The legal oversight of state power in Vietnam meets the demands of a new era of development
PGS.TS. Vũ Thị Mỹ Hằng
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
Lê Thị Hảo
Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật
(Quanlynhanuoc.vn) – Kiểm soát quyền lực là một quy luật tất yếu, yêu cầu khách quan tự thân của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới với yêu cầu phát triển nhanh và bền vững, kiểm soát quyền lực nhà nước bằng pháp luật trở thành động lực thể chế quan trọng, bảo đảm kỷ cương, dân chủ, củng cố niềm tin của Nhân dân nhằm nâng cao năng lực quản trị quốc gia hiệu lực, hiệu quả. Trên cơ sở phân tích cơ sở chính trị, pháp lý của hoạt động kiểm soát quyền lực nhà nước bằng pháp luật. Từ đó, đề xuất một số giải pháp mang tính đột phá nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả của công tác kiểm soát quyền lực nhà nước bằng pháp luật, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Từ khóa: Kiểm soát quyền lực; năng lực quản trị; hệ thống pháp luật; yêu cầu khách quan; kỷ nguyên mới.
Abstract: The control of power is an inevitable law and an inherent objective requirement of Vietnam’s socialist rule of law. As the country enters a new era of development characterized by the need for rapid and sustainable growth, the legal control of state power has become a crucial institutional driver, ensuring discipline and democracy and strengthening public trust, thereby enhancing the effectiveness and efficiency of national governance. Based on an analysis of the political and legal foundations of controlling state power through the law. From there, it proposes several groundbreaking solutions to enhance the effectiveness and efficiency of controlling state power through the law, meeting the country’s development requirements in the new era.
Keywords: Control of power; governance capacity; legal system; objective requirements; new era.
1. Vai trò, tầm quan trọng của hoạt động kiểm soát quyền lực nhà nước bằng pháp luật
Kiểm soát quyền lực nhà nước là vấn đề có tính phổ quát, được đặt ra ở tất cả các quốc gia, không phân biệt trình độ phát triển. Trong khoa học chính trị và khoa học pháp lý hiện đại, quyền lực nhà nước luôn mang tính hai mặt: một mặt, là công cụ duy trì trật tự, bảo đảm ổn định và thúc đẩy phát triển xã hội; mặt khác, quyền lực luôn tiềm ẩn nguy cơ bị lạm dụng, tha hóa nếu không được đặt trong khuôn khổ kiểm soát hiệu quả. Chính vì vậy, kiểm soát quyền lực không phải là sự phủ định quyền lực mà là điều kiện tất yếu để quyền lực được thực thi đúng mục đích, đúng giới hạn và phục vụ lợi ích chung của xã hội.
Xét về phương diện lý luận, kiểm soát quyền lực nhà nước có thể được thực hiện thông qua nhiều cơ chế khác nhau, như: kiểm soát bằng pháp luật, kiểm soát tổ chức, kiểm soát đạo đức, kiểm soát xã hội. Trong đó, kiểm soát quyền lực bằng pháp luật giữ vai trò trung tâm, bởi pháp luật là công cụ có tính phổ biến, ổn định và bắt buộc chung, có khả năng xác lập rõ ràng thẩm quyền, trách nhiệm, trình tự, thủ tục và chế tài đối với việc thực thi quyền lực. Thông qua pháp luật, quyền lực nhà nước được “khuôn định” trong những giới hạn xác định, đồng thời, được bảo đảm thực thi một cách công khai, minh bạch, thống nhất và có thể kiểm chứng.
Ở Việt Nam, quyền lực nhà nước có nguồn gốc từ Nhân dân, do Nhân dân ủy quyền thông qua các thiết chế đại diện để thực thi. Mọi chủ thể nắm giữ và thực thi quyền lực nhà nước phải chịu sự ràng buộc trách nhiệm và sự kiểm soát chặt chẽ, nhằm tránh nguy cơ sai sót, lạm quyền hoặc lợi dụng quyền lực vì lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm. Hậu quả xã hội của những sai lệch trong thực thi quyền lực nhà nước thường rất lớn, do đó, việc đặt quyền lực dưới sự kiểm soát thường xuyên, chặt chẽ bằng pháp luật là yêu cầu khách quan nhằm hạn chế tối đa những rủi ro và tổn thất đối với xã hội.
Thực tiễn ở Việt Nam thời gian qua cho thấy, Đảng và Nhà nước đã đặc biệt quan tâm đến hoạt động kiểm soát quyền lực, qua đó đạt được những kết quả rất đáng ghi nhận: “Cơ chế phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp ngày càng rõ hơn và có chuyển biến tích cực”1; “Công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng được chỉ đạo tập trung, quyết liệt, toàn diện, đồng bộ, có nhiều đổi mới, có hiệu lực, hiệu quả, nhất là ở cấp Trung ương; hoạt động của cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp được tăng cường, ngày càng siết chặt kỷ luật, kỷ cương”2.
Định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021 – 2030 được nêu trong Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng: “Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, vì Nhân dân phục vụ và vì sự phát triển của đất nước. Tăng cường công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình, kiểm soát quyền lực gắn với siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong hoạt động của Nhà nước và của cán bộ, công chức, viên chức”3; “chú trọng công tác bảo vệ Đảng, bảo vệ chính trị nội bộ; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng và công tác dân vận của Đảng”4; đồng thời, khẳng định các đột phá chiến lược “đẩy mạnh phân cấp, phân quyền hợp lý, hiệu quả, tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực bằng hệ thống pháp luật5.
Như vậy, kiểm soát quyền lực nhà nước bằng pháp luật nhằm ngăn ngừa sự tha hóa quyền lực và là một nguyên tắc nền tảng bảo đảm tính chính danh, hiệu lực, hiệu quả của quyền lực công. Thông qua pháp luật, quyền lực nhà nước được đặt trong khuôn khổ trách nhiệm, chịu sự giám sát của Nhân dân và xã hội, qua đó góp phần củng cố niềm tin của Nhân dân, tăng cường kỷ cương, kỷ luật và tạo nền tảng thể chế vững chắc cho sự phát triển bền vững của đất nước.
2. Cơ sở định vị hoạt động kiểm soát quyền lực nhà nước bằng pháp luật
Trong mô hình Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, quyền lực nhà nước mang bản chất thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Việc thiết lập cơ chế kiểm soát lẫn nhau giữa các cơ quan quyền lực nhà nước là cần thiết, nhằm ngăn chặn khả năng lạm quyền, bảo đảm quyền lực nhà nước được sử dụng đúng mục đích.
Hiến pháp năm 2013 đã phân định rõ phạm vi quyền lực đối với từng cơ quan nhà nước. Trong đó, Quốc hội được trao quyền lập hiến, lập pháp, quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước, Chính phủ thực hiện quyền hành pháp và Tòa án nhân dân tối cao thực hiện quyền tư pháp. Trong chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và Nhân dân là mối quan hệ giữa các chủ thể thống nhất về mục tiêu và lợi ích; mọi đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật và hoạt động của Nhà nước đều vì lợi ích của Nhân dân. Mô hình chính trị và cơ chế vận hành là Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và Nhân dân làm chủ. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng lãnh đạo. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp; Nhà nước phục vụ Nhân dân, gắn bó mật thiết với Nhân dân, thực hiện đầy đủ quyền dân chủ của Nhân dân, tôn trọng, lắng nghe ý kiến của Nhân dân và chịu sự giám sát của Nhân dân; có cơ chế và biện pháp kiểm soát, ngăn ngừa và trừng trị tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, vô trách nhiệm, lạm quyền, xâm phạm quyền dân chủ của công dân.
Với vị trí là trung tâm của quyền lực chính trị, Nhà nước được tổ chức quyền lực theo nguyên tắc “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”6. Theo đó, Quốc hội thực hiện giám sát tối cao việc tuân theo pháp luật, nghị quyết của Quốc hội. Hội đồng nhân dân các cấp giám sát việc tuân theo pháp luật và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp. Kiểm toán nhà nước kiểm soát việc chấp hành pháp luật đối với cơ quan nhà nước về sử dụng tài chính, tài sản công. Chính phủ và Ủy ban nhân dân các cấp tổ chức thanh tra, kiểm tra, xử lý theo pháp luật. Các thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực hiện giám sát và phản biện mang tính xã hội, đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân. Nhân dân cũng giám sát Đảng, giám sát cán bộ, đảng viên, công chức nhà nước, góp ý xây dựng Đảng, Nhà nước. Các phương tiện thông tin đại chúng cũng có vai trò quan trọng trong giám sát việc thực thi pháp luật đối với cán bộ, đảng viên, công chức nhà nước.
Nghị quyết số 04-NQ/TW ngày 30/10/2016 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá XII) về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ nhấn mạnh: các cấp ủy, tổ chức Đảng chỉ đạo rà soát, hoàn thiện và thực hiện nghiêm cơ chế kiểm tra, giám sát, kiểm soát việc thực thi quyền lực của người có chức, có quyền, theo hướng quyền hạn đến đâu trách nhiệm đến đó; phân định rõ thẩm quyền và trách nhiệm tập thể, cá nhân trong từng công đoạn giải quyết công việc và có chế tài xử lý nghiêm những hành vi vi phạm. Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19/5/2018 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ nêu rõ quan điểm: “Phân công, phân cấp gắn với giao quyền, ràng buộc trách nhiệm, đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực và xử lý nghiêm minh sai phạm”. Một trong những nhiệm vụ, giải pháp được Nghị quyết chỉ rõ, đó là: “thể chế hóa, cụ thể hóa các chủ trương, đường lối của Đảng về công tác cán bộ theo hướng đồng bộ, liên thông, nhất quán trong hệ thống chính trị và phù hợp với thực tế; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền; ràng buộc trách nhiệm và kiểm soát chặt chẽ quyền lực; siết chặt kỷ luật, kỷ cương; tạo môi trường, điều kiện để thúc đẩy đổi mới, sáng tạo; bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung”.
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, kiểm soát quyền lực nhà nước bằng pháp luật không mang bản chất đối kháng hay kiềm chế quyền lực một cách tiêu cực mà nhằm bảo đảm cho quyền lực được vận hành đúng mục đích, đúng thẩm quyền, đúng trách nhiệm, qua đó phát huy hiệu quả và tính chính danh của quyền lực công. Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới, khi yêu cầu phát triển nhanh và bền vững đặt ra ngày càng cao, kiểm soát quyền lực bằng pháp luật trở thành điều kiện tiên quyết để xây dựng niềm tin thể chế – một nguồn lực vô hình nhưng có ý nghĩa quyết định đối với ổn định chính trị, thu hút đầu tư, huy động và phân bổ hiệu quả các nguồn lực xã hội.
Pháp luật với tư cách là công cụ kiểm soát quyền lực, vừa đóng vai trò “hàng rào kỹ thuật” ngăn ngừa sự tùy tiện, vừa là “khung vận hành” bảo đảm cho các chủ thể quyền lực dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Kiểm soát quyền lực bằng pháp luật, do đó, không đối lập với việc phát huy quyền lực mà trái lại, tạo điều kiện để quyền lực nhà nước được thực thi một cách liêm chính, minh bạch, có trách nhiệm và sáng tạo. Đây chính là cơ sở để kiểm soát quyền lực trở thành một động lực nội sinh của phát triển quốc gia trong mô hình Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
3. Một số giải pháp
Một là, tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật theo hướng đồng bộ, minh bạch.
Kiểm soát quyền lực hiệu quả phải bắt đầu từ chất lượng của hệ thống pháp luật. Pháp luật không chỉ là công cụ điều chỉnh hành vi sau khi quyền lực đã được trao mà phải trở thành “bộ lọc thể chế” ngay từ đầu, xác lập rõ phạm vi thẩm quyền, trách nhiệm, giới hạn quyền lực và cơ chế chịu trách nhiệm của từng chủ thể. Việc hoàn thiện pháp luật cần tập trung khắc phục triệt để những “kẽ hở”, “vùng xám”, sự chồng chéo, mâu thuẫn hoặc thiếu rõ ràng trong quy định pháp luật. Đồng thời, các cơ quan chức năng của hệ thống chính trị cần phải tích cực, chủ động, tham mưu có hiệu quả giúp cho Đảng trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, phát hiện, xử lý tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm kịp thời, nghiêm minh.
Hai là, đổi mới mạnh mẽ tổ chức và hoạt động của Quốc hội và các thiết chế tư pháp theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại, thực chất.
Quốc hội, với tư cách là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân và là trung tâm kiểm soát quyền lực trong mô hình nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa cần tiếp tục được đổi mới phương thức, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động, phát huy dân chủ, pháp quyền, tăng tính chuyên nghiệp trong thực hiện chức năng lập pháp, quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao. Mặt khác, cần xây dựng nền tư pháp Việt Nam chuyên nghiệp, hiện đại, công bằng, nghiêm minh, liêm chính, phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân. Tiếp tục đổi mới tổ chức, nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động và uy tín của Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan điều tra, cơ quan thi hành án và các cơ quan, tổ chức tham gia vào quá trình tố tụng tư pháp.
Ba là, tiếp tục nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật Đảng.
Cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế để bảo đảm mọi quyền lực đều được kiểm soát chặt chẽ, “quyền hạn đến đâu, trách nhiệm đến đó”, không có “vùng cấm”, không có ngoại lệ. Công tác kiểm tra, giám sát cần tập trung vào người đứng đầu, cán bộ chủ chốt, những lĩnh vực nhạy cảm, dễ phát sinh tiêu cực; đồng thời gắn kiểm soát quyền lực với kiểm soát công tác cán bộ, kiên quyết phòng, chống chạy chức, chạy quyền. Chú trọng đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy ủy ban kiểm tra các cấp; xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ kiểm tra các cấp theo hướng chuyên nghiệp hóa. Tăng cường phối hợp giữa giám sát, kiểm tra của Đảng với giám sát, thanh tra của Nhà nước và giám sát của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội để tăng cường sức mạnh tổng hợp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả giám sát, kiểm tra, tránh chồng chéo, trùng lặp, lãng phí nguồn lực, không hiệu quả.
Bốn là, hoàn thiện cơ chế pháp lý nhân dân kiểm soát quyền lực nhà nước.
Nhân dân vừa là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước, vừa là lực lượng giám sát rộng khắp, thường xuyên và trực tiếp nhất đối với hoạt động của bộ máy nhà nước. Do đó, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế pháp lý phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội, các cơ quan báo chí, truyền thông và dư luận xã hội trong việc phát hiện, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.
Hoạt động kiểm soát quyền lực nhà nước của các tổ chức chính trị – xã hội cần được thực hiện có trọng tâm, trọng điểm, tránh tổ chức tràn lan, dàn trải nhằm nâng cao hiệu quả kiểm soát; cần xây dựng kế hoạch, chương trình phối hợp kiểm soát với các cơ quan báo chí truyền thông; cung cấp, truyền tải thông tin rộng rãi, kịp thời đến với các tầng lớp nhân dân để góp phần nâng cao hiệu quả, hiệu lực kiểm soát quyền lực nhà nước. Thông qua các phương tiện báo chí, truyền thông để công bố kết quả kiểm soát quyền lực nhà nước; chuyển tải các đề xuất, kiến nghị đến các cơ quan nhà nước.
Năm là, tiếp tục kiện toàn tổ chức bộ máy và nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan, đơn vị có chức năng phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.
Xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác phòng, chống tham nhũng thật sự có bản lĩnh, thật sự liêm chính, trong sạch. Có chính sách đãi ngộ hợp lý, tạo động lực cho đội ngũ cán bộ làm công tác phòng, chống tham nhũng nỗ lực phấn đấu, toàn tâm, toàn ý với công việc.
4. Kết luận
Kiểm soát quyền lực nhà nước bằng pháp luật là yêu cầu tất yếu trong tổ chức và vận hành quyền lực nhà nước ở Việt Nam. Trong bối cảnh kỷ nguyên phát triển mới, kiểm soát quyền lực vừa là công cụ phòng ngừa sự tha hóa quyền lực, vừa giữ vai trò như một động lực thể chế quan trọng thúc đẩy phát triển bền vững. Việc tiếp tục hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực bằng pháp luật có ý nghĩa quyết định đối với việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam liêm chính, hiện đại, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, thực sự của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân.
Chú thích:
1, 2, 3, 4, 5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Tập I. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 72, 75-76, 118, 119, 203.
6. Quốc hội (2013). Điều 2 Hiến pháp năm 2013.
Tài liệu tham khảo:
1. Một số nội dung cơ bản về kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc; những định hướng chiến lược đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. https://www.tapchicongsan.org.vn/media-story/-/asset_publisher/content/ky-nguyen-moi-ky-nguyen-vuon-minh-cua-dan-toc-ky-nguyen-phat-trien-giau-manh-duoi-su-lanh-dao-cam-quyen-cua-dang-cong-san-xay-dung-thanh-cong-nuoc-viet.



