Developing human resources for legislative work to meet the requirements of the new situation in Dong Nai Province
Hà Thị Nguyệt
Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai
(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết hệ thống các vấn đề lý luận và thực tiễn về hoàn thiện thể chế pháp luật, về nguồn nhân lực làm công tác xây dựng pháp luật trong bối cảnh mới tại tỉnh Đồng Nai. Từ đó đề ra giải pháp xây dựng, hoàn thiện pháp luật, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực xây dựng pháp luật nhằm bảo đảm bộ máy hành chính tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả và phục vụ phát triển bền vững, góp phần bảo đảm vận hành hiệu quả mô hình chính quyền địa phương hai cấp hiện nay.
Từ khóa: Xây dựng; hoàn thiện thể chế pháp luật; nguồn nhân lực xây dựng pháp luật, chính quyền địa phương hai cấp.
Abstract: This article systematically examines theoretical and practical issues related to improving the legal framework and the human resources involved in lawmaking within the new context of Dong Nai Province. Based on this, it proposes solutions for the development and improvement of the legal system, as well as for enhancing the quality of human resources in lawmaking, with the aim of ensuring a lean, effective, and efficient administrative apparatus that supports sustainable development and contributes to the effective operation of the current two-tier local government model.
Keywords: Development and improvement of the legal system, human resources in lawmaking, two-tier local government.
1. Đặt vấn đề
Trong kỷ nguyên mới, pháp luật phải trở thành lợi thế cạnh tranh, nâng cao đời sống Nhân dân, bảo đảm quốc phòng, an ninh và đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số, trong đó, nguồn nhân lực giữ vai trò đặc biệt quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng văn bản và hiệu lực thi hành pháp luật. Hệ thống pháp luật đã ngày càng được hoàn thiện, đội ngũ cán bộ làm công tác pháp luật phát triển cả về số lượng và chất lượng, tuy nhiên với yêu cầu mới của mô hình chính quyền hai cấp, dẫn đến những bất cập trong phân định thẩm quyền, tổ chức thực thi và kiểm soát quyền lực, đồng thời, hệ thống pháp luật chưa theo kịp tốc độ phát triển của xã hội. Đội ngũ làm công tác xây dựng pháp luật còn thiếu chuyên gia giỏi; năng lực tham mưu chưa ngang tầm nhiệm vụ; tình trạng “lợi ích nhóm” trong xây dựng pháp luật vẫn còn là thách thức lớn.
2. Thực trạng xây dựng, hoàn thiện thể chế pháp luật và chất lượng đội ngũ làm công tác xây dựng pháp luật tại tỉnh Đồng Nai
Công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế được xác định là nhiệm vụ trung tâm của cải cách hành chính, gắn với phát triển kinh tế – xã hội. Quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật ngày càng bám sát chương trình xây dựng pháp luật; tăng cường rà soát, kiểm tra, xử lý văn bản; đẩy mạnh chính quyền số, dữ liệu hóa quản lý và cải cách thủ tục hành chính gắn với thể chế.
Đội ngũ cán bộ pháp chế, tư pháp có trình độ chuyên môn tương đối cao, được đào tạo bài bản, có kinh nghiệm thực tiễn, vai trò tham mưu ngày càng chủ động, chuyên nghiệp, ý thức trách nhiệm cao gắn với kỷ luật, kỷ cương hành chính. Tỉnh Đồng Nai thuộc nhóm địa phương có năng lực thể chế tương đối tốt trong khu vực Đông Nam Bộ.
Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật của tỉnh được xây dựng tương đối đầy đủ, tập trung mạnh vào đơn giản hóa thủ tục hành chính, xây dựng chính quyền điện tử, chính quyền số. Công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật được đưa vào tiêu chí đánh giá cải cách hành chính, có quy trình theo dõi thi hành pháp luật, rà soát văn bản tương đối rõ. Đội ngũ cơ bản đáp ứng yêu cầu, thực hiện đúng quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. Tỉnh cũng đã tăng cường đào tạo, bồi dưỡng thông qua cải cách hành chính và chuyển đổi số, có sự gắn kết giữa công tác pháp chế với cải cách hành chính, chuyển đổi số.
Ngày 01/7/2025, tỉnh Đồng Nai chính thức được hình thành trên cơ sở hợp nhất, sáp nhập tỉnh Đồng Nai và tỉnh Bình Phước và chính thức vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Đây không chỉ mang tính cộng gộp mà còn tích hợp hai hệ thống pháp lý địa phương khác nhau.
Bước đầu, tỉnh đã hình thành hệ thống thể chế hợp nhất kịp thời, đã ban hành văn bản phân công, phân cấp, quy định chức năng, nhiệm vụ sau sáp nhập. Triển khai đồng bộ việc rà soát, hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật của hai tỉnh cũ, xây dựng quy trình quản lý thống nhất. Gắn hoàn thiện thể chế với cải cách hành chính và chuyển đổi số. Tận dụng lợi thế quy mô để hoàn thiện thể chế phát triển. Sau sáp nhập, không gian phát triển mở rộng, tăng khả năng thu hút đầu tư và điều phối vùng. Xây dựng cơ chế đặc thù (đặc biệt khi có chủ trương lên thành phố trực thuộc trung ương).
Từ ngày 01/4/2025 đến nay, Hội đồng nhân dân tỉnh và Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai đã ban hành 184 văn bản quy phạm pháp luật (63 nghị quyết và 121 quyết định), cụ thể: tỉnh Bình Phước ban hành 23 văn bản quy phạm pháp luật (6 nghị quyết và 17 quyết định); tỉnh Đồng Nai ban hành 16 văn bản quy phạm pháp luật (5 nghị quyết và 11 quyết định); sau hợp nhất, tỉnh Đồng Nai đã ban hành 145 văn bản quy phạm pháp luật (52 nghị quyết và 93 quyết định).
Quy mô nguồn nhân lực tăng mạnh sau hợp nhất, sáp nhập, có khoảng 1.600 cán bộ từ Bình Phước đăng ký về Đồng Nai công tác, đã tạo ra nguồn nhân lực pháp luật dồi dào hơn, cơ hội hình thành đội ngũ chuyên sâu cấp tỉnh. Đồng thời, kinh nghiệm được “cộng hưởng” giữa Đồng Nai (cũ) mạnh về cải cách hành chính, quản trị, Bình Phước (cũ) có kinh nghiệm quản lý địa bàn rộng, đa dạng. Sau khi sắp xếp, tạo ra đội ngũ có kinh nghiệm đa dạng, thực tiễn phong phú. Sau sáp nhập, tỉnh cũng tăng cường đào tạo, bồi dưỡng, cập nhật kỹ năng phục vụ mô hình chính quyền mới.
Tuy nhiên, do hai tỉnh cũ có quy định khác nhau về pháp luật, như: quản lý đất đai, đầu tư, tài sản công… gây nên hệ thống pháp luật chồng lấn, chưa đồng bộ. Vấn đề đặt ra sau hợp nhất, sáp nhập là phải rà soát, thay thế, bãi bỏ số lượng lớn văn bản quy phạm pháp luật, thậm chí xuất hiện khoảng trống pháp lý cục bộ ở một số lĩnh vực. Đồng thời, cũng tạo ra áp lực lớn trong chuẩn hóa thể chế do khối lượng công việc gấp đôi do hợp nhất 2 hệ thống, nhiều lĩnh vực cần ban hành chính sách mới thay vì chỉ hợp nhất cơ học. Trình độ, kỹ năng giữa cán bộ 2 tỉnh cũ chưa đồng đều về chất lượng, còn có sự khác biệt. Đặc biệt, cấp xã còn thiếu cán bộ chuyên sâu về pháp luật, bố trí chưa phù hợp với chuyên môn. Một số cán bộ chưa thích ứng nhanh với môi trường mới. Thiếu chuyên gia phân tích chính sách, thiếu kỹ năng đánh giá tác động của pháp luật. Tư duy vẫn thiên về “soạn thảo văn bản” hơn là “thiết kế chính sách”. Áp lực vừa phải rà soát toàn bộ hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, vừa phải xây dựng văn bản mới, vừa phải tổ chức bộ máy dẫn đến nguy cơ chất lượng tham mưu chưa đồng đều trong giai đoạn chuyển tiếp.
Sau sáp nhập, tỉnh Đồng Nai đang ở giai đoạn chuyển tiếp thể chế – từ việc hợp nhất cơ học hai hệ thống pháp luật địa phương sang xây dựng một hệ thống thể chế thống nhất, hiện đại và có tính dẫn dắt phát triển. Mặc dù đã đạt được những kết quả bước đầu về ổn định tổ chức và vận hành hành chính, nhưng những thách thức về đồng bộ hóa văn bản, chuẩn hóa quy trình và nâng cao chất lượng đội ngũ xây dựng pháp luật vẫn là những vấn đề mang tính quyết định đối với hiệu quả quản trị của tỉnh trong giai đoạn tiếp theo.
3. Một số giải pháp
Thứ nhất, cần rà soát, xử lý các văn bản quy phạm pháp luật còn hiệu lực nhưng quy định chồng chéo, mâu thuẫn, không còn phù hợp. Thiết lập một hệ thống pháp luật thống nhất, minh bạch, dễ áp dụng, không để xảy ra khoảng trống pháp lý, khoảng trống quản lý và không để gián đoạn hoạt động của các cơ quan, đơn vị, địa phương. Thực hiện đúng phương châm “6 rõ” (rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền, rõ thời gian, rõ kết quả/sản phẩm), không trùng lặp, không bỏ sót nhiệm vụ, không giao chồng chéo trách nhiệm, phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp.
Thứ hai, tăng cường phân cấp, phân quyền, ủy quyền giữa Trung ương và địa phương, giữa cấp tỉnh và cấp xã gắn với kiểm soát quyền lực, trách nhiệm giải trình. Nâng cao tính khả thi và hiệu quả thực thi pháp luật. Xây dựng, chuẩn hóa, phát triển đội ngũ cán bộ pháp lý có năng lực tham mưu chính sách. Xây dựng vị trí việc làm phù hợp, chuyên nghiệp hóa đội ngũ làm công tác pháp luật, chuyển mạnh từ “soạn thảo văn bản” sang “thiết kế chính sách”, tăng cường đánh giá tác động chính sách, tham vấn chuyên gia, doanh nghiệp, người dân, đảm bảo tính khả thi, ổn định và dự báo chính sách, hướng tới mô hình “thể chế số – chính quyền số – quản trị thông minh”.
Thứ ba, đổi mới quy trình xây dựng pháp luật theo hướng hiện đại. Lập đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật phải gắn với đánh giá tác động chính sách. Tăng cường tham vấn, lấy ý kiến công khai các đối tượng chịu sự tác động, tăng cường phản biện chính sách từ các chuyên gia, nhà khoa học. Xây dựng cơ chế chính sách mang tính đột phá, kiến tạo phát triển, như: tập trung vào sửa đổi, bổ sung, thay thế các luật có liên quan (đầu tư, đất đai, xây dựng, đấu thầu) theo hướng: bảo đảm thống nhất, đồng bộ; rút ngắn quy trình, thủ tục. Ban hành các quy định pháp luật điều chỉnh các lĩnh vực mới, như: kinh tế số, chuyển đổi số; kinh tế xanh, phát triển bền vững… Tăng cường ứng dụng công nghệ, trí tuệ nhân tạo trong xây dựng, soạn thảo, thẩm định và kiểm tra văn bản pháp luật.
Thứ tư, người đứng đầu cơ quan, đơn vị trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo công tác xây dựng pháp luật, chịu trách nhiệm chính về chất lượng chính sách pháp luật thuộc lĩnh vực quản lý. Nâng cao năng lực, ý thức trách nhiệm của các chủ thể tham gia vào hoạt động soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật; xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ, năng lực và cập nhật kiến thức về soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật cho đội ngũ công chức, người làm công tác soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật.
Các đơn vị cần chủ động theo dõi, nắm bắt tình hình xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật của cấp trên; chủ động nghiên cứu, tìm hiểu nội dung các văn bản ngay từ giai đoạn tham mưu, đề xuất, đăng ký xây dựng văn bản quy phạm pháp luật và có sự chuẩn bị đối với các nội dung có liên quan trong phạm vi trách nhiệm, tránh tình trạng bị động, ban hành văn bản gấp… gây ảnh hưởng đến chất lượng của văn bản.
4. Kết luận
Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc xây dựng, hoàn thiện thể chế pháp luật và phát triển, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng pháp luật giữ vai trò nền tảng và mang tính quyết định, là đột phá chiến lược, đồng thời phải gắn với xây dựng đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực và uy tín. Thực tiễn tại tỉnh Đồng Nai, việc hoàn thiện thể chế pháp luật ở nhiều nơi, đặc biệt trong bối cảnh sắp xếp đơn vị hành chính và chuyển đổi mô hình chính quyền vẫn còn biểu hiện chồng chéo, thiếu đồng bộ, phát sinh những khoảng trống pháp lý trong giai đoạn chuyển tiếp.
Yêu cầu đặt ra không chỉ là tiếp tục hoàn thiện thể chế pháp luật theo hướng hợp hiến, hợp pháp, mà quan trọng hơn là phải nâng cao chất lượng thể chế theo hướng hiện đại, hiệu quả và có khả năng kiến tạo, phát triển. Điều này tất yếu đòi hỏi sự chuyển đổi căn bản trong tư duy và phương thức: từ “soạn thảo văn bản” sang “thiết kế chính sách”, từ “quản lý hành chính” sang “quản trị phát triển”, và từ “đáp ứng yêu cầu trước mắt” sang “chủ động dẫn dắt tương lai”. Đồng thời, phát triển nguồn nhân lực làm công tác xây dựng pháp luật phải được xác định là khâu đột phá, với trọng tâm là chuyên nghiệp hóa, nâng cao năng lực phân tích – dự báo và tăng cường khả năng thích ứng với chuyển đổi số và hội nhập quốc tế.
Sự thống nhất biện chứng giữa một hệ thống thể chế pháp luật tiến bộ và một đội ngũ cán bộ pháp luật chất lượng cao chính là điều kiện tiên quyết để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước, qua đó tạo lập nền tảng vững chắc cho phát triển nhanh và bền vững. Đây không chỉ là yêu cầu mang tính trước mắt trong bối cảnh cải cách và sắp xếp tổ chức bộ máy, mà còn là định hướng chiến lược lâu dài nhằm hiện thực hóa mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới.
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 66-NQ/TW về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
2. Chính phủ (2023). Nghị định số 33/2023/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương.
3. Chính phủ (2024). Quyết định số 916/QĐ-TTg về phê duyệt Đề án “Phát triển nguồn nhân lực làm công tác tham mưu xây dựng pháp luật đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đến năm 2030”.
4. Chính phủ (2025). Nghị quyết số 140/NQ-CP ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
5. UBND tỉnh Bình Phước (2025). Báo cáo tình hình công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật năm 2024 trên địa bàn tỉnh Bình Phước; kết quả rà soát văn bản quy phạm pháp luật chịu sự tác động của việc sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của tỉnh Bình Phước.
6. UBND tỉnh Đồng Nai (2026). Báo cáo đánh giá tình hình thi hành Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật.


