Innovating inspection and supervision methods in the spirit of the 14th National Congress of the Party
Lê Thị Mỹ Châu
Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã Tân Bình, thành phố Cần Thơ
(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết tập trung phân tích yêu cầu đổi mới phương pháp kiểm tra, giám sát theo tinh thần Đại hội XIV của Đảng với trọng tâm chuyển từ kiểm tra, xử lý sau vi phạm sang giám sát thường xuyên, chủ động phòng ngừa; gắn kiểm tra với thực hiện nhiệm vụ chính trị và trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp quán triệt, thực hiện quan điểm Đại hội XIV nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh trong kỷ nguyên phát triển mới.
Từ khóa: Đảng Cộng sản Việt Nam; Đại hội XIV; Điều lệ Đảng; kiểm tra, giám sát; kỷ nguyên phát triển mới.
Abstract: This article focuses on analyzing the need to innovate inspection and supervision methods in accordance with the spirit of the 14th Party Congress, with a shift in focus from post-violation inspection and handling to regular, proactive, and preventive supervision; linking inspection with the implementation of political tasks and the exemplary responsibilities of cadres and Party members. Based on this, it proposes solutions to thoroughly implement the viewpoints of the 14th Party Congress, enhance the effectiveness and efficiency of inspection and supervision work, and contribute to building a clean and strong Party in the new era of development.
Key words: Communist Party of Vietnam; 14th National Congress; Party Statutes; inspection and supervision; new era of development.
1. Đặt vấn đề
Công tác kiểm tra, giám sát của Đảng không chỉ giữ vai trò là “cánh tay nối dài” bảo đảm sự lãnh đạo được thực thi hiệu lực, hiệu quả mà còn là “lá chắn” vững chắc trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng, chuẩn mực đạo đức và kỷ luật của Đảng trong quá trình triển khai nhiệm vụ chính trị. Trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc, khi thời cơ và thách thức đan xen, yêu cầu đặt ra là Đảng phải thực sự trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ để giữ vững vai trò lãnh đạo. Theo đó, đổi mới phương pháp kiểm tra, giám sát không chỉ là nhiệm vụ thường xuyên mà còn là điều kiện quan trọng nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, củng cố niềm tin của Nhân dân, bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước. Quán triệt sâu sắc, tổ chức thực hiện có hiệu quả quan điểm Đại hội XIV là điều kiện tiên quyết nhằm đổi mới căn bản, toàn diện phương pháp, nâng cao hiệu lực, hiệu quả kiểm tra, giám sát của Đảng trong kỷ nguyên phát triển mới.
2. Yêu cầu đổi mới phương pháp kiểm tra, giám sát
“Kiểm tra, giám sát là những chức năng lãnh đạo của Đảng”1. Kiểm tra, giám sát không chỉ nhằm phát hiện, xử lý vi phạm mà còn quan trọng hơn là phòng ngừa, giáo dục, giữ vững kỷ luật, kỷ cương, bảo đảm sự thống nhất ý chí và hành động trong toàn Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Khi đã có chính sách đúng thì sự thành công hoặc thất bại của chính sách đó là do cách tổ chức công việc, việc lựa chọn cán bộ và kiểm tra. Nếu ba điều ấy sơ sài thì chính sách đúng mấy cũng vô ích”2. Quy định số 22-QĐ/TW ngày 28/7/2021 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII) về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng xác định: kiểm tra, giám sát nhằm “phát hiện nhân tố mới, tích cực để phát huy, phải bảo vệ cái đúng, bảo vệ người tốt, cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đột phá vì lợi ích chung; phải chủ động phát hiện sớm để phòng ngừa, ngăn chặn, khắc phục khuyết điểm, vi phạm của tổ chức đảng và đảng viên ngay từ khi còn mới manh nha, không để vi phạm nhỏ tích tụ thành sai phạm lớn, kéo dài và lan rộng”3.
Qua các kỳ Đại hội, Đảng không ngừng bổ sung, phát triển nhận thức về kiểm tra, giám sát, trong đó ngày càng nhấn mạnh yêu cầu đổi mới phương pháp theo hướng khoa học, hiệu quả và phù hợp với thực tiễn. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng xác định: “Cải tiến, đổi mới phương pháp, quy trình, kỹ năng kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng bảo đảm khách quan, dân chủ, khoa học, đồng bộ, thống nhất, thận trọng, chặt chẽ, khả thi”4. Bước vào kỷ nguyên phát triển mới, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục khẳng định: “Đổi mới mạnh mẽ tư duy, phương pháp công tác kiểm tra, giám sát của Đảng để giữ vững kỷ cương, kỷ luật Đảng”5 góp phần xây dựng Đảng và hệ thống chính trị ngày càng trong sạch, vững mạnh.
Một là, đổi mới mạnh mẽ về tư duy và trạng thái công tác kiểm tra, giám sát. Đại hội XIV xác định kiểm tra, giám sát không chỉ là chức năng mà còn là một trong những phương thức lãnh đạo chủ yếu của Đảng, có ý nghĩa quyết định trong việc giữ vững kỷ luật, kỷ cương và nâng cao năng lực cầm quyền. Điểm đổi mới căn bản là chuyển từ tư duy “bị động”, sang tư duy “chủ động” để “kịp thời phát hiện vi phạm, khuyết điểm của tổ chức, đảng viên”6. Điều này đòi hỏi các cấp ủy, tổ chức đảng phải nâng cao năng lực dự báo, nhận diện sớm nguy cơ, dấu hiệu vi phạm; đồng thời thay đổi trạng thái công tác từ phản ứng sang kiến tạo, từ xử lý tình huống sang kiểm soát quá trình. Đây là bước chuyển có ý nghĩa phương pháp luận sâu sắc, tạo nền tảng cho toàn bộ quá trình đổi mới công tác kiểm tra, giám sát trong kỷ nguyên phát triển mới.
Hai là, chuyển trọng tâm phương pháp sang giám sát thường xuyên, chủ động từ sớm, từ xa. Đại hội chỉ rõ: “Chuyển trọng tâm sang giám sát thường xuyên, chủ động, ngay từ đầu, xuyên suốt trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện nghị quyết, chỉ thị, kết luận, quyết định của cấp ủy các cấp”7. Nội dung cốt lõi của đổi mới phương pháp là không coi kiểm tra là hoạt động “định kỳ, theo vụ việc” mà đặt trọng tâm vào giám sát thường xuyên, liên tục, gắn với toàn bộ quá trình lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện nhiệm vụ. Phương châm “phòng ngừa là chính” được cụ thể hóa bằng việc tăng cường theo dõi, nắm bắt tình hình ngay từ đầu, kịp thời cảnh báo, nhắc nhở, uốn nắn những biểu hiện lệch lạc. Cách tiếp cận này không chỉ giúp phát hiện sớm vi phạm mà còn góp phần hạn chế chi phí chính trị – xã hội của việc xử lý sai phạm, ngăn chặn nguy cơ tích tụ thành những vấn đề nghiêm trọng, phức tạp. Đồng thời, việc giám sát thường xuyên còn tạo ý thức tự kiểm soát đối với cán bộ, đảng viên.
Ba là, bảo đảm tính bao phủ toàn diện, không có ngoại lệ trong kiểm tra, giám sát. Đại hội xác định “không để có “khoảng trống”, “vùng tối” mà công tác kiểm tra, giám sát của Đảng không vươn tới được”8. Mọi tổ chức đảng và đảng viên, không phân biệt vị trí, chức vụ đều phải đặt dưới sự kiểm tra, giám sát của Đảng. Trọng tâm của phương pháp mới là kiểm soát chặt chẽ việc thực thi quyền lực, nhất là đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý; gắn kiểm tra, giám sát với minh bạch tài sản, thu nhập và trách nhiệm giải trình. Việc bảo đảm tính bao phủ toàn diện không chỉ nâng cao tính công bằng, nghiêm minh của kỷ luật Đảng mà còn góp phần củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và Nhân dân đối với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng.
Bốn là, đẩy mạnh chuyển đổi số, hình thành phương pháp “kiểm tra, giám sát trên dữ liệu”. Một trong những đột phá quan trọng của Đại hội XIV là yêu cầu: “Đẩy mạnh chuyển đổi số toàn diện, triển khai quyết liệt, đồng bộ các nhiệm vụ đáp ứng yêu cầu “kiểm tra, giám sát trên dữ liệu” trong toàn ngành kiểm tra”9. Phương pháp “kiểm tra, giám sát trên dữ liệu” cho phép chuyển từ cách làm thủ công, phụ thuộc nhiều vào báo cáo chủ quan sang khai thác, phân tích dữ liệu lớn, bảo đảm tính khách quan, chính xác và kịp thời. Việc kết nối, liên thông và chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan giúp nâng cao khả năng phát hiện sớm dấu hiệu bất thường, hỗ trợ dự báo và ra quyết định kiểm tra, giám sát có trọng tâm, trọng điểm. Đây không chỉ là đổi mới về công cụ mà còn là sự thay đổi căn bản về phương pháp tiếp cận, góp phần hiện đại hóa công tác kiểm tra, giám sát của Đảng.
Năm là, tăng cường phối hợp đồng bộ, liên thông giữa các chủ thể trong hệ thống kiểm tra, giám sát. Đại hội XIV nhấn mạnh: “Phối hợp chặt chẽ, kịp thời, đồng bộ, hiệu quả giữa công tác kiểm tra, giám sát của Đảng với thanh tra, kiểm toán nhà nước, điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan bảo vệ pháp luật và giám sát, phản biện của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị -xã hội và Nhân dân”10. Phương pháp phối hợp mới hướng tới việc chia sẻ thông tin, dữ liệu, kết quả kiểm tra, qua đó tránh chồng chéo, nâng cao hiệu quả phát hiện và xử lý sai phạm. Đặc biệt, nguyên tắc “kỷ luật Đảng đi trước một bước” được quán triệt, tạo cơ sở chính trị và pháp lý cho việc xử lý hành chính và hình sự, góp phần kiểm soát quyền lực một cách chặt chẽ, thực chất và hiệu quả hơn.
3. Thực trạng đổi mới phương pháp kiểm tra, giám sát của Đảng
Thực tiễn thời gian qua, “công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng được tăng cường, thường xuyên, nghiêm minh, đạt nhiều kết quả nổi bật”11. Dưới sự lãnh đạo của Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, hệ thống quy định, quy trình về kiểm tra, giám sát không ngừng được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý đồng bộ cho việc triển khai thực hiện. Chỉ riêng trong nhiệm kỳ Đại hội XIII, Trung ương và các cơ quan chức năng đã ban hành hàng chục quy định, quy chế, hướng dẫn quan trọng về công tác này12. Điều đó cho thấy, phương pháp kiểm tra, giám sát ngày càng được chuẩn hóa, thể chế hóa và vận hành theo hướng bài bản, khoa học hơn.
Hoạt động kiểm tra, giám sát đã từng bước chuyển từ cách làm “thụ động” sang “chủ động”, từ kiểm tra theo vụ việc sang kết hợp giữa kiểm tra và giám sát thường xuyên. Các cấp ủy và ủy ban kiểm tra đã tăng cường giám sát chuyên đề, giám sát thường xuyên đối với tổ chức đảng và đảng viên trên nhiều lĩnh vực trọng yếu. Trong nhiệm kỳ Đại hội XIII, cấp ủy các cấp đã tiến hành kiểm tra hơn 232.401 tổ chức đảng và 1,28 triệu đảng viên13, đồng thời thực hiện giám sát chuyên đề đối với hàng trăm nghìn tổ chức đảng và đảng viên. Điều đó cho thấy, quy mô, cường độ và mức độ bao phủ ngày càng rộng của công tác kiểm tra, giám sát, đồng thời phương pháp đã có sự chuyển dịch theo hướng chủ động hơn, không chỉ tập trung vào xử lý vi phạm mà còn chú trọng phòng ngừa.
Kiểm tra, giám sát ngày càng gắn chặt với công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và kiểm soát quyền lực. Đại hội XIV đánh giá, công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng đã gắn kết chặt chẽ “với tự phê bình, phê bình và với tuân thủ pháp luật”14. Các cơ quan kiểm tra đã chủ động phối hợp với thanh tra, kiểm toán, điều tra để phát hiện và xử lý nhiều vụ việc phức tạp, nghiêm trọng, được dư luận xã hội quan tâm. Nội dung kiểm tra không chỉ dừng lại ở việc chấp hành nghị quyết, chỉ thị mà còn mở rộng sang các lĩnh vực nhạy cảm, như: quản lý đất đai, đầu tư công, tài chính, ngân sách, công tác cán bộ. Điều này cho thấy, phương pháp kiểm tra, giám sát đã có sự phát triển theo hướng đi sâu vào những “điểm nóng”, “khâu yếu”, góp phần quan trọng trong việc siết chặt kỷ luật, kỷ cương của Đảng.
Việc kết hợp giữa kiểm tra với giám sát đã ngày càng chặt chẽ hơn, từng bước khắc phục tình trạng tách rời giữa hai hoạt động này trong thực tiễn. Các cấp ủy không chỉ tiến hành kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm mà còn tăng cường giám sát thường xuyên, từ đó kịp thời phát hiện dấu hiệu bất thường để chuyển sang kiểm tra. Ủy ban kiểm tra các cấp đã kiểm tra hàng chục nghìn tổ chức đảng và đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm, qua đó phát hiện và xử lý kịp thời nhiều trường hợp sai phạm. Điều này cho thấy, sự tiến bộ trong phương pháp tiếp cận, chuyển từ “phản ứng” sang “dự báo và phòng ngừa”.
Bước đầu được hiện đại hóa công tác kiểm tra, giám sát thông qua ứng dụng công nghệ số. Nhiều địa phương, cơ quan đã triển khai số hóa tài liệu, xây dựng cơ sở dữ liệu về công tác kiểm tra, giám sát; từng bước hình thành nền tảng “kiểm tra số”, cho phép theo dõi, phân tích và cảnh báo sớm các nguy cơ vi phạm. Việc kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan cũng được chú trọng, góp phần nâng cao tính khách quan, minh bạch và hiệu quả của hoạt động kiểm tra, giám sát. Đây là xu hướng mới, phản ánh sự thích ứng của phương pháp kiểm tra, giám sát với bối cảnh chuyển đổi số quốc gia.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, việc đổi mới phương pháp kiểm tra, giám sát vẫn còn một số hạn chế. Công tác kiểm tra, giám sát ở một số nơi thiếu chủ động, thiếu quyết liệt, chưa hiệu quả; công tác giám sát thương xuyên còn hạn chế, chất lượng, hiệu quả chưa cao. Việc xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình kiểm tra, giám sát còn mang tính định kỳ, thiếu tính dự báo, chưa bám sát những vấn đề nổi cộm của thực tiễn. Việc ứng dụng công nghệ số trong kiểm tra, giám sát còn chưa đồng bộ, chưa phát huy hết tiềm năng. Việc triển khai chuyển đổi số ở một số địa phương, đơn vị còn chậm, có nhiều hạn chế về phương pháp, cơ chế, chính sách, hạ tầng, nhân lực15. Cơ chế phối hợp giữa các cơ quan trong hệ thống kiểm tra, giám sát có lúc, có nơi chưa thật chặt chẽ, dẫn đến tình trạng chồng chéo hoặc bỏ sót nội dung kiểm tra.
4. Một số giải pháp
Thứ nhất, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng về đổi mới phương pháp kiểm tra, giám sát. Đại hội XIV nhấn mạnh kiểm tra, giám sát là phương thức lãnh đạo chủ yếu, phải được tiến hành “chủ động, thường xuyên, liên tục”. Cần “tiếp tục nâng cao nhận thức và trách nhiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện công tác kiểm tra, giám sát theo quy định của Điều lệ Đảng, đặc biệt là trách nhiệm của cấp ủy và người đứng đầu”16. Chuyển biến căn bản từ tư duy coi kiểm tra là hoạt động “hậu kiểm” sang coi đó là công cụ kiểm soát quyền lực và phòng ngừa vi phạm. Người đứng đầu cấp ủy phải trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo và chịu trách nhiệm về chất lượng công tác kiểm tra, giám sát; đồng thời xây dựng văn hóa tự kiểm tra, tự giám sát trong nội bộ. Việc nâng cao nhận thức không chỉ dừng ở quán triệt nghị quyết mà phải cụ thể hóa thành hành động, quy trình và cơ chế vận hành thực tiễn.
Thứ hai, đổi mới phương pháp theo hướng chủ động, lấy giám sát thường xuyên làm trọng tâm, phòng ngừa từ sớm, từ xa. Cần thực hiện phương châm “giám sát phải mở rộng, kiểm tra phải có trọng tâm, trọng điểm”. Điều này đòi hỏi xây dựng các cơ chế giám sát có khả năng cảnh báo sớm, phát hiện dấu hiệu vi phạm ngay từ khi mới manh nha, đặc biệt tại cơ sở – nơi dễ phát sinh sai phạm, không để vi phạm nhỏ tích tụ thành vi phạm lớn. Đồng thời, phải “bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đột phá vì lợi ích chung”17. Kết hợp chặt chẽ kiểm tra, giám sát với quá trình tổ chức thực hiện nghị quyết, chính sách, bảo đảm mọi chủ trương của Đảng đều được kiểm tra ngay từ khi bắt đầu triển khai.
Thứ ba, hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát theo hướng khoa học, minh bạch, khả thi. Tiếp tục rà soát, hoàn thiện hệ thống quy định, quy chế, quy trình kiểm tra, giám sát theo hướng chuẩn hóa, đồng bộ từ trung ương đến cơ sở; khắc phục tình trạng chồng chéo, hình thức hoặc thiếu thống nhất. Đồng thời, đổi mới phương pháp tiếp cận theo hướng kết hợp giữa định tính với định lượng, giữa kiểm tra trực tiếp với gián tiếp, giữa kiểm tra theo kế hoạch với kiểm tra đột xuất. Việc nâng cao tính công khai, minh bạch trong kiểm tra, giám sát cũng là yêu cầu quan trọng nhằm tăng cường tính răn đe và củng cố niềm tin của Nhân dân.
Thứ tư, đẩy mạnh chuyển đổi số, xây dựng phương pháp “kiểm tra, giám sát trên dữ liệu”. Việc ứng dụng công nghệ số giúp nâng cao tính khách quan, kịp thời, chính xác trong phát hiện vi phạm; đồng thời, tăng cường khả năng phân tích, dự báo và hỗ trợ ra quyết định. Để thực hiện hiệu quả, cần xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu thống nhất, đào tạo kỹ năng số cho đội ngũ cán bộ kiểm tra và từng bước hình thành hệ sinh thái kiểm tra số gắn với chuyển đổi số quốc gia. Đây không chỉ là đổi mới công cụ mà còn là sự thay đổi căn bản về phương thức kiểm tra, giám sát trong kỷ nguyên số.
Thứ năm, tăng cường phối hợp đồng bộ, liên thông giữa các chủ thể trong hệ thống kiểm tra, giám sát và kiểm soát quyền lực. Theo đó, cần tăng cường phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan kiểm tra của Đảng với thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử nhằm bảo đảm tính liên thông, đồng bộ. Phát huy vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội và Nhân dân, tạo thành mạng lưới giám sát đa chiều. Việc thực hiện nguyên tắc “kỷ luật Đảng đi trước” không chỉ nâng cao hiệu quả xử lý vi phạm mà còn góp phần kiểm soát quyền lực một cách thực chất, ngăn ngừa tha hóa quyền lực trong bộ máy.
5. Kết luận
Đổi mới phương pháp kiểm tra, giám sát theo tinh thần Đại hội XIV của Đảng là yêu cầu khách quan, mang tính cấp thiết, lâu dài hiện nay. Trong bối cảnh tình hình mới với nhiều yếu tố tác động phức tạp, công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở chức năng phát hiện và xử lý vi phạm mà phải thực sự trở thành công cụ chủ động kiểm soát quyền lực, phòng ngừa sai phạm và nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng. Việc quán triệt và triển khai đồng bộ các định hướng của Đại hội XIV sẽ góp phần nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát, qua đó củng cố kỷ luật, kỷ cương, tăng cường niềm tin của nhân dân, bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước.
Chú thích:
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011). Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam.
2. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 5. H. NXB. Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 636.
3, 4, 11. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Tập I. H. NXB. Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 144 – 145, 188, 158.
5, 6, 7, 8, 9, 10, 14, 15, 16, 17. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập I. H. NXB. Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 39, 410, 139, 411, 413, 412 – 413, 58, 381, 410, 410.
12, 13. Hội nghị toàn quốc tổng kết công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật của Đảng năm 2025 và nhiệm kỳ Đại hội XIII. https://ubkttw.vn/danh-muc/tin-tuc-thoi-su/hoi-nghi-toan-quoc-tong-ket-cong-tac-kiem-tra-giam-sat-va-thi-hanh-ky-luat-cua-dang-nam-2025-va-nhiem-ky-dai-hoi-xiii.html



