Hoàn thiện thể chế phát triển đô thị thông minh tại thành phố Cần Thơ

Institutional framework for smart urban development in Can Tho city

ThS. Lê Thị Thùy Dương
ThS. Trần Mộng Nghi
Đại học Cần Thơ

(Quanlynhanuoc.vn) – Thể chế phát triển đô thị thông minh đóng vai trò quyết định trong việc nâng cao năng lực quản trị đô thị, cải thiện chất lượng dịch vụ công và thúc đẩy phát triển kinh tế số tại thành phố Cần Thơ. Tuy nhiên, khung thể chế hiện hành còn thiếu đồng bộ, thiếu cơ chế điều phối liên ngành và chưa được tích hợp đầy đủ trong quy hoạch phát triển vùng. Bài viết phân tích thực trạng thể chế phát triển đô thị thông minh tại Cần Thơ; đồng thời, đề xuất một số giải pháp chiến lược nhằm tháo gỡ điểm nghẽn, góp phần xây dựng chính quyền đô thị số, thúc đẩy chuyển đổi số và hiện thực hóa mục tiêu Cần Thơ trở thành đô thị thông minh đáng sống của Việt Nam.

Từ khóa: Đô thị thông minh; thể chế; chuyển đổi số; chính quyền số; Cần Thơ.

Abstract: The institutional framework for smart urban development plays a decisive role in enhancing urban governance capacity, improving the quality of public services, and promoting the digital economy in Can Tho city. However, the current institutional framework remains fragmented, lacks effective intersectoral coordination mechanisms, and has not been fully integrated into regional development planning. This article analyzes the current state of the institutional framework for smart urban development in Can Tho city and proposes several strategic solutions to address existing bottlenecks. These recommendations aim to support the development of digital urban governance, accelerate digital transformation, and help realize Can Tho’s vision of becoming a livable, smart city in Vietnam.

Keywords: Smart city; institutional framework; digital transformation; digital government; Can Tho city.

1. Đặt vấn đề

Thành phố Cần Thơ là đô thị trung tâm của vùng đồng bằng sông Cửu Long, giữ vai trò là một cực tăng trưởng quan trọng của quốc gia. Theo quy hoạch đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, đến năm 2030, Cần Thơ phấn đấu trở thành trung tâm đô thị đa chức năng, như: dịch vụ thương mại, du lịch, logistics, công nghiệp chế biến và nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao; đồng thời, là đô thị sinh thái, văn minh, hiện đại, mang đậm bản sắc văn hóa xứ Tây Đô. Đến năm 2050, thành phố đặt mục tiêu thuộc nhóm các đô thị phát triển khá ở châu Á, trở thành thành phố thông minh, đáng sống của Việt Nam1. Trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 diễn ra mạnh mẽ, phát triển đô thị thông minh đã và đang trở thành xu thế tất yếu, đặt ra yêu cầu phải xây dựng một nền tảng thể chế vững chắc, đồng bộ nhằm bảo đảm khả năng hiện thực hóa các mục tiêu phát triển đã đề ra.

Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, hệ thống thể chế phát triển đô thị thông minh vẫn còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra; các quy định pháp lý liên quan đến đô thị thông minh còn thiếu tính thống nhất2; cơ chế điều phối liên ngành chưa hiệu quả; nguồn nhân lực chuyên môn còn thiếu hụt và hệ thống cơ sở dữ liệu dùng chung chưa được xây dựng đồng bộ. Đặc biệt, trong bối cảnh Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã xác định thể chế là điều kiện tiên quyết, cần được hoàn thiện và đi trước một bước3, việc nghiên cứu và đề xuất các giải pháp hoàn thiện thể chế phát triển đô thị thông minh tại Cần Thơ trở nên cấp thiết.

2. Cơ sở lý luận về thể chế phát triển đô thị thông minh

Khái niệm đô thị thông minh (Smart City) được hiểu là mô hình đô thị ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, vận hành, cải thiện chất lượng dịch vụ công và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân. Theo định nghĩa của Liên minh Viễn thông Quốc tế (ITU-T), đô thị thông minh bền vững là đô thị đổi mới, sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông cùng các phương tiện khác để nâng cao chất lượng cuộc sống, hiệu quả hoạt động đô thị và năng lực cạnh tranh, đồng thời bảo đảm đáp ứng nhu cầu của các thế hệ hiện tại và tương lai trên các phương diện, như: kinh tế, xã hội, môi trường và văn hóa4.

Tại Việt Nam, phát triển đô thị thông minh được đặt trong tổng thể Đề án phát triển đô thị thông minh bền vững Việt Nam giai đoạn 2018 – 2025, định hướng đến năm 2030 (Quyết định số 950/QĐ-TTg ngày 01/8/2018 của Thủ tướng Chính phủ). Đây là văn bản pháp lý đầu tiên đặt nền tảng cho việc phát triển đô thị thông minh trên phạm vi cả nước, trong đó xác định các yếu tố cốt lõi cần bảo đảm, như: hạ tầng công nghệ thông tin và truyền thông cùng nền tảng dữ liệu; chính quyền số; giao thông thông minh; y tế thông minh; giáo dục thông minh; môi trường thông minh và an ninh, an toàn5.

Về phương diện lý luận, thể chế phát triển đô thị thông minh được hiểu là tổng thể các quy định pháp lý, cơ chế tổ chức, chính sách đầu tư và phân bổ nguồn lực, tiêu chuẩn kỹ thuật, cơ chế phối hợp liên ngành và mô hình hợp tác công – tư, nhằm bảo đảm tính đồng bộ, liên thông trong triển khai các giải pháp đô thị thông minh. Theo nhận định của các chuyên gia tại Hội nghị tổng kết Đề án 950 giai đoạn 2018 – 2025 do Bộ Xây dựng tổ chức tháng 8/2025, quá trình triển khai đô thị thông minh ở Việt Nam vẫn tồn tại 4 nhóm hạn chế lớn, như: thiếu thống nhất về nhận thức và cách tiếp cận; thiếu tiêu chuẩn, quy chuẩn, dữ liệu chuẩn hóa và cơ chế chia sẻ; thiếu cơ chế đặc thù trong mua sắm và đấu thầu công nghệ; thiếu nguồn lực đầu tư và nhân lực chuyên môn6. Những hạn chế này phản ánh căn nguyên sâu xa là sự bất cập của thể chế, qua đó đặt ra yêu cầu cấp thiết phải hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế quản trị theo hướng tổng thể, đồng bộ và hiệu quả hơn.

3. Thực trạng thể chế phát triển đô thị thông minh tại thành phố Cần Thơ

Những năm qua, thành phố Cần Thơ đã đạt được những bước tiến đáng kể trong xây dựng và hoàn thiện thể chế phát triển đô thị thông minh. Thành ủy Cần Thơ đã ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TU ngày 11/4/2017 về xây dựng thành phố Cần Thơ phát triển thành đô thị thông minh giai đoạn 2016 – 2025, qua đó đặt nền móng ban đầu cho định hướng phát triển này. Tiếp đó, ngày 05/8/2020, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 59-NQ/TW về xây dựng và phát triển thành phố Cần Thơ đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; ngày 11/01/2022, Quốc hội ban hành Nghị quyết số 45/2022/QH15 về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển thành phố Cần Thơ. Đây là những chủ trương quan trọng, tạo tiền đề để thành phố thúc đẩy phát triển đô thị thông minh và triển khai chuyển đổi số7. Gần đây, ngày 30/9/2025, Ủy ban nhân dân (UBND) Thành phố đã ban hành Quyết định số 1449/QĐ-UBND phê duyệt Chiến lược phát triển đô thị thông minh đến năm 2030. Quyết định này được cụ thể hóa bằng Kế hoạch số 97/KH-UBND ngày 02/10/2025, trong đó xác định các nhiệm vụ trọng tâm, như: đồng bộ hóa dữ liệu, phát triển chính quyền số và xây dựng quy hoạch đô thị thông minh, góp phần định hình lộ trình phát triển đô thị thông minh của thành phố trong giai đoạn tới8.

Về hạ tầng số và hệ thống điều hành thông minh, Trung tâm điều hành đô thị thông minh (IOC) của thành phố Cần Thơ đã được khai trương và đưa vào vận hành, bước đầu triển khai thí điểm tám lĩnh vực giám sát, như: các chỉ tiêu kinh tế – xã hội; hiệu quả hoạt động của chính quyền; an ninh trật tự và an toàn giao thông; du lịch; tương tác, tiếp nhận và xử lý phản ánh của người dân thông qua Tổng đài dịch vụ công 1022; thông tin trên môi trường mạng; cảnh báo chất lượng môi trường; và an toàn thông tin mạng9. Đáng chú ý, hai địa phương sáp nhập vào Cần Thơ là Hậu Giang và Sóc Trăng đã xây dựng được những nền tảng đô thị thông minh tương đối phát triển. Trung tâm IOC của Sóc Trăng được đưa vào vận hành từ năm 2020 với 16 phân hệ và hai ứng dụng dùng chung. Tại Hậu Giang, ứng dụng “Hậu Giang App” đã tiếp nhận hơn 12.000 phản ánh của người dân, với tỷ lệ xử lý đạt khoảng 95% cho thấy, hiệu quả bước đầu trong việc tăng cường tương tác giữa chính quyền và người dân10.

Bên cạnh đó, việc tích hợp hệ thống VNPT VSR (Hệ thống báo cáo và chỉ đạo điều hành) đã góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của Trung tâm IOC. Thông qua hệ thống này, UBND thành phố Cần Thơ có thể giám sát, theo dõi chi tiết các báo cáo từ các sở, ngành và chính quyền cơ sở, bảo đảm tính thống nhất về nguồn dữ liệu và hạn chế sai lệch số liệu. Đồng thời, việc kết nối và hình thành hệ thống thông tin báo cáo tập trung đã góp phần nâng cao hiệu quả công tác chỉ đạo, điều hành, qua đó thúc đẩy quá trình chuyển đổi số trong hoạt động của thành phố và các lĩnh vực của đời sống kinh tế – xã hội.

Bên cạnh đó, thành phố Cần Thơ đã triển khai xây dựng nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu (LGSP) và phát triển kho dữ liệu dùng chung, sẵn sàng cho việc kết nối, khai thác và chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan, đơn vị. Đồng thời, nền tảng quy hoạch không gian (SPP) đang được xây dựng nhằm phục vụ công tác quản lý quy hoạch đô thị và phát triển đô thị thông minh. Thành phố cũng đã ban hành Danh mục cơ sở dữ liệu dùng chung và hệ thống mã định danh điện tử cho các cơ quan, đơn vị, địa phương trên địa bàn, góp phần bảo đảm khả năng kết nối và liên thông dữ liệu.

Trong lĩnh vực giao thông, Cần Thơ đã thành lập Trung tâm Quản lý và Điều hành vận tải hành khách công cộng trực thuộc Sở Giao thông vận tải, với chức năng quản lý và triển khai các giải pháp hỗ trợ phát triển giao thông công cộng. Các hoạt động trọng tâm, bao gồm: quản lý điểm đỗ, xây dựng chính sách giá vé, hạn chế phương tiện cá nhân tại khu vực trung tâm, đẩy mạnh truyền thông nhằm khuyến khích người dân sử dụng phương tiện công cộng. Việc ứng dụng các giải pháp giao thông số đã góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ, cải thiện khả năng thanh toán điện tử và mang lại lợi ích thiết thực cho người dân và doanh nghiệp.

Thành phố cũng đã đầu tư mở rộng mạng lưới tuyến vận tải và phương tiện hiện đại, đồng thời xây dựng các kênh thông tin hỗ trợ người dân tiếp cận dịch vụ, như: fanpage “Cantho Bus” cung cấp thông tin về các tuyến xe buýt. Hệ thống giao thông thông minh (ITS) đang được triển khai, trong đó có phần mềm quản lý và điều hành vận tải hành khách công cộng (BMS). Các doanh nghiệp taxi đã ứng dụng tổng đài và nền tảng số, cho phép người dân lựa chọn dịch vụ linh hoạt. Ngoài ra, các trạm thu phí trên địa bàn đã áp dụng hình thức thu phí không dừng, góp phần giảm ùn tắc giao thông, tiết kiệm thời gian và hạn chế tiếp xúc.

Trong lĩnh vực môi trường, Cần Thơ đã triển khai thí điểm hệ thống giám sát và cảnh báo chất lượng môi trường, sử dụng các cảm biến IoT để tự động thu thập dữ liệu về nước, không khí và chất thải. Trên cơ sở đó, thành phố có thể xây dựng các mô hình cảnh báo với độ chính xác cao, hỗ trợ công tác chỉ đạo, điều hành và nâng cao chất lượng môi trường. Đối với quản lý tài nguyên và khoáng sản, thành phố đang triển khai hệ thống giám sát khai thác cát theo thời gian thực, cho phép theo dõi vị trí, khối lượng khai thác, qua đó tăng cường hiệu quả quản lý.

Đặc biệt, Cần Thơ đã tích cực triển khai và thí điểm nhiều ứng dụng thông minh phục vụ người dân và doanh nghiệp. Ứng dụng “Can Tho SmartCity” được phát triển trên cả hai nền tảng Android và iOS, tích hợp các chức năng tra cứu thông tin chuyên ngành, sử dụng dịch vụ công và các tiện ích khác. Bên cạnh đó, hệ thống giám sát tương tác, tiếp nhận và xử lý phản ánh của người dân được triển khai thông qua nhiều kênh, như: Tổng đài 1022, cổng thông tin điện tử, ứng dụng di động, email, Zalo, Facebook. Thành phố cũng đã xây dựng cổng dữ liệu mở nhằm cung cấp thông tin cho người dân và doanh nghiệp khai thác, sử dụng.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, thể chế phát triển đô thị thông minh tại Cần Thơ vẫn còn bộc lộ nhiều bất cập trên các phương diện sau:

(1) Về khung pháp lý và tiêu chuẩn, thành phố vẫn thiếu bộ tiêu chuẩn và định mức chi phí cụ thể cho phát triển đô thị thông minh trong bối cảnh điều chỉnh, sắp xếp đơn vị hành chính. Đại diện Cần Thơ đã kiến nghị Bộ Xây dựng ban hành hướng dẫn về lập và điều chỉnh đề án phát triển đô thị thông minh, đồng thời hỗ trợ kết nối doanh nghiệp đầu tư và thí điểm các mô hình phù hợp với đặc thù vùng đồng bằng sông Cửu Long11. Thực trạng này phản ánh sự thiếu thống nhất trong hệ thống quy chuẩn, tiêu chuẩn quốc gia và sự chậm trễ trong việc cụ thể hóa các quy định pháp luật liên quan đến đô thị thông minh.

(2) Về cơ sở dữ liệu và chia sẻ thông tin, hiện nay chưa hình thành được cơ sở dữ liệu dùng chung bảo đảm tính đầy đủ, đồng bộ và liên thông. Tỷ lệ hồ sơ thủ tục hành chính được xử lý trực tuyến còn thấp, khoảng 5,13%, trong khi tỷ lệ cung cấp dịch vụ công trực tuyến mới đạt 71,31%12. Sự thiếu kết nối giữa hệ thống dữ liệu của các sở, ngành, dẫn đến tình trạng thông tin phân mảnh, chậm cập nhật, qua đó làm hạn chế hiệu quả quản lý, điều hành dựa trên dữ liệu, vốn là nền tảng cốt lõi của mô hình đô thị thông minh.

(3) Về cơ chế điều phối liên ngành và liên vùng, hiện chưa có thiết chế hoặc cơ quan điều phối cấp vùng có đủ thẩm quyền để tổ chức, điều phối các dự án đô thị thông minh mang tính liên tỉnh. Trong bối cảnh Cần Thơ thực hiện điều chỉnh địa giới hành chính và cần tích hợp, vận hành đồng bộ các hệ thống từ nhiều địa phương khác nhau, yêu cầu về một cơ chế điều phối mạnh, linh hoạt và có tính ràng buộc cao trở nên đặc biệt cấp thiết.

(4) Về năng lực doanh nghiệp và cơ chế hợp tác công – tư, sự tham gia của khu vực tư nhân trong phát triển đô thị thông minh còn hạn chế. Các doanh nghiệp công nghệ chưa có cơ chế rõ ràng để tham gia đầu tư vào hạ tầng số, dẫn đến sự phụ thuộc đáng kể vào nguồn ngân sách nhà nước. Bên cạnh đó, cơ chế mua sắm, đấu thầu đối với sản phẩm, dịch vụ công nghệ thông tin còn tồn tại nhiều vướng mắc, chưa phù hợp với đặc thù đổi mới nhanh và vòng đời ngắn của công nghệ.

(5) Về nguồn nhân lực chuyên môn cao, tình trạng thiếu hụt nhân lực trong các lĩnh vực, như: công nghệ thông tin, dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo (AI) và quản lý đô thị hiện đại, đang trở thành điểm nghẽn lớn. Mặc dù thành phố đã tổ chức hơn 3.500 lượt cán bộ, công chức tham gia các chương trình đào tạo, tập huấn về chuyển đổi số13, song đội ngũ chuyên gia có trình độ chuyên sâu về đô thị thông minh vẫn còn hạn chế về số lượng và chất lượng, chưa đáp ứng yêu cầu triển khai trong bối cảnh phát triển nhanh của công nghệ và quản trị đô thị hiện đại.

4. Giải pháp và đề xuất chính sách

Một là, hoàn thiện khung pháp lý và xây dựng bộ tiêu chuẩn đặc thù cho đô thị thông minh Cần Thơ. Một trong những rào cản lớn nhất hiện nay là sự thiếu vắng một khung pháp lý rõ ràng, đồng bộ cho phát triển đô thị thông minh ở cấp địa phương. Thành phố cần phối hợp chặt chẽ với Bộ Xây dựng, Bộ Khoa học và Công nghệ để xây dựng và áp dụng bộ tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật riêng phù hợp với đặc thù sinh thái, khí hậu và trình độ phát triển của Cần Thơ sau sáp nhập. Bộ tiêu chuẩn này cần bao gồm các quy định về kiến trúc dữ liệu, giao thức kết nối liên ngành, định mức chi phí đầu tư hạ tầng số và tiêu chí đánh giá hiệu quả vận hành đô thị thông minh. Đồng thời, cần sớm luật hóa các quy định liên quan đến đô thị thông minh trong hệ thống Luật Quy hoạch đô thị, Luật Chính quyền địa phương và các nghị định hướng dẫn, tạo nền tảng pháp lý ổn định và bền vững cho quá trình triển khai. 

Hai là, xây dựng và vận hành hiệu quả Trung tâm điều hành đô thị thông minh (IOC) tích hợp sau sáp nhập. Việc tích hợp các hệ thống IOC từ hai tỉnh: Sóc Trăng, Hậu Giang vào thành phố Cần Thơ thành một nền tảng thống nhất là ưu tiên cấp bách. Theo hướng dẫn mô hình Trung tâm IOC cấp tỉnh của Bộ Khoa học và Công nghệ (tháng 5/2025), các địa phương cần tập trung vào 7 nhóm nội dung, như: hoàn thiện chính sách vận hành, hình thành dữ liệu số, hoàn thiện hạ tầng số, phát triển nền tảng số, xây dựng kịch bản điều hành trực tuyến, bảo đảm nhân lực và bảo đảm an toàn thông tin14. Cần Thơ cần triển khai đồng bộ cả 7 nhóm này theo lộ trình rõ ràng, có mốc thời gian cụ thể và cơ chế giám sát hiệu quả. Đặc biệt, IOC phải chuyển hóa từ công cụ hiển thị dữ liệu sang công cụ hỗ trợ ra quyết định thực chất, dựa trên phân tích dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo. 

Ba là, thiết lập cơ chế điều phối liên ngành và liên vùng về phát triển đô thị thông minh. Phát triển đô thị thông minh mang tính liên ngành, liên lĩnh vực cao và không thể chỉ do một cơ quan đơn lẻ triển khai. Cần thành lập Ban Chỉ đạo phát triển đô thị thông minh cấp thành phố với sự tham gia của đại diện tất cả các sở, ngành, đơn vị liên quan và có sự chỉ đạo trực tiếp từ lãnh đạo UBND thành phố. Đồng thời, cần thiết lập cơ chế điều phối vùng với các tỉnh, thành phố trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long nhằm chia sẻ dữ liệu, phối hợp xây dựng hạ tầng số liên vùng và thống nhất tiêu chuẩn triển khai. Mô hình hợp tác công – tư (PPP) nên được thí điểm mạnh mẽ trong đầu tư hạ tầng đô thị thông minh, đặc biệt là hạ tầng viễn thông 5G, cảm biến IoT và hệ thống camera giám sát thông minh. 

Bốn là, phát triển cơ sở dữ liệu dùng chung và hoàn thiện hạ tầng số liên thông. Dữ liệu là “tài nguyên” trung tâm của đô thị thông minh. Cần Thơ cần ưu tiên xây dựng nền tảng dữ liệu số tích hợp, bảo đảm bốn tiêu chí cốt lõi, như: đúng – đủ – sạch – sống15, kết nối liên thông giữa tất cả các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập và hệ thống phục vụ người dân. Nhà nước cần ban hành quy chế chia sẻ dữ liệu rõ ràng, giải quyết mâu thuẫn giữa yêu cầu chia sẻ thông tin và bảo mật dữ liệu. Cần đẩy mạnh ứng dụng Blockchain và chuỗi dữ liệu phân tán để bảo đảm tính toàn vẹn, minh bạch của dữ liệu công và tăng cường niềm tin của người dân vào hệ thống dịch vụ số. 

Năm là, xây dựng cơ chế chính sách ưu đãi thu hút đầu tư và khởi nghiệp trong lĩnh vực công nghệ đô thị. Phát triển đô thị thông minh đòi hỏi nguồn lực đầu tư lớn và sự tham gia tích cực của khu vực tư nhân. Cần có chính sách tài chính đặc thù, như: miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp cho các dự án đầu tư vào hạ tầng số, hỗ trợ lãi suất vay tín dụng xanh cho các sáng kiến đô thị thông minh và bảo lãnh tín dụng cho các doanh nghiệp khởi nghiệp trong lĩnh vực công nghệ đô thị. Thành phố cần tận dụng tốt Khu Công nghệ thông tin tập trung (21 ha) và Công viên phần mềm Đại học FPT (17 ha) để hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, thu hút đầu tư trong và ngoài nước vào các lĩnh vực công nghệ phục vụ đô thị thông minh. Đồng thời, cần nghiên cứu triển khai Nghị quyết số 193/2025/QH15 và Nghị định số 88/2025/NĐ-CP về cơ chế đặc thù nhằm tháo gỡ các rào cản về đấu thầu, mua sắm sản phẩm công nghệ cao, qua đó thúc đẩy nhanh các dự án đô thị thông minh. 

Sáu là, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao về đô thị thông minh. Thiếu nhân lực kỹ thuật chuyên sâu là điểm yếu then chốt của Cần Thơ trong quá trình phát triển đô thị thông minh. Thành phố cần xây dựng chiến lược phát triển nhân lực dài hạn, có sự phối hợp của Đại học Cần Thơ và các trường đại học, viện nghiên cứu trong vùng nhằm đào tạo chuyên gia về quản trị đô thị thông minh, AI, phân tích dữ liệu lớn và an toàn thông tin. Đồng thời, cần có cơ chế đặt hàng đào tạo từ phía chính quyền thành phố, hỗ trợ học phí và chính sách đãi ngộ phù hợp nhằm thu hút nhân lực chất lượng cao. Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh các chương trình nâng cao nhận thức và kỹ năng số cho người dân và cộng đồng doanh nghiệp, bởi phát triển đô thị thông minh bền vững không chỉ là vấn đề công nghệ mà còn là sự chuyển biến về nhận thức của toàn xã hội16

Bảy là, tăng cường chuyển đổi số toàn diện trong quản lý hành chính và dịch vụ công. Cần Thơ đặt mục tiêu đến năm 2025 nằm trong nhóm 10 địa phương dẫn đầu cả nước về chuyển đổi số, với 100% thủ tục hành chính đủ điều kiện được cung cấp trực tuyến toàn trình, 80% hồ sơ được giải quyết theo hình thức trực tuyến và 100% hồ sơ mới được số hóa17. Để đạt được mục tiêu này, cần tập trung triển khai các hệ thống thông tin phục vụ họp và xử lý công việc không giấy tờ, làm việc từ xa, khai thác hiệu quả hệ thống quản lý văn bản điều hành và số hóa hồ sơ lưu trữ. Đồng thời, cần thúc đẩy phát triển kinh tế số, với mục tiêu đến năm 2030 kinh tế số chiếm 30% GRDP và tỷ lệ đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp đạt trên 55% vào tăng trưởng18

Tám là, tăng cường hợp tác quốc tế và học hỏi kinh nghiệm từ các mô hình đô thị thông minh tiên tiến. Cần Thơ cần mở rộng hợp tác kỹ thuật với các quốc gia có kinh nghiệm phát triển đô thị thông minh, như: Singapore, Hàn Quốc, Nhật Bản và Hà Lan, nhằm tiếp cận các mô hình quản trị đô thị tích hợp, công nghệ bảo đảm an toàn thông tin và tiêu chuẩn vận hành quốc tế. Đồng thời, cần thúc đẩy các chương trình ODA hoặc hợp tác công – tư với các tổ chức quốc tế, như: WB, ADB, JICA, để triển khai thí điểm các dự án đô thị thông minh trong các lĩnh vực ưu tiên, như: giao thông, môi trường và y tế. Đề án phát triển đô thị thông minh giai đoạn 2026 – 2030, tầm nhìn đến năm 2040 của Cần Thơ cần khai thác hiệu quả các nguồn lực hợp tác quốc tế nhằm đẩy nhanh quá trình hiện đại hóa và giảm chi phí thử nghiệm19.

5. Kết luận

Phát triển đô thị thông minh tại thành phố Cần Thơ không chỉ là bài toán công nghệ mà, ở cấp độ sâu hơn, là bài toán thể chế, đòi hỏi sự điều phối đồng bộ giữa khung pháp lý, cơ chế tổ chức, nguồn lực đầu tư và định hướng phát triển nguồn nhân lực. Cần nhìn nhận thể chế như nền tảng tiên quyết, đi trước một bước trong toàn bộ tiến trình xây dựng đô thị thông minh, theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.

Việc thể chế hóa phát triển đô thị thông minh thông qua các công cụ, như: luật hóa, tiêu chuẩn hóa và thiết lập cơ chế điều phối liên ngành, sẽ là bước đi then chốt nhằm bảo đảm tính đồng bộ và hiệu lực trong thực thi chính sách. Đây là tiền đề quan trọng để hình thành một hệ sinh thái đô thị hiện đại, xanh và thông minh, phục vụ hiệu quả cho mục tiêu đến năm 2045, đưa Cần Thơ trở thành thành phố sinh thái, văn minh, hiện đại, thuộc nhóm các đô thị phát triển khá ở châu Á và là đô thị thông minh đáng sống của Việt Nam.

Chú thích:
1. Chính phủ phê duyệt Quy hoạch thành phố Cần Thơ thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050. https://www.mpi.gov.vn/portal/Pages/2023-12-5/Phe-duyet-Quy-hoach-Thanh-pho-Can-Tho-thoi-ky-2021cl6r3r.aspx
2. Chuyển đổi số tạo động lực phát triển cho Cần Thơ. https://mst.gov.vn/chuyen-doi-so-tao-dong-luc-phat-trien-cho-can-tho-197156256.htm
3. Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
4. International Telecommunication Union (ITU). (2014). Focus Group on Smart Sustainable Cities: An overview of smart sustainable cities and the role of information and communication technology. ITU-T Technical Report.
5. Thủ tướng chính phủ (2018). Quyết định số 950/QĐ-TTg ngày 01/8/2018 phê duyệt Đề án phát triển đô thị thông minh bền vững Việt Nam giai đoạn 2018-2025, định hướng đến năm 2030
6. Phát triển đô thị thông minh tại Việt. https://vietnamarchi.vn/phat-trien-do-thi-thong-minh-tai-viet-nam-3331.html
7. Xây dựng Cần Thơ phát triển thành đô thị thông minh. https://baochinhphu.vn/can-tho-dat-muc-tieu-hoan-thanh-59-du-an-do-thi-thong-minh-den-nam-2030-102260422111207494.htm
8, 10, 11, 17. Cần Thơ tăng tốc xây dựng đô thị thông minh. https://baochinhphu.vn/can-tho-dat-muc-tieu-hoan-thanh-59-du-an-do-thi-thong-minh-den-nam-2030-102260422111207494.htm
9. Trung tâm điều hành thông minh Cần Thơ thí điểm giám sát hiệu quả hoạt động của chính quyền. https://vnpt.vn/gioi-thieu/tin-tuc/trung-tam-dieu-hanh-thong-minh-can-tho-thi-diem-giam-sat-hieu-qua-hoat-dong-cua-chinh-quyen.html
12, 13. Chuyển đổi số tạo động lực phát triển cho Cần Thơ. https://mic.gov.vn
14. Hướng dẫn triển khai mô hình Trung tâm IOC cấp tỉnh (Công văn số 1709/BKHCN-CĐSQG ngày 21/5/2025). https://thuvienphapluat.vn/cong-van/Cong-nghe-thong-tin/Cong-van-1709-BKHCN-CDSQG-2025-huong-dan-Mo-hinh-Trung-tam-giam-sat-thong-minh-cap-tinh-658092.aspx
15. Hội nghị Thành phố thông minh Việt Nam – Châu Á 2024. https://mst.gov.vn/hoi-nghi-thanh-pho-thong-minh-viet-nam-chau-a-2024-197250103083003935.htm
16. Phát triển đô thị thông minh ở một số địa phương – kinh nghiệm rút ra cho thành phố Cần Thơ. https://www.quanlynhanuoc.vn/2025/07/15/phat-trien-do-thi-thong-minh-o-mot-so-dia-phuong-kinh-nghiem-rut-ra-cho-thanh-pho-can-tho/
18. Cần Thơ biến định hướng chiến lược thành cơ chế, chính sách thực chất. https://baotintuc.vn/thoi-su/can-tho-bien-dinh-huong-chien-luoc-thanh-co-che-chinh-sach-thuc-chat-20250925172016218.htm
19. Cần Thơ phê duyệt Đề án phát triển đô thị thông minh, hướng tới chuyển đổi số và chuyển đổi xanh. https://mst.gov.vn/can-tho-phe-duyet-de-an-phat-trien-do-thi-thong-minh-huong-toi-chuyen-doi-so-va-chuyen-doi-xanh-197260311163249069.htm