The issue of domesticating international law on combating cross-border trafficking in persons in Vietnam
TS. Nguyễn Phương Thảo
ThS. Lê Trọng An
Học viện Cảnh sát nhân dân
(Quanlynhanuoc.vn) – Việt Nam là thành viên của nhiều điều ước quốc tế liên quan đến phòng, chống mua bán người xuyên biên giới. Hiện nay, Việt Nam đã tiến hành nội luật hóa các quy định của pháp luật quốc tế vào pháp luật quốc gia với mục đích hài hòa giữa pháp luật của quốc gia và pháp luật khu vực và thế giới, tạo cơ sở pháp lý cho việc hợp tác khu vực và quốc tế trong đấu tranh phòng, chống mua bán người. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, vẫn còn có những hạn chế, bất cập. Bài viết phân tích vấn đề nội luật hóa pháp luật quốc tế về phòng, chống mua bán người xuyên biên giới, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả của hoạt động này.
Từ khóa: Nội luật hóa; mua bán người; quyền con người; điều ước quốc tế; hợp tác quốc tế.
Abstract: Vietnam is a party to numerous international treaties related to the prevention and combating of cross-border human trafficking. Currently, Vietnam has incorporated international law provisions into its domestic legislation to harmonize national law with regional and international law, thereby establishing a legal foundation for regional and international cooperation in combating human trafficking. However, in practice, there are still limitations and shortcomings. This article analyzes the issue of domesticating international law to prevent and combat cross-border human trafficking, and proposes several solutions to enhance the effectiveness of these efforts.
Keywords: Domestication; human trafficking; human rights; international treaties; international cooperation.
1. Đặt vấn đề
Các điều ước quốc tế sẽ cung cấp cơ sở pháp lý để Việt Nam hợp tác với các quốc gia khác trong phòng, chống mua bán người, giúp Việt Nam xây dựng mối quan hệ hợp tác chặt chẽ với các quốc gia khác, chia sẻ thông tin, kinh nghiệm và cùng nhau giải quyết vấn đề mua bán người. Tuy nhiên, trên thực tiễn, do các quốc gia có hệ thống pháp luật khác nhau, Việt Nam phải điều chỉnh pháp luật trong nước để phù hợp với các cam kết quốc tế.
Việc thực hiện các hiệp định quốc tế đòi hỏi nguồn lực tài chính, con người và kỹ thuật. Việt Nam cần có cơ chế huy động các nguồn lực để thực hiện các cam kết; đồng thời, vấn đề nâng cao năng lực, chuyên môn của đội ngũ cán bộ phòng, chống mua bán người liên quan đến hợp tác quốc tế là thực sự cần thiết. Bên cạnh đó, Việt Nam đã tích cực nội luật hóa các điều ước quốc tế điều chỉnh trực tiếp và gián tiếp vấn đề mua bán người xuyên biên giới thông qua việc sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật hiện hành.
2. Nội dung hoạt động nội luật hóa pháp luật quốc tế về mua bán người xuyên biên giới của Việt Nam
Việt Nam đã tham gia ký kết và là thành viên của nhiều công ước, văn kiện pháp luật quốc tế liên quan trực tiếp đến công tác phòng, chống mua bán người xuyên biên giới, như: Công ước về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ năm 1979 được phê chuẩn vào ngày 17/02/1982; Công ước CRC được Việt Nam phê chuẩn vào ngày 28/9/1990; Nghị định thư không bắt buộc bổ sung cho Công ước về quyền trẻ em về mua bán trẻ em, mại dâm trẻ em và văn hoá phẩm khiêu dâm trẻ em được Việt Nam phê chuẩn ngày 20/12/2001; Nghị định thư không bắt buộc bổ sung cho Công ước về quyền trẻ em về sự tham gia của trẻ em trong xung đột vũ trang được Việt Nam phê chuẩn vào ngày 20/12/2001; Công ước số 182 về cấm và hành động ngay lập tức để xoá bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất được phê chuẩn vào ngày 19/12/2000…
Đặc biệt, Việt Nam đã tham gia ký kết và là thành viên của nhiều điều ước quốc tế liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến phòng, chống mua bán người xuyên biên giới, như: Công ước TOC, thông qua ngày 15/12/2000; Công ước ASEAN được ký ngày 21/11/2015. Hai Công ước này đã tạo nền tảng pháp lý quan trọng và chuyên biệt đối với hoạt động hợp tác phòng, chống mua bán người giữa các quốc gia, đặc biệt là giữa các quốc gia thành viên ASEAN.
Nhằm nâng cao hiệu quả của việc thực thi các điều ước quốc tế về phòng, chống mua bán người xuyên biên giới, Việt Nam đã tiến hành các hoạt động nội luật hoá những quy định trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, cụ thể như sau:
Thứ nhất, nội luật hoá những quy định của điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
Về nguyên tắc bảo vệ nạn nhân, được quy định tại Điều 6 của Nghị định thư Palermo và Điều 14 Công ước ACTIP năm 2015, trong đó, yêu cầu các quốc gia thành viên bảo đảm quyền của nạn nhân được được thực hiện đầy đủ, được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, được tiếp cận trợ giúp pháp lý, y tế, tâm lý và tái hòa nhập cộng đồng. Nguyên tắc này đã được nội luật hóa trong Luật Phòng, chống mua bán người năm 2024 (Luật Phòng, chống mua bán người năm 2024) tại khoản 3 Điều 4, với quy định: “Bảo vệ, hỗ trợ nạn nhân toàn diện, lấy nạn nhân làm trung tâm”. Các quy định chi tiết từ Điều 35 đến Điều 41 về bảo mật thông tin, hỗ trợ pháp lý, hỗ trợ tái hòa nhập và bảo vệ nhân thân đã phản ánh sự chuyển hóa rõ ràng tinh thần của Điều 6 Nghị định thư Palermo và Điều 14 Công ước ACTIP năm 2015.
Bên cạnh đó, nguyên tắc hình sự hóa hành vi mua bán người là nghĩa vụ pháp lý mang tính bắt buộc trong hệ thống pháp luật quốc tế nhằm bảo đảm rằng, các hành vi mua bán người và hành vi liên quan phải bị coi là tội phạm và bị xử lý nghiêm khắc. Cơ sở pháp lý của nguyên tắc này được xác định tại Điều 3 và Điều 5 Nghị định thư Palermo cũng như Điều 5 Công ước ACTIP năm 2015, trong đó, yêu cầu các quốc gia thành viên hình sự hóa hành vi tuyển mộ, vận chuyển, chuyển giao, chứa chấp hoặc tiếp nhận người nhằm mục đích bóc lột.
Việt Nam đã nội luật hóa nguyên tắc này thông qua Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025, với các Điều 150, 151 quy định cụ thể về các tội danh liên quan đến mua bán người, chiếm đoạt người dưới 16 tuổi. Cấu trúc của các điều luật này tương thích với định nghĩa “ba yếu tố” của Điều 3 của Nghị định thư Palermo (hành vi – phương thức – mục đích). Ngoài ra, Luật Phòng, chống mua bán người năm 2024 cũng tái khẳng định chính sách hình sự hoá này thông qua khoản 2, Điều 4: “Phòng ngừa là chính, chủ động phát hiện, xử lý nghiêm hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống mua bán người”. Sự đồng bộ giữa luật chuyên ngành và luật hình sự cho thấy mức độ tương thích cao với nghĩa vụ quốc tế.
Đối với nguyên tắc tôn trọng quyền con người, đây là nguyên tắc nền tảng và có ý nghĩa định hướng cho toàn bộ hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp trong lĩnh vực phòng, chống mua bán người xuyên biên giới. Cơ sở của nguyên tắc này bắt nguồn từ Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền năm 1948, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị 1966 (ICCPR), Công ước xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ 1979 (CEDAW), Công ước về quyền trẻ em 1989 (CRC), và được khẳng định tại Điều 2 và 6(3) Nghị định thư Palermo. Nguyên tắc này được thể chế hóa tại khoản 1, Điều 4 Luật Phòng, chống mua bán người 2024, với quy định: “Tôn trọng, bảo đảm quyền con người, quyền công dân”.
Ngoài ra, các quy định cụ thể về bảo vệ nhân phẩm, danh dự (Điều 36), quyền được bảo mật thông tin (Điều 37) và quyền tham gia tố tụng của nạn nhân (Điều 40) đều thể hiện sự tương thích trực tiếp với Điều 6(5) Nghị định thư Palermo và các khuyến nghị của Báo cáo viên đặc biệt của Liên Hợp quốc về mua bán người (A/HRC/47/34, 2021).
Nguyên tắc phòng ngừa nạn mua bán người được coi là nguyên tắc mang tính chiến lược, hướng tới loại bỏ nguyên nhân gốc rễ của tội phạm ngay từ đầu. Nguyên tắc này được quy định tại Điều 2 và Điều 9 Nghị định thư Palermo cũng như Điều 11 Công ước ACTIP, yêu cầu các quốc gia thành viên áp dụng biện pháp tuyên truyền, giáo dục, nghiên cứu nguyên nhân xã hội – kinh tế của mua bán người và thúc đẩy hợp tác song phương, đa phương để ngăn ngừa tội phạm. Việt Nam đã nội luật hoá nguyên tắc này tại khoản 2, Điều 4 Luật Phòng, chống mua bán người năm 2024: “Phòng ngừa là chính, chủ động phát hiện, xử lý nghiêm hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống mua bán người”. Bên cạnh đó, việc ban hành Chiến lược quốc gia về phòng, chống mua bán người giai đoạn từ 2021 – 2025, định hướng đến 2030 cũng khẳng định cam kết của Việt Nam trong việc lồng ghép phòng, chống mua bán người vào các chính sách phát triển bền vững.
Thứ hai, nội luật hóa những quy định của pháp luật quốc tế đối với vấn đề hình sự hoá hành vi mua bán người xuyên biên giới.
Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định về hai điều luật trực tiếp liên quan đến hành vi mua bán người: Tội mua bán người (Điều 150) và Tội mua bán người dưới 16 tuổi (Điều 151). Đồng thời để hướng dẫn, áp dụng thống nhất pháp luật, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 02/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 hướng dẫn áp dụng tội mua bán người Điều 150 và Tội mua bán người dưới 16 tuổi Điều 151 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Về Tội mua bán người, Điều 150, Bộ luật Hình sự năm 2015 nêu rõ:
Một là, các yếu tố về hành vi, gồm một trong 05 hành vi sau: chuyển giao người; tiếp nhận người; tuyển mộ người; vận chuyển người; chứa chấp người. Như vậy, Điều 150, Bộ luật Hình sự năm 2015 đã nêu ra một số hành vi cụ thể góp phần là căn cứ quan trọng giúp các cơ quan chức năng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử hành vi mua bán người một cách chính xác nhất. Pháp luật Việt Nam quy định rất nghiêm khắc đối với hành vi mua bán người “phạt tù từ 12 năm đến 20 năm” khoản 3 Điều 150 Bộ luật Hình sự năm 2015, đối với các trường hợp có tính chất đặc biệt nghiêm trọng, đồng thời, áp dụng các hình phạt bổ sung nhằm ngăn chặn người phạm tội tái phạm, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nạn nhân;
Hai là, phương thức, thủ đoạn phạm tội có thể bao gồm việc sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực – tức là tác động vật chất trực tiếp đến thân thể nạn nhân bằng các hành vi như hành hung khí, vũ lực, đe dọa giết hại để cưỡng ép nạn nhân thực hiện theo ý muốn của người phạm tội; bên cạnh đó, một thủ đoạn phổ biến khác là hành vi lừa đảo, như hứa hẹn công việc có thu nhập cao, môi trường làm việc lý tưởng trái ngược hoàn toàn với thực tế sau đó đưa các nạn nhân đến các trại tập trung để cưỡng bức lao động, cưỡng bức tham gia các đường dây lừa đảo… Ngoài ra, các hành vi như cho nạn nhân sử dụng thuốc mê, lợi dụng sự thiếu hiểu biết, hoàn cảnh kinh tế – xã hội khó khăn của nạn nhân để dụ dỗ, lôi kéo, cưỡng ép tham gia vào các hoạt động trái pháp luật cũng được xem là thủ đoạn phạm tội;
Ba là, yếu tố mục đích người phạm tội được chia thành hai loại: trực tiếp và gián tiếp. Mục đích trực tiếp là chuyển giao hoặc tiếp nhận người, trong khi mục đích gián tiếp bao gồm các hành vi nhằm thu lợi vật chất, bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, chiếm đoạt bộ phận cơ thể hoặc thực hiện các hành vi vô nhân đạo khác. Chỉ khi đồng thời tồn tại cả hai loại mục đích này thì hành vi mới bị coi là tội mua bán người.
Tội mua bán người dưới 16 tuổi Điều 151 Bộ luật Hình sự năm 2015 có cùng bản chất với tội mua bán người Điều 150 ở chỗ đều xâm phạm quyền tự do thân thể, nhân phẩm, danh dự của con người. Tuy nhiên, do đối tượng tác động là người dưới 16 tuổi, nhóm chủ thể chưa phát triển đầy đủ về thể chất và nhận thức, nên mức độ nguy hiểm cho xã hội cao hơn, từ đó, pháp luật quy định chế tài nghiêm khắc hơn nhằm nội luật hóa các điều ước quốc tế và quốc gia về bảo vệ trẻ em.
Về cấu thành tội phạm, điểm khác biệt cơ bản của Điều 151 là không coi “phương thức, thủ đoạn” (dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, lừa gạt hoặc thủ đoạn khác) là dấu hiệu bắt buộc để định tội. Chỉ cần có hành vi chuyển giao, tiếp nhận, tuyển mộ, vận chuyển hoặc chứa chấp người dưới 16 tuổi gắn với mục đích như Điều 150 đã cấu thành tội phạm. Quy định này xuất phát từ đặc điểm của nạn nhân là người dưới 16 tuổi, nên việc bảo vệ được đặt ở mức độ cao hơn so với người đủ từ 16 tuổi trở lên.
Đối với hành vi chuyển giao hoặc tiếp nhận người dưới 16 tuổi, yếu tố mục đích vụ lợi (nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác) là dấu hiệu bắt buộc để định tội danh. Tuy nhiên, cần phân biệt với các trường hợp chuyển giao mang tính hợp pháp, nhân đạo ví dụ như việc nhận nuôi con nuôi đúng quy định pháp luật, không nhằm mục đích vụ lợi, thì không cấu thành tội mua bán người dưới 16 tuổi.
Thứ ba, nội luật hóa các quy định của pháp luật quốc tế về bảo đảm quyền của nạn nhân bị mua bán.
Nội dung này được quy định trong Luật Phòng, chống mua bán người năm 2024 và Thông tư số 84/TTBTC ngày 27/11/2019 của Bộ Tài chính quy định nội dung, mức chi cho công tác hỗ trợ nạn nhân và nội dung, mức chi chế độ hỗ trợ nạn nhân hướng dẫn nội dung, mức chi cho công tác hỗ trợ nạn nhân. Cụ thể như sau:
Pháp luật Việt Nam đã nội luật hóa các chuẩn mực quốc tế về bảo vệ nạn nhân thông qua Luật Phòng, chống mua bán người năm 2024 và các văn bản hướng dẫn thi hành, trong đó thiết lập cơ chế bảo vệ và hỗ trợ nạn nhân theo hướng toàn diện, lấy nạn nhân làm trung tâm.
(1) Pháp luật quy định phạm vi bảo vệ và hỗ trợ đối với nạn nhân bị mua bán gắn với các hành vi bóc lột như bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể hoặc các mục đích vô nhân đạo khác. Đây là cơ sở để xác định đối tượng được hưởng các chính sách hỗ trợ và bảo vệ.
(2) Hệ thống chế độ hỗ trợ nạn nhân được thiết kế tương đối toàn diện, bao gồm các hỗ trợ về nhu cầu thiết yếu, y tế, tâm lý, pháp lý, chi phí đi lại, học văn hóa, học nghề, tạo việc làm và trợ cấp ban đầu. Các nội dung này được cụ thể hóa về mức chi và cơ chế thực hiện trong các văn bản dưới luật, bảo đảm tính khả thi trong thực tiễn.
(3) Pháp luật quy định cơ chế bảo vệ và hồi hương nạn nhân, đặc biệt trong các vụ việc có yếu tố nước ngoài. Việc hồi hương được thực hiện trên cơ sở điều ước quốc tế và thỏa thuận giữa các quốc gia, bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm của nạn nhân.
(4) Các cơ quan, tổ chức thực hiện trách nhiệm hỗ trợ nạn nhân bị mua bán gồm 5 nhóm: Ủy ban nhân dân cấp xã tiếp nhận nạn nhân; cơ quan Công an, Bộ đội biên phòng giải cứu nạn nhân, hỗ trợ ban đầu; phòng Lao động – thương binh và xã hội cấp huyện hỗ trợ chi phí đi lại; cơ sở bảo trợ xã hội, cơ sở hỗ trợ nạn nhân thực hiện hỗ trợ tâm lý, y tế; trung tâm trợ giúp pháp lý thực hiện việc trợ giúp pháp lý và sở Lao động – Thương binh và Xã hội cấp tỉnh thực hiện trợ cấp khó khăn ban đầu cho nạn nhân bị mua bán.
Thứ tư, nội luật hóa những quy định của pháp luật quốc tế về nghĩa vụ hợp tác quốc tế trong xử lý tội phạm mua bán người xuyên biên giới.
Tại Điều 7, Chương trình phòng, chống mua bán người giai đoạn 2021 – 2025 và định hướng đến năm 2030 đã đưa ra những phương hướng nhằm tăng cường các hoạt động hợp tác quốc tế trong Phòng, chống mua bán người xuyên biên giới, cụ thể:
(1) Cần tăng cường phối hợp, trao đổi thông tin và nghiên cứu nhằm thiết lập các đường dây nóng giữa các cơ quan thực thi pháp luật của chủ thể luật quốc tế trên thế giới, các tổ chức phi chính phủ (NGOs) để kịp thời liên hệ, hỗ trợ xác minh, xác định nạn nhân tại nước ngoài và phối hợp điều tra, bảo vệ, giải cứu nạn nhân.
(2) Đối với các quốc gia có chung đường biên giới cần xây dựng và thống nhất tiêu chí xác định nạn nhân bị mua bán và các cơ chế phối hợp, đồng thời tăng cường, phát huy hiệu quả hoạt động của Văn phòng liên lạc qua biên giới tại các tỉnh của Việt Nam có chung đường biên giới với các quốc gia kể trên.
(3) Tổ chức các hoạt động cụ thể nhằm thực hiện hiệu quả các Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có liên quan đến hoạt động mua bán người xuyên biên giới; (4) tăng cường các hoạt động hợp tác khác như: định kỳ sơ kết, tổng kết hoạt động phòng chống mua bán người; nghiên cứu, đề xuất sửa đổi, bổ sung, ký kết, gia nhập các Điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế; tổ chức, tham gia các hội nghị, hội thảo trong nước và quốc tế, diễn đàn song phương và đa phương về phòng, chống mua bán người…
Thứ năm, nội luật hóa các quy định của pháp luật quốc tế về quyền, nghĩa vụ của cá nhân và cơ chế giải quyết tranh chấp trong phòng, chống mua bán người xuyên biên giới.
Trước hết, về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của cá nhân trong phòng, chống mua bán người xuyên biên giới, Việt Nam đã chuyển hóa nhiều quy định của pháp luật quốc tế vào Luật Phòng, chống mua bán người năm 2024 và các luật có liên quan. Điều 6 (3) và 6 (5) Nghị định thư Palermo năm 2000 quy định rằng, nạn nhân có quyền được bảo vệ nhân thân, danh dự, quyền tiếp cận công lý và được hỗ trợ về pháp lý, y tế, tâm lý và xã hội. Các quy định này đã được nội luật hóa trong Luật Phòng, chống mua bán người năm 2024, thể hiện rõ qua các Điều 35 đến Điều 41 quy định quyền được bảo mật thông tin cá nhân, bảo vệ nhân phẩm, được hỗ trợ pháp lý, y tế, tâm lý và được tái hòa nhập cộng đồng.
Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Điều 7 khoản 6) cũng ghi nhận:“nạn nhân, người đang trong quá trình xác định là nạn nhân của hành vi mua bán người và người dưới 18 tuổi đi cùng theo quy định của Luật Phòng, chống mua bán người” là đối tượng được hưởng trợ giúp pháp lý miễn phí, tương thích với yêu cầu tại Điều 6 (6) Nghị định thư Palermo năm 2000 về bảo đảm quyền được tiếp cận công lý.
Song song với quyền của nạn nhân, pháp luật Việt Nam cũng thể hiện rõ nghĩa vụ và trách nhiệm của công dân trong PCMBN xuyên biên giới. Điều 9 (1) (b) Công ước ACTIP năm 2015 quy định nghĩa vụ của các quốc gia thành viên trong việc tăng cường giáo dục, nâng cao nhận thức cộng đồng để phòng ngừa mua bán người. Quy định này đã được nội luật hoá tại Điều 44 Luật Phòng, chống mua bán người năm 2024, theo đó mọi cá nhân, tổ chức, cơ quan truyền thông có trách nhiệm tham gia tuyên truyền, phát hiện, tố giác và hỗ trợ cơ quan có thẩm quyền trong công tác phòng, chống mua bán người xuyên biên giới.
Ngoài ra, Nghị định số 62/2023/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phòng, chống mua bán người cũng giao rõ trách nhiệm cho công dân trong việc phát hiện, báo cáo và hợp tác trong công tác phòng ngừa và xử lý tội phạm này. Việc ghi nhận trách nhiệm của công dân thể hiện sự tương thích với Điều 10 Nghị định thư Palermo năm 2000, vốn khẳng định nghĩa vụ của quốc gia thành viên trong việc huy động sự tham gia của xã hội và khu vực tư nhân trong công tác phòng ngừa.
Đối với trách nhiệm của người phạm tội, Việt Nam đã thực hiện nội luật hóa đầy đủ nghĩa vụ hình sự hóa theo Điều 5 Nghị định thư Palermo năm 2000 và Điều 5 Công ước ACTIP năm 2015. Ngoài hình phạt chính được quy định trong Bộ luật hình sự còn quy định về hình phạt bổ sung như tịch thu tài sản có nguồn gốc từ tội phạm phù hợp với Điều 12 Công ước UNTOC, thể hiện nghĩa vụ quốc tế của Việt Nam trong việc ngăn chặn, truy tìm và sung công tài sản do mua bán người mà có.
Về vấn đề giải quyết tranh chấp liên quan đến việc giải thích và áp dụng pháp luật quốc tế về mua bán người xuyên biên giới, Việt Nam đã có bước tiến rõ rệt trong việc nội luật hóa các nghĩa vụ hợp tác quốc tế và giải quyết tranh chấp theo Công ước UNTOC và Nghị định thư Palermo năm 2000. Điều 50 Luật Phòng, chống mua bán người năm 2024 xác định, Bộ Công an là cơ quan đầu mối hợp tác quốc tế, phối hợp với Bộ Ngoại giao, Bộ Tư pháp và các cơ quan liên quan trong việc điều tra, dẫn độ và tương trợ tư pháp theo các điều ước quốc tế. Quy định này tương thích với Điều 10 và 13 Nghị định thư Palermo năm 2000 khẳng định nghĩa vụ của các quốc gia trong việc hợp tác điều tra, chia sẻ thông tin và hỗ trợ bảo vệ nạn nhân.
Ngoài ra, Luật Tương trợ tư pháp về dân sự năm 2025, tại các Điều 16, Điều 17 và Điều 18, quy định chi tiết thẩm quyền tương trợ tư pháp về dân sự ở Việt Nam trong các vụ án có yếu tố xuyên biên giới, tương thích với Điều 18 Công ước UNTOC. Việt Nam còn là thành viên của Hiệp định Tương trợ tư pháp trong các vụ án hình sự giữa các nước ASEAN (2004), tạo cơ sở pháp lý để xử lý các tranh chấp và yêu cầu hợp tác điều tra, dẫn độ trong khu vực.
3. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật quốc tế tại Việt Nam
Thứ nhất, Việt Nam cần ưu tiên ký kết các hiệp định về dẫn độ và tương trợ tư pháp với các quốc gia có mối quan hệ hợp tác chặt chẽ, đặc biệt là các quốc gia có chung biên giới, các nước là điểm đến của người lao động Việt Nam, các nước có tỷ lệ tội phạm mua bán người cao, như các nước trong khu vực ASEAN; các nước phát triển, như Mỹ, Anh, Pháp, Đức; các nước điểm đến của nạn nhân bị mua bán như: Trung Đông, châu Âu; hay các nước có chung đường biên giới như Lào, Campuchia, Trung Quốc. Bên cạnh đó, cần tăng cường mối quan hệ giữa những hiệp định tương trợ tư pháp song phương giữa Việt Nam và các quốc gia khác và các tổ chức quốc tế như INTERPOL, ASEANPOL… để bảo đảm thời gian tiếp nhận chứng cứ của các vụ mua bán người được tiến hành nhanh chóng để tiến hành khởi tố, điều tra vụ án theo đúng quy định của pháp luật. Từ đó, bên cạnh việc hợp tác điều tra chung giữa các quốc gia trong cùng một vụ việc mua bán người, Việt Nam và các quốc gia cần xây dựng một quy trình chung trong việc bảo vệ nạn nhân bị mua bán; quốc gia nào thụ lý vụ việc sẽ áp dụng thủ tục tố tụng này, sau đó trả kết quả điều tra cho bên kia. Việc này sẽ bảo đảm được tính thống nhất cao giữa các quốc gia liên quan.
Thứ hai, Việt Nam cần tích cực hợp tác quốc tế để ứng phó hiệu quả với tội phạm MBN bằng việc đẩy mạnh quá trình đàm phán và ký kết các điều ước quốc tế, các thỏa thuận song phương và đa phương về phòng, chống mua bán người xuyên biên giới đặc biệt tập chung vào các thoả thuận song phương, giúp đẩy nhanh tiến độ trong quá trình điều tra các vụ mua bán người. Việc tham gia các điều ước quốc tế nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc giải cứu, hỗ trợ và tái hòa nhập cộng đồng cho các nạn nhân. Bên cạnh đó, các quy định của pháp luật Việt Nam còn một số điểm chưa hoàn toàn phù hợp với Nghị định thư về chống đưa người di cư trái phép bằng đường bộ, đường biển và đường không, bổ sung cho Công ước UNTOC, do đó, Việt Nam cần đẩy nhanh tiến độ triển khai nghiên cứu việc gia nhập. Hơn nữa, việc tham gia các hiệp định này sẽ giúp Việt Nam bảo vệ quyền lợi của người lao động làm việc ở nước ngoài, giảm thiểu nguy cơ bị bóc lột, mua bán, thể hiện quyết tâm của Việt Nam trong cuộc đấu tranh chống mua bán người và nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.
Thứ ba, Việt Nam cần xây dựng hiệp định giữa Việt Nam với các nước, tập trung vào các quốc gia là đích đến của nhiều nạn nhân Việt Nam, như: Vương quốc Anh, Nhật Bản, Hàn quốc, CHLB Đức… Điều này đồng nghĩa với việc nguy cơ các nạn nhân bị mua bán, bóc lột lao động là rất cao. Do vậy, thông qua các hiệp định tương trợ tư pháp về hình sự, đẩy mạnh các hoạt động song phương, phối kết hợp giữa các lực lượng chức năng nhằm chủ động ngăn chặn các hoạt động mua bán người xuyên biên giới. Các bên sẽ chia sẻ thông tin, các đối tượng tội phạm, các nạn nhân, giúp xác định và truy bắt tội phạm một cách hiệu quả, hỗ trợ nhau trong việc điều tra, truy tố, xét xử các vụ án mua bán người, bao gồm: việc dẫn độ tội phạm, thu hồi tài sản bất hợp pháp, đồng thời, các nạn nhân sẽ được bảo vệ, được hỗ trợ để hồi hương và tái hòa nhập cộng đồng, giảm thiểu nguy cơ bị bóc lột, mua bán.
Thứ tư, Việt Nam cần đẩy mạnh việc rà soát và hoàn thiện hệ thống pháp luật trong nước, đặc biệt là các quy định liên quan đến dẫn độ và tương trợ tư pháp. Hiện nay, nhiều quy định còn chưa phù hợp với các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã tham gia. Các hiệp định này cần bao gồm các quy định cụ thể về việc trao đổi thông tin, phối hợp điều tra, truy bắt tội phạm, bảo vệ quyền lợi của nạn nhân và hỗ trợ tư pháp. Đồng thời, cần tổ chức đánh giá các hiệp định đã tham gia ký kết. Việc tổng kết, đánh giá hiệu quả thực hiện các hiệp định này sẽ giúp xác định những hạn chế và đề xuất các giải pháp cải thiện. Đồng thời, cần xây dựng các cơ chế phối hợp thường xuyên giữa các cơ quan chức năng của Việt Nam và các nước đối tác để đảm bảo rằng các quy định của hiệp định được thực hiện một cách đầy đủ.
Thứ năm, tổ chức thực hiện tốt các công ước quốc tế, hiệp định tương trợ tư pháp, hiệp định hợp tác phòng, chống tội phạm mà Nhà nước ta đã ký kết hoặc gia nhập, đặc biệt là những văn bản pháp lý liên quan đến phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia, trong đó có tội phạm mua bán người. Tiếp tục nghiên cứu tham gia, ký kết các điều ước quốc tế khác liên quan đến công tác phòng, chống mua bán người xuyên biên giới. Việc tham gia và thực thi các công ước quốc tế này không chỉ thể hiện sự hợp tác tích cực của Việt Nam với cộng đồng quốc tế mà còn giúp nâng cao vị thế pháp lý của nước ta trong cuộc chiến chống tội phạm mua bán người xuyên biên giới. Đồng thời, việc này cũng tạo ra một khung pháp lý thống nhất và chặt chẽ để xử lý các vụ án mua bán người bảo đảm các đối tượng phạm tội sẽ bị trừng trị một cách nghiêm minh.
Tài liệu tham khảo:
1. Liên Hợp quốc (1949). Công ước về trấn áp việc buôn bán người và bóc lột mại dâm người khác.
2. Liên Hợp quốc (1989). Công ước về quyền trẻ em.
3. Liên Hợp quốc (2000). Công ước chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia.
4. Liên Hợp quốc (2000). Nghị định thư về phòng ngừa, trừng trị, trấn áp việc buôn bán người, đặc biệt là trẻ em và phụ nữ, bổ sung Công ước về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia.
5. Liên Hợp quốc (2003). Báo cáo của Tổng thư ký Liên Hợp quốc “Các biện pháp đặc biệt bảo bệ khỏi bóc lột tình dục và lạm dụng tình dục” ST/SGB/2013/13 ngày 09/10/2003.
6. Quốc hội (2024). Luật Phòng, chống mua bán người năm 2024.
7. Quốc hội (2013). Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013.
8. Quốc hội (2025). Bộ luật Tố tụng hình sự nước năm 2015; sửa đổi, bổ sung năm 2021, 2025.
9. Quốc hội (2025). Bộ luật Hình sự nước năm 2015; sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025.
10. Quốc hội (2025). Luật Trợ giúp pháp lý năm 2025.



