Một số giải pháp nâng cao năng lực số cho đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã tỉnh Đắk Lắk

Some solutions to enhance digital capacity for commune-level officials and civil servants in Dak Lak Province

TS. Thiều Huy Thuật
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

(Quanlynhanuoc.vn) – Nâng cao năng lực số cho đội ngũ cán bộ, công chức  cấp xã là yêu cầu cấp thiết để xây dựng chính quyền điện tử, hướng tới chính quyền số. Đối với tỉnh Đắk Lắk, địa bàn có tính đặc thù về địa lý và nhân chủng học, hình thành năng lực số không chỉ đơn thuần là phổ cập công nghệ mà còn là thay đổi tư duy quản trị. Bài viết đánh giá thực trạng năng lực số của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, nhận diện những hạn chế và đề xuất một số giải pháp trọng tâm nhằm nâng cao năng lực số cho đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã tỉnh Đắk Lắk.

Từ khóa: Năng lực số; cán bộ, công chức cấp xã; chuyển đổi số; tỉnh Đắk Lắk.

Abstract: Enhancing the digital capacity of commune-level officials and civil servants is an urgent requirement for building e-government and moving toward digital government. In Dak Lak Province, a locality characterized by distinctive geographical and anthropological features, developing digital capacity is not merely about disseminating technology but also about transforming governance mindsets. This article assesses the current state of digital capacity among commune-level officials and civil servants, identifies key limitations and proposes several priority solutions to improve their digital competencies in Dak Lak Province.

Keywords: Digital capacity; commune-level officials and civil servants; digital transformation; Dak Lak Province.

1. Đặt vấn đề

Trong cấu trúc quản trị quốc gia, cấp xã là tầng nấc trực tiếp thực thi chính sách và tương tác mật thiết nhất với cộng đồng dân cư. Việc nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã không chỉ là yêu cầu mang tính kỹ thuật mà là điều kiện tiên quyết để chuyển đổi mô hình quản trị từ truyền thống sang quản trị trên môi trường số.  

Quá trình vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp và xây dựng chính quyền số tại tỉnh Đắk Lắk đặt ra yêu cầu cấp thiết về sự tương thích giữa năng lực thực thi của con người và hạ tầng công nghệ. Chức năng, nhiệm vụ của chính quyền cấp xã được mở rộng, khối lượng công việc nhiều hơn trong khi định biên nhân sự có hạn, đòi hỏi cán bộ, công chức càng phải tận dụng công nghệ nhằm giải quyết có hiệu quả nhiệm vụ được giao. Chỉ khi đội ngũ cán bộ, công chức có tư duy đổi mới và kỹ năng số thuần thục thì mới đủ khả năng khai thác các nền tảng dữ liệu số nhằm phục vụ cho hoạt động quản lý nhà nước. Sự chuyển biến về chất trong năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở là động lực nội sinh quan trọng để hình thành chính quyền số, nâng cao hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền trong kỷ nguyên kinh tế tri thức.

Tuy nhiên, hiện nay, một bộ phận cán bộ, công chức cấp xã còn bị động trong ứng dụng công nghệ thông tin vào triển khai các hoạt động quản lý, điều hành công việc trên môi trường mạng; một số còn có tâm lý ngại thay đổi, chậm tiếp cận công nghệ mới; chưa hình dung được nhiệm vụ cần làm trong cách thức tổ chức mới của chính quyền số; thiếu chuyên nghiệp trong giải quyết công việc, chưa nắm bắt quy trình, thủ tục chuẩn trên hệ thống. Nói cách khác, sự bất cập về số lượng, cơ cấu chưa hợp lý và năng lực hạn chế, chưa đồng đều đang tạo ra khoảng cách đáng kể so với những yêu cầu ngày càng khắt khe của bối cảnh mới.

Nâng cao năng lực số cho đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã là yêu cầu khách quan và là nhân tố quyết định tính hiệu quả trong lộ trình xây dựng, vận hành chính quyền số tại tỉnh Đắk Lắk. Năng lực của đội ngũ này cần được cấu trúc lại dựa trên các trụ cột chính, gồm: kiến thức số, kỹ năng số và thái độ làm việc trên môi trường số. Tổng hòa các cấu phần năng lực này không chỉ bảo đảm sự vận hành thông suốt của bộ máy chính quyền hai cấp mà còn tạo lập nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững của hệ sinh thái số tại địa phương. 

2. Nội hàm năng lực số của cán bộ, công chức cấp xã

Trong môi trường quản trị công hiện đại, năng lực số của cán bộ, công chức cấp xã không chỉ đơn thuần là kỹ năng sử dụng máy tính mà là một cấu trúc năng lực đa chiều, kết hợp giữa tư duy, kiến thức, kỹ năng và thái độ thực thi công vụ trên môi trường số. Cấu thành năng lực số của cán bộ, công chức cấp xã, gồm:

(1) Năng lực nhận thức và tư duy số: đây là tầng đáy và là thành tố quan trọng nhất. Nếu thiếu tư duy số, mọi kỹ năng công nghệ đều chỉ là sự sao chép máy móc từ quy trình giấy sang máy tính. Tư duy số được phản ánh qua sự sẵn sàng thay đổi của cán bộ, công chức, tức là khả năng từ bỏ tâm lý ngại thay đổi, chủ động tiếp cận các công cụ mới để tối ưu hóa hiệu suất thay vì coi công nghệ là gánh nặng tăng thêm. Cán bộ, công chức phải có nhận thức về sự phục vụ trong môi trường số, hiểu rõ việc hướng dẫn người dân làm thủ tục trực tuyến là giải pháp lâu dài để giảm tải áp lực tại bộ phận một cửa và tăng tính minh bạch. Tư duy lấy dữ liệu làm trung tâm cũng là một trong những yếu tố tạo nên tư duy số. Cán bộ, công chức cần hiểu rằng, mọi quyết định hành chính phải dựa trên bằng chứng dữ liệu sạch, chính xác và được cập nhật theo thời gian thực, thay vì dựa trên cảm tính hay các báo cáo định kỳ chậm trễ.

(2) Năng lực khai thác và quản trị thông tin, dữ liệu: cán bộ, công chức cấp xã là những người trực tiếp “nuôi dưỡng” các kho dữ liệu quốc gia từ cơ sở. Điều này đòi hỏi cán bộ, công chức phải có khả năng thu thập và nhập liệu, bảo đảm tính “đúng, đủ, sạch, sống” của dữ liệu trên các phần mềm chuyên ngành. Năng lực khai thác các báo cáo từ hệ thống thông tin để nắm bắt tình hình địa phương nhằm tham mưu chính xác cho lãnh đạo xã. Khả năng sàng lọc thông tin trên môi trường mạng để không bị ảnh hưởng bởi tin giả, tin xấu độc trong quá trình thực thi nhiệm vụ chính trị.

(3) Kỹ năng vận hành, giải quyết vấn đề trên môi trường số: cán bộ, công chức phải sử dụng thành thạo các phần mềm tác nghiệp chuyên ngành liên quan đến lĩnh vực mình đảm nhận, có kỹ năng giải quyết công việc trên hệ thống Cổng dịch vụ công trực tuyến. Cán bộ, công chức cần có kỹ năng hội họp trực tuyến, quản lý công việc qua các ứng dụng di động; kỹ năng dân vận số, sử dụng các nền tảng mạng xã hội để thông báo chính sách, tiếp nhận phản ánh kiến nghị của Nhân dân một cách nhanh chóng, hướng dẫn người dân thao tác, thực hiện các dịch vụ trên môi trường mạng.

(4) Năng lực bảo đảm an toàn và bảo mật thông tin: là khả năng quản lý mật khẩu, nhận diện các đường link lạ, email lừa đảo nhằm tránh rò rỉ bí mật nhà nước; khả năng bảo vệ thông tin cá nhân của người dân khi thực hiện các thủ tục hành chính, không để xảy ra tình trạng mua bán hoặc lộ lọt thông tin; tuân thủ quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức trên môi trường mạng.

3. Thực trạng năng lực số của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã tỉnh Đắk Lắk

Cán bộ, công chức không chỉ đóng vai trò người vận hành mà còn là những hạt nhân tiên phong, có khả năng huy động sức mạnh tổng hợp từ doanh nghiệp, thanh niên và cộng đồng. Trong vài năm trở lại đây, kết quả chuyển đổi số trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk đạt được những kết quả ấn tượng. Hệ thống iGate, trục liên thông văn bản quốc gia đã được triển khai đến 100% các xã, phường. Đến tháng 3/2026, tỉnh Đắk Lắk đã hoàn thành kết nối, tích hợp, chia sẻ tài liệu số hóa giữa Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính cấp tỉnh với Kho quản lý dữ liệu điện tử của Cổng dịch vụ công quốc gia để phục vụ tái sử dụng kết quả số hóa giữa các hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính giúp người dân, doanh nghiệp chỉ cung cấp thông tin một lần. Thực hiện kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính của tỉnh với Cơ sở dữ liệu quốc gia, Cơ sở dữ liệu chuyên ngành phục vụ cung ứng dịch vụ công. Cổng Dịch vụ công của tỉnh đã công khai toàn bộ 2.099 thủ tục hành chính, trong đó có 2.039 thủ tục hành chính đã tích hợp, cung cấp dịch vụ công trực tuyến. Từ ngày 01/7/2025 đến ngày 24/12/2025, hồ sơ trực tuyến nộp từ Cổng Dịch vụ công quốc gia là 534.403 hồ sơ thủ tục hành chính (trong đó, sở, ngành 154.441 hồ sơ trực tuyến, chiếm 28,8%; các xã, phường 379.962 hồ sơ trực tuyến, chiếm 71,1%) và 256.952 giao dịch thanh toán trực tuyến, với tổng số tiền hơn 100,4 tỷ đồng1. Kinh tế số và xã hội số cũng đạt được những kết quả tích cực. Những kết quả đạt được cho thấy, năng lực thực thi của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã đã được hiện thực hóa qua việc làm chủ công nghệ dữ liệu, thể hiện ở khả năng xây dựng hệ thống chỉ tiêu và vận hành Dashboard giám sát trực tuyến. Đây là một minh chứng cho sự chuyển dịch từ quản trị truyền thống sang quản trị dựa trên dữ liệu số thực thi. Các phong trào “Học tập số”, “Đảng viên tiên phong học tập kỹ năng số”, “Bình dân học vụ số” đã tạo nên một luồng sinh khí mới, giúp củng cố cả ba trụ cột, gồm: nhận thức nhạy bén, kỹ năng thuần thục và ý thức trách nhiệm chính trị.

Bên cạnh những bước tiến đột phá, năng lực số của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã tại tỉnh Đắk Lắk vẫn đang đối mặt với những điểm nghẽn chưa được tháo gỡ triệt để, như:

Thứ nhất, nút thắt trong tư duy và thái độ thích ứng. Đa số cán bộ, công chức cấp xã vẫn đang dừng lại ở tư duy số hóa, tức là chuyển dữ liệu từ giấy sang máy tính một cách cơ học. Thay vì thiết kế một quy trình số hoàn toàn từ khâu tiếp nhận đến trả kết quả, vẫn còn tình trạng cán bộ, công chức yêu cầu người dân nộp hồ sơ giấy rồi mới nhập liệu vào hệ thống. Một bộ phận cán bộ, công chức nhận thức rằng, làm trên giấy thì dễ sửa, làm trên mạng lỡ sai không xóa được. Sự cứng nhắc trong tư duy này khiến họ e ngại việc phê duyệt hồ sơ trực tuyến hoặc sử dụng chữ ký số. Vẫn còn hiện tượng tư duy cục bộ trong đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã. Công chức tư pháp, địa chính hay văn phòng ở cấp xã thường có xu hướng bảo mật dữ liệu của ngành mình, thiếu tư duy kết nối và chia sẻ. Họ chưa nhận thức được rằng dữ liệu “sống, sạch, đủ, đúng” là chìa khóa để ra quyết định quản lý chính xác. Một bộ phận cán bộ, công chức lớn tuổi có tâm lý “ngại” tiếp cận các nền tảng mới, như: trợ lý ảo AI, chữ ký số chuyên dùng hoặc các quy trình an toàn thông tin khắt khe.

Thứ hai, trình độ chuyên môn về công nghệ của cán bộ, công chức cấp xã tỉnh Đắk Lắk còn thấp. Tổng số cán bộ, công chức cấp xã tỉnh Đắk Lắk (tính đến ngày 30/12/2025) là 4.067 người, thể hiện qua bảng số liệu sau2:

Bảng 1. Thực trạng cán bộ, công chức cấp xã tỉnh Đắk Lắk năm 2025

Theo trình độ đào tạoTheo dân tộcTheo trình độ tin học
Tiến sĩThạc sĩ Đại họcCao đẳng, trung cấp Kinh Dân tộc thiểu sốĐại học trở lênTrung cấp, cao đẳngChứng chỉ
046234841213617450931363641
Nguồn: Sở Nội vụ tỉnh Đắk Lắk, 2025.

Sau khi thực hiện sáp nhập, mặc dù biên chế của các đơn vị tăng lên nhưng vẫn có sự thiếu hụt lớn về nhân lực chuyển đổi số, công nghệ thông tin. Lực lượng cán bộ, công chức có chuyên môn công nghệ thông tin chủ yếu là kiêm nhiệm, không đủ năng lực để quản lý, vận hành các hệ thống thông tin hiện đại. Số lượng cán bộ, công chức cấp xã có trình độ tin học từ trung cấp trở lên chỉ có 229 người, dẫn đến việc xử lý các sự cố kỹ thuật hoặc triển khai các phần mềm phức tạp còn lúng túng. Đây là một trong những rào cản đối với quá trình chuyển đổi số ở cấp xã. Một bộ phận cán bộ, công chức cấp xã không nắm rõ phạm vi quyền hạn, chưa được tập huấn đầy đủ kỹ năng nghiệp vụ, dẫn đến tình trạng né tránh trách nhiệm hoặc xử lý máy móc, thiếu linh hoạt, nhất là từ sau khi sáp nhập tỉnh và xã3.  

Thứ ba, năng lực khai thác và quản trị thông tin, dữ liệu của cán bộ, công chức cấp xã còn nhiều hạn chế. Tại tỉnh Đắk Lắk hiện nay, cán bộ, công chức chủ yếu thực hiện chức năng nhập liệu mà thiếu kỹ năng phân tích dữ liệu để dự báo tình hình, như: biến động dân cư, nhu cầu đào tạo nghề hay tình hình dịch bệnh tại địa phương. Thay vì chủ động tìm hiểu các giải pháp công nghệ để giải quyết bài toán của địa phương, cán bộ, công chức thường có tư duy thụ động, chờ cấp trên tập huấn, chờ phần mềm được cài đặt sẵn.

Cán bộ, công chức cấp xã chưa coi dữ liệu là một thực thể sống. Dữ liệu thường chỉ được thu thập và nhập liệu vào hệ thống theo từng đợt cao điểm hoặc khi có yêu cầu báo cáo từ cấp trên. Sau khi hoàn thành, họ ít có thói quen duy trì, cập nhật biến động định kỳ. Hệ quả là tình trạng số liệu trên hệ thống Dashboard của tỉnh khác xa với thực tế tại địa phương. Điều này làm mất đi giá trị cốt lõi của quản trị số là tính thời gian thực.

Thứ tư, kỹ năng vận hành, giải quyết vấn đề trên môi trường số chưa thành thạo, chưa đáp ứng được yêu cầu công việc thực tế. Kỹ năng làm sạch và xử lý dữ liệu thô còn yếu. Cán bộ, công chức thường gặp khó khăn trong việc phát hiện các dữ liệu trùng lặp, sai lệch hoặc thiếu logic giữa các trường thông tin. Kỹ năng sử dụng các công cụ bổ trợ để sàng lọc, phân loại và chuẩn hóa dữ liệu trước khi đưa vào hệ thống dùng chung còn rất hạn chế. Cán bộ, công chức có xu hướng tin tưởng tuyệt đối vào máy móc mà thiếu năng lực thẩm định bằng nghiệp vụ, làm sai lệch các quyết sách dựa trên dữ liệu ở cấp cao hơn.

Kỹ năng khai thác các cơ sở dữ liệu quốc gia, như: dân cư, bảo hiểm, đất đai để phục vụ cho công tác chuyên môn tại chỗ còn lúng túng. Cán bộ có thể thành thạo việc nhập số liệu vào phần mềm nhưng lại không biết cách khai thác các báo cáo, biểu đồ từ chính dữ liệu đó để phục vụ công tác tham mưu, quản lý. Nhiều cán bộ vẫn giữ thói quen xử lý hồ sơ giấy rồi mới số hóa đối phó trên hệ thống, thay vì thực hiện quy trình số ngay từ đầu. Khả năng sử dụng các công cụ Dashboard giám sát hoặc liên thông dữ liệu giữa các ngành tư pháp, công an, địa chính, lao động – thương binh và xã hội còn hạn chế, dẫn đến việc dữ liệu đôi khi bị sai lệch hoặc cập nhật chậm.

Thứ năm, khả năng bảo đảm an toàn và bảo mật thông tin của cán bộ, công chức cấp xã chưa cao. Mặc dù, đa số cán bộ, công chức cấp xã tại Đắk Lắk đã ý thức được tầm quan trọng của an toàn thông tin nhưng sự chuyển hóa từ nhận thức thành hành vi thực tế vẫn còn chậm. Phần lớn cán bộ, công chức chỉ dừng lại ở việc tuân thủ các quy định bề nổi, như: đặt mật khẩu cho máy tính hay sử dụng email công vụ.

Tình trạng thiếu hụt công chức chuyên trách công nghệ thông tin tại cấp cơ sở. Hầu hết nhiệm vụ bảo đảm an toàn thông tin do công chức Thống kê kiêm nhiệm. Do không được đào tạo bài bản về an ninh mạng, họ thường lúng túng khi hệ thống gặp sự cố kỹ thuật hoặc có dấu hiệu bị xâm nhập. Năng lực của đội ngũ này chủ yếu dừng lại ở mức độ biết vận hành phần mềm nhưng thiếu kỹ năng phân tích rủi ro, kiểm soát mã độc hay cấu hình bảo mật hạ tầng mạng. Điều này tạo ra một vùng trũng về an ninh khi các cuộc tấn công mạng hiện nay thường nhắm vào mắt xích yếu nhất trong hệ thống chính quyền số. Cùng với đó, hạ tầng viễn thông, thiết bị máy móc tại nhiều xã vùng sâu, vùng xa còn lạc hậu, máy tính cũ, kết nối internet thiếu ổn định, gây khó khăn cho việc triển khai các giải pháp bảo mật tập trung từ tỉnh xuống cấp xã.

4. Một số giải pháp

Một là, xây dựng khung năng lực số cho cán bộ, công chức cấp xã tỉnh Đắk Lắk. Để hình thành năng lực số, Sở Nội vụ, chính quyền cấp xã cần chủ động xây dựng, đề xuất, tham mưu cho Ủy ban nhân dân tỉnh xây dựng khung năng lực số cho cán bộ, công chức cấp xã. Ngoài năng lực chuyên môn, cán bộ, công chức cần có năng lực số. Khung năng lực số phải bao gồm các trụ cột cơ bản: năng lực nhận thức và tư duy số; năng lực khai thác và quản trị thông tin, dữ liệu; kỹ năng vận hành, giải quyết vấn đề trên môi trường số; năng lực bảo đảm an toàn và bảo mật thông tin.

Hai là, rà soát, đánh giá đúng thực trạng năng lực số của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã hiện có. Chính quyền tỉnh Đắk Lắk cần rà soát lại toàn bộ năng lực hiện có của đội ngũ cán bộ, công chức. Đánh giá thực trạng năng lực cán bộ, công chức cấp xã về trình độ chuyên môn, kỹ năng công nghệ thông tin, nhận thức về chuyển đổi số, năng lực quản lý, thái độ phục vụ, phát hiện khoảng trống năng lực giữa yêu cầu của chính quyền số và trình độ hiện tại làm căn cứ để thiết kế chương trình đào tạo, bồi dưỡng phù hợp; sắp xếp, luân chuyển, bố trí lại nhân sự; lập kế hoạch hỗ trợ kỹ thuật hoặc đầu tư hạ tầng.

Ba là, hình thành tư duy số và nâng cao khả năng thích ứng với công nghệ mới của cán bộ, công chức cấp xã. Tư duy số không chỉ là việc biết sử dụng công nghệ mà còn là sẵn sàng thay đổi để thích nghi với môi trường số; hiểu được giá trị của dữ liệu, công nghệ và tự động hóa trong quản lý và phục vụ người dân; làm việc thông minh, linh hoạt, tận dụng các công cụ số để nâng cao hiệu quả công việc. Để hình thành được tư duy số, đầu tiên phải bắt đầu từ công tác đào tạo, bồi dưỡng có hệ thống, không chỉ dừng lại ở những khóa tập huấn kỹ thuật ngắn hạn mà cần lồng ghép tư duy chuyển đổi số vào nội dung đào tạo chính trị, nghiệp vụ thường xuyên. Lãnh đạo cấp xã phải làm gương trong ứng dụng công nghệ, khuyến khích cán bộ, công chức đổi mới sáng tạo; đồng thời, ghi nhận, biểu dương những cá nhân tiên phong trong quá trình số hóa công việc.

Một khía cạnh quan trọng khác là xây dựng môi trường làm việc số hóa, nơi mà mọi quy trình, hồ sơ và dữ liệu được xử lý trên nền tảng số, qua đó tạo điều kiện cho cán bộ, công chức hình thành thói quen làm việc số. Thêm vào đó, chính quyền nên xem xét đưa tiêu chí ứng dụng công nghệ vào đánh giá công vụ của cán bộ, công chức và thúc đẩy xây dựng cộng đồng học tập, chia sẻ tri thức trong đội ngũ cán bộ, công chức nhằm nâng cao khả năng tiếp cận và thích ứng với sự phát triển công nghệ.

Bốn là, đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng, bảo đảm phù hợp với khung năng lực số của cán bộ, công chức cấp xã. Trong thời gian tới, Sở Nội vụ, Ủy ban nhân dân cấp xã cần tập trung vào một số việc như: rà soát, đánh giá tổng thể về năng lực, kết quả thực hiện nhiệm vụ và phân tích nhu cầu đào tạo để phân loại đối tượng bồi dưỡng theo năng lực; tiếp tục hoàn thiện hệ thống vị trí việc làm, các bản mô tả công việc, khung năng lực để làm căn cứ bồi dưỡng theo năng lực; xây dựng chương trình, nội dung, phương pháp bồi dưỡng phù hợp, thích ứng với yêu cầu mới của thực tiễn công tác và chính quyền số; thiết lập mạng lưới giảng viên bồi dưỡng cán bộ, công chức có chất lượng; theo dõi và đánh giá sau các khóa bồi dưỡng.

Các chương trình bồi dưỡng theo vị trí việc làm nhằm nâng cao năng lực số cần tập trung trang bị cho cán bộ, công chức: kiến thức cơ bản về công nghệ số; kỹ năng sử dụng công cụ số; tư duy số; kỹ năng an toàn thông tin; kỹ năng làm việc trong môi trường số. Các chương trình, nội dung bồi dưỡng theo năng lực cần được thiết kế theo hướng cá thể hóa, phù hợp với từng nhóm đối tượng cán bộ, công chức, với từng nhóm năng lực. Để làm được điều này, chính quyền cấp xã và cấp tỉnh phải phối hợp với cơ sở đào tạo nhằm xác định rõ mục tiêu, nội dung, phương pháp đào tạo.

5. Kết luận

Nâng cao năng lực số cho đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã là một hành trình dài hạn và có tính hệ thống. Đối với một địa bàn có nhiều đặc thù như tỉnh Đắk Lắk, các giải pháp được đề xuất trong bài viết cần được thực hiện một cách thực chất. Khi rào cản về kỹ năng số được gỡ bỏ, cán bộ, công chức sẽ trở thành những “hạt nhân” dẫn dắt người dân cùng tham gia vào công cuộc chuyển đổi số. Đây là nền tảng vững chắc để tỉnh Đắk Lắk thực hiện thành công mục tiêu xây dựng chính quyền số.

Chú thích:
1. Ban Chỉ đạo của UBND tỉnh Đắk Lắk về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và Đề án 06 (2025). Báo cáo số 0176/BC-BCĐ ngày 29/12/2025 về kết quả thực hiện các nhiệm vụ về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, cải cách hành chính và Đề án 06 trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk trong năm 2025, phương hướng, nhiệm vụ năm 2026;
2, 3. Sở Nội vụ tỉnh Đắk Lắk (2026). Báo cáo số 1167/SNV-CCVC ngày 06/3/2026 về việc thống kê ngành Nội vụ năm 2025.
Tài liệu tham khảo:
1. Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk (2025). Quyết định số 02239/QĐ-UBND ngày 04/12/2025 về việc phê duyệt Chiến lược Chuyển đổi số tỉnh Đắk Lắk – Lấy phát triển dữ liệu số làm trọng tâm giai đoạn 2025 – 2030.
2. Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk (2025). Kế hoạch số 95/KH-UBND ngày 25/3/2026 về chuyển đổi số tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2026 – 2030.
3. Bồi dưỡng, nâng cao năng lực công tác cho đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, phường, đặc khu đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ triển khai vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp hiện nay. https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/thuc-tien-kinh-nghiem1/-/2018/1124602/boi-duong%2C-nang-cao-nang-luc-cong-tac-cho-doi-ngu-can-bo%2C-cong-chuc-cap-xa%2C-phuong%2C-dac-khu-dap-ung-yeu-cau%2C-nhiem-vu-trien-khai-van-hanh-mo-hinh-chinh-quyen-dia-phuong-hai-cap-hien-nay.aspx
4. Yêu cầu năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trong bối cảnh vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp. https://www.quanlynhanuoc.vn/2026/03/24/yeu-cau-nang-luc-cua-doi-ngu-can-bo-cong-chuc-cap-xa-trong-boi-canh-van-hanh-mo-hinh-chinh-quyen-dia-phuong-hai-cap/