đủ sức thu hút nhân tài; nguồn kinh phí nghiên cứu còn hạn chế; cơ sở vật chất chưa đồng bộ; thiếu hệ thống dữ liệu và hạ tầng số phục vụ nghiên cứu. Những hạn chế này ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng nguồn nhân lực và hiệu quả hoạt động khoa học – công nghệ.
Nhìn chung, hệ thống trường đại học của tỉnh đã từng bước nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên, đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu phục vụ phát triển địa phương. Nhận thức về vai trò của khoa học – công nghệ và phát triển nguồn nhân lực được nâng lên rõ rệt, đặc biệt trong các trường công lập. Nhiều trường bước đầu ứng dụng công nghệ số vào đào tạo, triển khai học liệu mở, nền tảng LMS, học online – blended learning (học tập kết hợp).
Tuy nhiên, tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ còn thấp; thiếu chuyên gia đầu ngành trong các lĩnh vực công nghệ mũi nhọn. Hoạt động nghiên cứu chưa thật sự chuyên sâu, thiếu liên kết, thiếu định hướng theo ngành ưu tiên của địa phương. Chính sách thu hút, đãi ngộ nhân tài chưa đủ cạnh tranh; môi trường học thuật còn thiếu động lực. Thiếu hạ tầng nghiên cứu, như: phòng thí nghiệm hiện đại, thư viện số, kho học liệu khoa học – công nghệ chất lượng cao.
Nguyên nhân của những hạn chế trên là do, nguồn kinh phí đầu tư cho phát triển đội ngũ nhân lực còn hạn chế, chưa có cơ chế tài chính riêng cho đào tạo nhân lực chất lượng cao. Thiếu cơ chế phối hợp giữa các sở, ngành với trường đại học trong định hướng phát triển nhân lực gắn với nhu cầu thị trường. Tư duy quản lý giáo dục đại học còn thiên về hành chính, ít linh hoạt trong tiếp cận nhân lực chất lượng cao và hợp tác quốc tế.
4. Một số giải pháp
Thứ nhất, hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển nhân lực. Cần xây dựng và hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách đồng bộ theo hướng tạo động lực mạnh mẽ cho phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Trước hết, tỉnh Khánh Hòa và các cơ sở giáo dục đại học cần ban hành chính sách thu hút, đãi ngộ cạnh tranh đối với đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học có trình độ cao, đặc biệt là các nhà khoa học đầu ngành, có bài viết công bố quốc tế và kinh nghiệm nghiên cứu thực tiễn. Các chính sách này không chỉ dừng lại ở hỗ trợ tài chính (lương, thưởng, nhà ở, điều kiện làm việc) mà cần chú trọng đến môi trường học thuật, cơ hội phát triển nghề nghiệp và mức độ tự chủ trong nghiên cứu.
Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh thực hiện cơ chế tự chủ đại học gắn với trách nhiệm giải trình, cho phép các trường chủ động trong tuyển dụng, sử dụng và đãi ngộ nhân lực. Đồng thời, xây dựng hệ thống đánh giá, xếp loại giảng viên, nhà khoa học dựa trên kết quả đầu ra (công bố khoa học, sản phẩm nghiên cứu, chuyển giao công nghệ), từ đó, tạo động lực cạnh tranh lành mạnh và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực.
Thứ hai, nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng. Các trường đại học cần tập trung nâng cao chất lượng đào tạo đội ngũ giảng viên theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Trọng tâm là đẩy mạnh đào tạo sau đại học, đặc biệt là đào tạo tiến sĩ tại các quốc gia có nền khoa học phát triển, gắn với các lĩnh vực mũi nhọn phù hợp với định hướng phát triển của tỉnh Khánh Hòa, như: kinh tế biển, du lịch, công nghệ thông tin, năng lượng tái tạo.
Song song đó, cần tăng cường các chương trình bồi dưỡng ngắn hạn nhằm nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học, kỹ năng công bố quốc tế, phương pháp giảng dạy hiện đại cũng như kỹ năng số và ngoại ngữ cho giảng viên. Việc xây dựng các chương trình đào tạo theo chuẩn đầu ra gắn với năng lực nghiên cứu và đổi mới sáng tạo sẽ góp phần hình thành đội ngũ nhân lực có khả năng thích ứng nhanh với sự phát triển của khoa học – công nghệ trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0.
Thứ ba, phát triển môi trường nghiên cứu và đổi mới sáng tạo. Một môi trường nghiên cứu thuận lợi là điều kiện tiên quyết để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Do đó, cần chú trọng đầu tư xây dựng và nâng cấp hệ thống cơ sở vật chất phục vụ nghiên cứu, bao gồm: phòng thí nghiệm trọng điểm, trung tâm nghiên cứu liên ngành, thư viện số và cơ sở dữ liệu khoa học hiện đại. Đồng thời, khuyến khích thành lập và phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh, nhóm nghiên cứu liên ngành có khả năng giải quyết các vấn đề thực tiễn của địa phương. Việc hình thành các trung tâm đổi mới sáng tạo trong trường đại học sẽ góp phần thúc đẩy hoạt động nghiên cứu ứng dụng, khởi nghiệp sáng tạo và chuyển giao công nghệ. Bên cạnh đó, cần xây dựng và vận hành hiệu quả các quỹ hỗ trợ nghiên cứu khoa học, đặc biệt là các đề tài có tính ứng dụng cao, gắn với nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh.
Thứ tư, thúc đẩy liên kết đại học – doanh nghiệp – Nhà nước. Tăng cường liên kết giữa nhà trường, doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước là giải pháp quan trọng nhằm nâng cao chất lượng và tính ứng dụng của nguồn nhân lực khoa học – công nghệ. Cần xây dựng cơ chế hợp tác ba bên theo hướng rõ ràng về quyền lợi và trách nhiệm, trong đó doanh nghiệp tham gia vào quá trình xây dựng chương trình đào tạo, tổ chức thực tập, đặt hàng nghiên cứu và tiếp nhận chuyển giao công nghệ. Đồng thời, các trường đại học cần chủ động thiết lập mối quan hệ hợp tác chiến lược với doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh, đặc biệt là các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghệ cao, du lịch, kinh tế biển. Thông qua đó, góp phần rút ngắn khoảng cách giữa đào tạo và thực tiễn, nâng cao khả năng đáp ứng nhu cầu thị trường lao động của sinh viên sau khi tốt nghiệp.
Thứ năm, đẩy mạnh chuyển đổi số trong giáo dục đại học. Các trường đại học cần đầu tư xây dựng hệ thống hạ tầng số đồng bộ, bao gồm: nền tảng học tập trực tuyến (LMS), thư viện số, hệ thống quản lý đào tạo và nghiên cứu khoa học. Bên cạnh đó, cần phát triển các học liệu số, khóa học trực tuyến mở; đồng thời, ứng dụng công nghệ số trong giảng dạy, kiểm tra, đánh giá và quản lý đào tạo. Việc nâng cao năng lực số cho giảng viên và sinh viên, bao gồm: kỹ năng sử dụng công nghệ, khai thác dữ liệu và tư duy số sẽ góp phần hình thành nguồn nhân lực có khả năng làm việc trong môi trường số hóa và hội nhập quốc tế.
Thứ sáu, tăng cường hợp tác quốc tế. Các trường đại học trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa cần mở rộng quan hệ hợp tác với các trường đại học, viện nghiên cứu, tổ chức quốc tế có uy tín nhằm triển khai các chương trình đào tạo liên kết, trao đổi giảng viên và sinh viên cũng như hợp tác nghiên cứu khoa học. Đồng thời, cần có chính sách thu hút chuyên gia, nhà khoa học nước ngoài tham gia giảng dạy, nghiên cứu tại địa phương; khuyến khích giảng viên tham gia các hội thảo quốc tế, mạng lưới nghiên cứu toàn cầu. Thông qua đó, góp phần nâng cao trình độ chuyên môn, mở rộng tầm nhìn học thuật và từng bước hội nhập vào hệ thống khoa học – công nghệ quốc tế.
5. Kết luận
Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển khoa học – công nghệ là nhiệm vụ mang tính chiến lược đối với các trường đại học và tỉnh Khánh Hòa. Trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế sâu rộng, yêu cầu đối với nguồn nhân lực ngày càng cao, đòi hỏi sự đổi mới toàn diện từ cơ chế, chính sách đến mô hình đào tạo và nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu cho thấy, mặc dù đã đạt được một số thành tựu, song nguồn nhân lực khoa học – công nghệ tại các trường đại học trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa vẫn còn nhiều hạn chế. Do đó, cần triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, qua đó, góp phần thực hiện thành công mục tiêu phát triển khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo của tỉnh trong giai đoạn tới.
Chú thích:
1. Bài viết được tài trợ bởi nguồn ngân sách khoa học và công nghệ của Trường Đại học Nha Trang. Đề tài mã số TR2025-13-41.
2. Số liệu thu thập từ nguồn báo cáo tổng kết hằng năm của các trường đại học: Trường Đại học Nha Trang, Trường Đại học Khánh Hòa, Trường Đại học Thông tin liên lạc, Học viện Hải quan.
Tài liệu tham khảo:
1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2012). Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 01/11/2012 về phát triển khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.
2. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2013). Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.
3. Bộ Chính trị (2022). Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 28/01/2022 về xây dựng, phát triển tỉnh Khánh Hòa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
4. Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
5. Chính phủ (2025). Nghị quyết số 03/NQ-CP ngày 09/01/2025 ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
6. Thủ tướng Chính phủ (2019). Quyết định số 89/QĐ-TTg ngày 18/01/2019 về phê duyệt Đề án nâng cao năng lực đội ngũ giảng viên, cán bộ tại các cơ sở giáo dục đại học đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo giai đoạn 2019 – 2030.
7. Thủ tướng Chính phủ (2020). Quyết định số 2205/QĐ-TTg ngày 24/12/2020 về phê duyệt Chương trình phát triển tài sản trí tuệ đến năm 2030.
8. Thủ tướng Chính phủ (2022). Quyết định số 569/QĐ-TTg ngày 11/5/2022 về ban hành Chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đến năm 2030.
9. Tỉnh ủy Khánh Hòa (2025). Nghị quyết số 48-NQ/TU về thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.



