Phát huy vai trò của Đảng bộ Quân đội trong chỉ đạo công tác vận tải quân sự giai đoạn 1969 – 1973: vận dụng vào xây dựng đội ngũ cán bộ vận tải quân sự hiện nay

Leveraging the role of the Party Committee of the Army in directing military transport work during the period 1969-1973: Applying this to building the current military transport officer corps.

Thiếu tá Trần Tuấn Anh
Hệ 5, Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng

(Quanlynhanuoc.vn) – Giai đoạn 1969-1973 là thời kỳ đặc biệt quan trọng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, khi công tác vận tải quân sự giữ vai trò then chốt bảo đảm chi viện chiến lược cho các chiến trường. Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng bộ Quân đội, công tác vận tải đã phát triển vượt bậc cả về tổ chức, lực lượng và phương thức hoạt động, góp phần vào thắng lợi của quân và dân ta trên chiến trường. Bài viết phân tích vai trò lãnh đạo của Đảng bộ Quân đội trong chỉ đạo công tác vận tải quân sự giai đoạn này, rút ra bài học kinh nghiệm và đề xuất vận dụng trong xây dựng đội ngũ cán bộ vận tải quân sự hiện nay.

Từ khóa: Đảng bộ Quân đội; vận tải quân sự; cán bộ vận tải; xây dựng đội ngũ cán bộ.

Abstract: The period 1969 – 1973 was a particularly crucial time in the resistance war against the US, when military transport played a key role in ensuring strategic support for the battlefields. Under the direct leadership of the Party Committee of the Army, transport work developed remarkably in terms of organization, personnel, and operational methods, contributing to the victories of our army and people on the battlefield. This article analyzes the leadership role of the Party Committee of the Army in directing military transport work during this period, draws lessons learned, and proposes applications for building the current military transport officer corps.

Keywords: Party Committee of the Army; military transport; transport officer; building a cadre of officers

1. Đặt vấn đề

Trong chiến tranh hiện đại, vận tải quân sự là “mạch máu” bảo đảm cho hoạt động tác chiến, giữ vai trò quyết định đối với khả năng cơ động lực lượng, bảo đảm hậu cần – kỹ thuật và duy trì sức chiến đấu của quân đội. Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đặc biệt giai đoạn 1969–1973, yêu cầu chi viện cho chiến trường miền Nam, Lào, Campuchia ngày càng lớn, đặt ra nhiệm vụ nặng nề đối với công tác vận tải quân sự. Nghị quyết số 188-NQ/TW ngày 10/5/1969 của Bộ Chính trị, khẳng định: “giao thông vận tải là một nhiệm vụ cực kỳ quan trọng… Phải ra sức khôi phục và phát triển giao thông vận tải là một nhiệm vụ rất cấp thiết và trọng yếu để bảo đảm yêu cầu vận chuyển cho chiến tranh và cho kinh tế”1.

Thực tiễn cho thấy, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ Quân đội, công tác vận tải quân sự đã có bước phát triển vượt bậc, góp phần quan trọng vào thắng lợi chung của cuộc kháng chiến. Việc nghiên cứu, làm rõ vai trò lãnh đạo của Đảng bộ Quân đội trong giai đoạn này có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc, đặc biệt trong xây dựng đội ngũ cán bộ vận tải quân sự hiện nay.

2. Vai trò của Đảng bộ Quân đội trong chỉ đạo công tác vận tải quân sự (1969 – 1973)

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đặc biệt giai đoạn 1969 – 1973, công tác vận tải quân sự giữ vị trí đặc biệt quan trọng, là “mạch máu” bảo đảm cho hoạt động tác chiến trên các chiến trường. “Công tác vận tải quân sự là một mặt công tác trọng yếu của việc bảo đảm hậu cần cho bộ đội xây dựng và chiến đấu; trong thời chiến, nó là cái cầu nối liền hậu phương với tiền tuyến, góp phần bảo đảm vật chất kỹ thuật để chiến thắng quân thù trên chiến trường”2. Thực tiễn cho thấy, sự phát triển mạnh mẽ và hiệu quả của công tác vận tải quân sự trong giai đoạn này gắn liền với vai trò lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng bộ Quân đội. Vai trò đó được thể hiện trên một số nội dung chủ yếu sau:

Một là, định hướng chiến lược đúng đắn, kịp thời đối với công tác vận tải quân sự. Đảng bộ Quân đội đã quán triệt sâu sắc đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng, xác định rõ vị trí, vai trò của công tác vận tải trong bảo đảm hậu cần chiến lược. Trên cơ sở đó, nhiều chủ trương, nghị quyết quan trọng được ban hành nhằm nâng cao năng lực vận tải, đáp ứng yêu cầu chi viện ngày càng lớn cho chiến trường. Đặc biệt, Đảng bộ đã chỉ đạo chuyển hướng tổ chức vận tải từ phân tán sang quy mô lớn, có sự hiệp đồng chặt chẽ giữa các lực lượng, kết hợp nhiều phương thức vận chuyển. Việc xây dựng và phát triển tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn thành hệ thống liên hoàn, đa tuyến, đa phương thức là biểu hiện rõ nét của tầm nhìn chiến lược đúng đắn, góp phần tạo nên bước phát triển vượt bậc về năng lực vận tải quân sự.

Hai là, lãnh đạo xây dựng lực lượng vận tải vững mạnh toàn diện. Đảng bộ Quân đội đặc biệt coi trọng việc xây dựng lực lượng vận tải cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức và kỹ thuật. Thông qua hệ thống tổ chức đảng trong các đơn vị vận tải, công tác giáo dục chính trị, tư tưởng được tăng cường, góp phần nâng cao bản lĩnh, ý chí quyết tâm cho cán bộ, chiến sĩ. Bên cạnh đó, Đảng bộ đã chỉ đạo kiện toàn tổ chức, biên chế, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, nhân viên chuyên môn kỹ thuật; đồng thời tăng cường trang bị, phương tiện và bảo đảm kỹ thuật. Nhờ đó, lực lượng vận tải quân sự không ngừng trưởng thành, đủ sức đảm đương nhiệm vụ vận chuyển quy mô lớn trong điều kiện chiến tranh ác liệt.

Ba là, chỉ đạo tổ chức vận tải linh hoạt, sáng tạo, phù hợp với điều kiện chiến trường. Trước sự đánh phá ác liệt của địch, Đảng bộ Quân đội đã chỉ đạo các lực lượng vận tải phát huy cao độ tính chủ động, sáng tạo trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ. Nhiều biện pháp linh hoạt được áp dụng như tổ chức vận chuyển ban đêm, phân tán lực lượng, ngụy trang, nghi binh, mở đường tránh, đường vòng… Việc kết hợp nhiều phương thức vận tải (cơ giới, thô sơ, đường sông, đường ống xăng dầu…) đã tạo nên mạng lưới vận tải đa dạng, bảo đảm tính liên tục và an toàn. Đây là biểu hiện sinh động của nghệ thuật tổ chức vận tải quân sự dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Bốn là, chỉ đạo xây dựng và phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng vận tải chiến lược. Đảng bộ Quân đội đã tập trung lãnh đạo xây dựng, củng cố hệ thống giao thông vận tải chiến lược, đặc biệt là tuyến đường Trường Sơn. Hệ thống đường sá, cầu cống, bến bãi, kho tàng, trạm trung chuyển được mở rộng và hoàn thiện, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động vận chuyển. Một bước đột phá quan trọng là việc xây dựng hệ thống đường ống dẫn xăng dầu xuyên Trường Sơn, góp phần nâng cao hiệu quả vận chuyển nhiên liệu, giảm tải cho vận tải đường bộ và tăng khả năng bảo đảm hậu cần cho chiến trường.

Năm là bảo đảm sự hiệp đồng chặt chẽ giữa các lực lượng trong quá trình vận tải. Đảng bộ Quân đội đã chỉ đạo tổ chức hiệp đồng chặt chẽ giữa lực lượng vận tải với các lực lượng công binh, phòng không, thông tin liên lạc và hậu cần. Nhờ đó, hình thành thế trận bảo đảm toàn diện, đồng bộ, giúp duy trì hoạt động liên tục của hệ thống vận tải trong mọi tình huống. Khi tuyến vận tải bị đánh phá, các lực lượng đã phối hợp kịp thời trong việc khắc phục hậu quả, sửa chữa đường sá, bảo vệ phương tiện, bảo đảm thông suốt giao thông. Sự hiệp đồng chặt chẽ này là yếu tố quan trọng giúp giữ vững “mạch máu” vận tải chiến lược.

Sáu là, lãnh đạo công tác bảo đảm chính trị, tư tưởng, tạo động lực tinh thần to lớn. Đảng bộ Quân đội đặc biệt chú trọng công tác Đảng, công tác chính trị trong lực lượng vận tải. Việc giáo dục lý tưởng cách mạng, tinh thần yêu nước, ý chí quyết tâm chiến đấu đã tạo nên động lực tinh thần mạnh mẽ, giúp cán bộ, chiến sĩ vượt qua mọi khó khăn, gian khổ. Những phong trào thi đua, khẩu hiệu hành động như “tất cả vì tiền tuyến”, “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” đã trở thành nguồn cổ vũ to lớn, góp phần nâng cao hiệu quả công tác vận tải quân sự.

Có thể khẳng định, vai trò của Đảng bộ Quân đội trong chỉ đạo công tác vận tải quân sự giai đoạn 1969 – 1973 được thể hiện toàn diện trên cả phương diện chiến lược, tổ chức lực lượng và thực tiễn triển khai nhiệm vụ. Sự lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng bộ Quân đội đã biến công tác vận tải quân sự thành một sức mạnh chiến lược, góp phần quan trọng vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

3. Một số bài học kinh nghiệm

Thứ nhất, giữ vững sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp của Đảng đối với công tác vận tải quân sự.Thực tiễn công tác vận tải quân sự giai đoạn 1969 – 1973 khẳng định rõ ràng rằng sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng bộ Quân đội là nhân tố quyết định bảo đảm cho hệ thống vận tải chiến lược hoạt động thông suốt, hiệu quả trong điều kiện chiến tranh ác liệt. Đây không chỉ là nguyên tắc cơ bản trong xây dựng quân đội cách mạng mà còn là yếu tố then chốt tạo nên sức mạnh tổng hợp trong tổ chức và thực hiện nhiệm vụ vận tải quân sự.

Thứ hai, phát huy tính chủ động, sáng tạo trong tổ chức thực hiện công tác vận tải quân sự. Trong điều kiện chiến tranh ác liệt, địch đánh phá liên tục, yêu cầu nhiệm vụ biến động nhanh và phức tạp, việc phát huy tính chủ động, sáng tạo trong tổ chức thực hiện là yếu tố đặc biệt quan trọng, quyết định hiệu quả của toàn bộ hệ thống vận tải quân sự. Đây không chỉ là yêu cầu mang tính phương pháp mà còn là biểu hiện sinh động của nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng. Phát huy tính chủ động, sáng tạo trong tổ chức thực hiện không chỉ giúp nâng cao hiệu quả công tác vận tải quân sự mà còn tạo nên sức mạnh linh hoạt, thích ứng cao trước mọi tình huống.

Thứ ba, xây dựng lực lượng vận tải vững mạnh toàn diện là nhân tố nền tảng bảo đảm cho việc hoàn thành nhiệm vụ chi viện chiến lược trong điều kiện chiến tranh khốc liệt. Nó không chỉ là yêu cầu về tổ chức lực lượng mà còn là quá trình xây dựng đồng bộ cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức, con người và trang bị kỹ thuật, tạo nên sức mạnh tổng hợp của lực lượng vận tải quân sự. Đồng thời, đây là yêu cầu mang tính chiến lược, lâu dài, quyết định trực tiếp đến hiệu quả công tác vận tải quân sự.

Thứ tư, bảo đảm hiệp đồng chặt chẽ giữa các lực lượng vận tải trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Thực tiễn công tác vận tải quân sự giai đoạn 1969 – 1973 cho thấy, trong điều kiện chiến tranh ác liệt, quy mô vận chuyển lớn, địa bàn hoạt động rộng và phức tạp, việc bảo đảm hiệp đồng chặt chẽ giữa các lực lượng là yếu tố đặc biệt quan trọng, quyết định trực tiếp đến hiệu quả và tính liên tục của toàn bộ hệ thống vận tải chiến lược. Hiệp đồng không chỉ là sự phối hợp đơn thuần mà còn là quá trình tổ chức, điều hành thống nhất, nhịp nhàng giữa nhiều lực lượng, nhiều cấp, nhiều ngành trong cùng một mục tiêu chung.

4. Vận dụng trong xây dựng đội ngũ cán bộ vận tải quân sự hiện nay

Một là, nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức cho đội ngũ cán bộ vận tải đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới

Trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực diễn biến nhanh chóng, phức tạp; Nghị quyết Đại hội XIV tiếp tục khẳng định: “Xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; ưu tiên hiện đại hoá một số quân chủng, binh chủng, lực lượng”3. Do đó, việc nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức cho đội ngũ cán bộ vận tải quân sự có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Đây không chỉ là yêu cầu trước mắt mà còn mang tính chiến lược lâu dài, quyết định đến chất lượng thực hiện nhiệm vụ bảo đảm vận tải trong mọi tình huống.

Trước hết, cần tăng cường giáo dục, bồi dưỡng, nâng cao nhận thức chính trị, củng cố niềm tin tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, vào mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Nội dung giáo dục phải quán triệt sâu sắc quan điểm, đường lối quốc phòng, quân sự của Đảng; nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; đồng thời làm rõ vị trí, vai trò của công tác vận tải quân sự trong bảo đảm hậu cần cho tác chiến hiện đại. Chú trọng rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, xây dựng lối sống trong sạch, lành mạnh, đề cao tinh thần trách nhiệm, ý thức tổ chức kỷ luật và tính gương mẫu của cán bộ. Cần gắn việc rèn luyện đạo đức với thực hiện các phong trào thi đua, cuộc vận động trong quân đội; đồng thời, tăng cường tự phê bình và phê bình, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh trong đơn vị.

Kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục chính trị, tư tưởng với rèn luyện trong thực tiễn nhiệm vụ. Thực tiễn luôn là môi trường tốt nhất để kiểm nghiệm và nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức của cán bộ. Đồng thời, phát huy vai trò của tổ chức Đảng, cấp ủy, chỉ huy các cấp trong quản lý, giáo dục và rèn luyện cán bộ. Cấp ủy, tổ chức Đảng cần thường xuyên nắm chắc tình hình tư tưởng, kịp thời định hướng, uốn nắn những biểu hiện lệch lạc, làm tốt công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá cán bộ một cách khách quan, toàn diện. Chủ động đấu tranh phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Nâng cao “sức đề kháng” tư tưởng, khả năng nhận diện và phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; đồng thời xây dựng môi trường thông tin lành mạnh, định hướng đúng đắn trong đơn vị.

Hai là, đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ vận tải quân sự

Trong bối cảnh chuyển đổi số, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học – công nghệ và yêu cầu tác chiến hiện đại, công tác vận tải quân sự đang có những biến đổi sâu sắc cả về nội dung, phương thức và môi trường hoạt động. Do đó, chú trọng đổi mới mục tiêu, nội dung đào tạo theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa và sát với thực tiễn nhiệm vụ. Chương trình đào tạo phải được xây dựng trên cơ sở tiếp cận năng lực, bảo đảm trang bị cho cán bộ không chỉ kiến thức chuyên môn về vận tải quân sự mà còn cả năng lực quản lý, điều hành logistics hiện đại, khả năng tổ chức vận tải đa phương thức và thích ứng linh hoạt với các tình huống tác chiến. Nội dung đào tạo cần cập nhật kịp thời những thành tựu mới của khoa học – công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, tự động hóa trong lĩnh vực vận tải.

Đổi mới phương pháp đào tạo theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học. Cần chuyển mạnh từ phương pháp truyền thụ một chiều sang tổ chức dạy học tích cực, lấy người học làm trung tâm; tăng cường thảo luận, xử lý tình huống, học theo dự án và mô phỏng các kịch bản vận tải trong điều kiện chiến tranh công nghệ cao. Gắn đào tạo với thực tiễn đơn vị và yêu cầu nhiệm vụ. Cần tăng cường tổ chức thực hành, thực tập tại các đơn vị vận tải, các tuyến vận tải trọng điểm; kết hợp chặt chẽ giữa đào tạo trong nhà trường với rèn luyện trong đơn vị. Thông qua thực tiễn, cán bộ được củng cố kiến thức, tích lũy kinh nghiệm, nâng cao năng lực xử trí tình huống và khả năng tổ chức chỉ huy trong điều kiện phức tạp.

Chú trọng bồi dưỡng theo chức danh, vị trí việc làm và yêu cầu phát triển lâu dài. Công tác bồi dưỡng cần được tiến hành thường xuyên, liên tục, có trọng tâm, trọng điểm; chú ý bồi dưỡng cán bộ trẻ, cán bộ nguồn, cán bộ chủ trì các cấp. Nội dung bồi dưỡng phải thiết thực, cập nhật, tập trung vào những kỹ năng còn thiếu, yếu như: quản lý vận tải bằng công nghệ số, tổ chức hiệp đồng liên ngành, xử lý tình huống khẩn cấp, bảo đảm an toàn trong vận tải. Đồng thời, tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị đào tạo theo hướng hiện đại. Mở rộng hợp tác, trao đổi kinh nghiệm trong và ngoài quân đội về đào tạo vận tải và logistics. Việc tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm tiên tiến, phù hợp với điều kiện thực tiễn của Quân đội nhân dân Việt Nam sẽ góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ vận tải.

Ba là, phát huy vai trò của tổ chức Đảng trong xây dựng đội ngũ cán bộ vận tải quân sự hiện nay

Trong Quân đội nhân dân Việt Nam, tổ chức Đảng giữ vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt; là nhân tố quyết định đến chất lượng xây dựng đội ngũ cán bộ nói chung và cán bộ vận tải quân sự nói riêng. Trước yêu cầu xây dựng quân đội hiện đại, công tác vận tải quân sự ngày càng đặt ra những đòi hỏi cao về trình độ, năng lực và bản lĩnh của đội ngũ cán bộ. Vì vậy, cấp ủy, tổ chức Đảng cần tăng cường lãnh đạo, quán triệt sâu sắc các nghị quyết, chỉ thị của Đảng về công tác cán bộ và nhiệm vụ quân sự, quốc phòng trong tình hình mới. Trên cơ sở đó, cụ thể hóa thành chủ trương, biện pháp phù hợp với đặc thù của lực lượng vận tải quân sự; bảo đảm công tác xây dựng đội ngũ cán bộ vận tải luôn đi đúng định hướng chính trị, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.

Đồng thời, nâng cao chất lượng công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng cán bộ vận tải quân sự. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và quản lý cán bộ. Đây là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm đội ngũ cán bộ vận tải giữ vững phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống và chấp hành nghiêm kỷ luật quân đội. Quan âm phát huy vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ trì các cấp trong lực lượng vận tải. Sự gương mẫu về phẩm chất, đạo đức, lối sống và phong cách công tác của cán bộ chủ trì có tác động lan tỏa mạnh mẽ, góp phần xây dựng tập thể đơn vị đoàn kết, thống nhất, hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Gắn xây dựng đội ngũ cán bộ vận tải với xây dựng tổ chức Đảng trong sạch, vững mạnh. Chất lượng đội ngũ cán bộ phụ thuộc chặt chẽ vào chất lượng lãnh đạo của tổ chức Đảng. Do đó, cần thường xuyên củng cố, kiện toàn tổ chức Đảng; nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của cấp ủy, chi bộ; thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình, giữ vững đoàn kết nội bộ. Quan tâm xây dựng môi trường chính trị, văn hóa lành mạnh trong các đơn vị vận tải quân sự. Xây dựng môi trường đơn vị có kỷ luật nghiêm, dân chủ, đoàn kết, thống nhất; phát huy tinh thần trách nhiệm, ý chí vượt khó, sáng tạo của cán bộ, chiến sĩ. Đây là điều kiện quan trọng để đội ngũ cán bộ vận tải phát triển toàn diện cả về phẩm chất và năng lực.

Bốn là, quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ vận quân sự tải đáp ứng yêu cầu hiệp đồng tác chiến hiện đại

Trong điều kiện chiến tranh hiện đại, việc xây dựng đội ngũ cán bộ vận tải quân sự có đủ phẩm chất, năng lực đáp ứng yêu cầu hiệp đồng tác chiến hiện đại là nhiệm vụ cấp thiết, có ý nghĩa quyết định đối với hiệu quả bảo đảm hậu cần và sức mạnh chiến đấu của quân đội. Trước hết, cần nâng cao nhận thức cho cán bộ vận tải về vai trò, vị trí của công tác vận tải trong tác chiến hiệp đồng hiện đại. Cán bộ vận tải không chỉ thực hiện nhiệm vụ bảo đảm đơn thuần mà còn phải tham gia trực tiếp vào quá trình lập kế hoạch, tổ chức và điều hành các hoạt động bảo đảm chiến dịch, chiến lược. Do đó, phải được trang bị tư duy tác chiến tổng hợp, hiểu biết sâu về nghệ thuật quân sự, nguyên tắc hiệp đồng giữa các lực lượng, từ đó chủ động phối hợp hiệu quả trong mọi tình huống.

Phát triển toàn diện năng lực tổ chức, chỉ huy và hiệp đồng của cán bộ vận tải. Trong môi trường tác chiến hiện đại, yêu cầu đặt ra đối với cán bộ vận tải là phải có khả năng tổ chức vận tải đa phương thức, quản lý luồng vận chuyển phức tạp, xử lý linh hoạt các tình huống phát sinh và bảo đảm an toàn tuyệt đối. Đồng thời, chú trọng bồi dưỡng năng lực ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trong hiệp đồng vận tải. Cán bộ vận tải cần làm chủ các hệ thống quản lý vận tải hiện đại, sử dụng hiệu quả các phần mềm điều hành, hệ thống định vị, giám sát hành trình, phân tích dữ liệu… Việc ứng dụng công nghệ sẽ giúp nâng cao khả năng dự báo, tối ưu hóa phương án vận tải và tăng cường hiệu quả hiệp đồng giữa các lực lượng.

Tăng cường huấn luyện, diễn tập hiệp đồng trong điều kiện sát thực tế chiến đấu. Thông qua các cuộc diễn tập liên quân, liên binh chủng, cán bộ vận tải được rèn luyện kỹ năng phối hợp, nâng cao khả năng xử lý tình huống trong môi trường tác chiến phức tạp, có đối kháng cao. Nội dung diễn tập cần đa dạng, bao quát các tình huống như: vận tải trong điều kiện bị đánh phá, bảo đảm vận tải trong chiến tranh công nghệ cao, hiệp đồng vận tải giữa các khu vực, các lực lượng. Xây dựng tác phong công tác khoa học, chính quy, kỷ luật nghiêm và khả năng thích ứng linh hoạt. Cán bộ vận tải phải có phong cách làm việc chuyên nghiệp, tư duy hệ thống, khả năng ra quyết định nhanh, chính xác; đồng thời, linh hoạt điều chỉnh kế hoạch khi tình huống thay đổi. Đây là yếu tố quan trọng bảo đảm duy trì hoạt động vận tải thông suốt trong mọi điều kiện.

5. Kết luận

Giai đoạn 1969 – 1973 đã ghi dấu vai trò đặc biệt quan trọng của Đảng bộ Quân đội trong lãnh đạo, chỉ đạo công tác vận tải quân sự, bảo đảm chi viện kịp thời, hiệu quả cho các chiến trường, góp phần quyết định vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Thực tiễn đó khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng là nhân tố hàng đầu bảo đảm cho công tác vận tải quân sự phát triển vững mạnh, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong mọi điều kiện, hoàn cảnh.

Những bài học kinh nghiệm được rút ra từ giai đoạn lịch sử này vẫn còn nguyên giá trị lý luận và thực tiễn trong xây dựng quân đội hiện nay. Trước yêu cầu xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, công tác vận tải quân sự tiếp tục giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Do đó, xây dựng đội ngũ cán bộ vận tải có đủ phẩm chất, năng lực, tư duy hiện đại, thích ứng nhanh với sự phát triển của khoa học – công nghệ và yêu cầu tác chiến mới là nhiệm vụ cấp thiết. Thực hiện tốt nội dung này sẽ góp phần nâng cao chất lượng bảo đảm hậu cần, tăng cường sức mạnh tổng hợp, đáp ứng yêu cầu bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.

Chú thích:
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (1969). Văn kiện Đảng toàn tập. Tập 30. H. NXB Chính trị quốc gia, tr.129.
2. Quân đội nhân dân Việt Nam (1971). Vị trí, đặc điểm, tính chất, nhiệm vụ và những quan điểm cơ bản của Đảng trong công tác hậu cần. Tài liệu học tập trung cấp, Hà Nội, tr. 9.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập II. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 279.
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Chính trị (2024). Quy định số 144-QĐ/TW ngày 09/5/2025 về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới.
2. Quân ủy Trung ương (2019). Nghị quyết số 109-NQ/QUTW ngày 11/02/2019 về xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội, nhất là cấp chiến dịch, chiến lược, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.
3. Quân ủy Trung ương (2022). Nghị quyết số 1658-NQ/QUTW ngày 20/12/2022 về công tác hậu cần quân đội đến năm 2030 và những năm tiếp theo.
4. Quân ủy Trung ương (2022). Nghị quyết số 1661-NQ/QUTW ngày 20/12/2022 về lãnh đạo công tác tài chính quân đội đến năm 2030.
5. Quân ủy Trung ương (2022). Nghị quyết số 1659-NQ/QUTW ngày 20/12/2022 về nâng cao chất lượng huấn luyện giai đoạn 2023-2030 và những năm tiếp theo.