Fostering the Role of Intellectuals in the Mekong Delta in Driving Current Sustainable Development
NCS Nguyễn Thị Kim Quế
Đại học Cần Thơ
(Quanlynhanuoc.vn) – Nghiên cứu đánh giá thực trạng và vai trò của đội ngũ trí thức đồng bằng sông Cửu Long trong thực hiện Nghị quyết số 13-NQ/TW. Đồng thời, bài viết làm rõ đóng góp của đội ngũ này khi chuyển dịch sang tư duy kinh tế nông nghiệp gắn với thích ứng với biến đổi khí hậu. Những bất cập về cơ cấu nhân lực và môi trường sáng tạo được nhận diện là rào cản chính hiện nay. Từ đó, đề xuất giải pháp chính sách nhằm phát huy năng lực trí tuệ của đội ngũ trí thức, thúc đẩy liên kết vùng và phát triển bền vững.
Từ khóa: Vai trò đội ngũ trí thức; đồng bằng sông Cửu Long; phát triển bền vững; tư duy kinh tế nông nghiệp; biến đổi khí hậu.
Abstract: This study assesses the current status and role of the Mekong Delta’s intellectual force in implementing Resolution No. 13-NQ/TW. Concurrently, the article clarifies this force’s contributions during the transition toward an agricultural economic mindset, coupled with climate change adaptation. Shortcomings in human resource structure and the creative environment are identified as the main current barriers. Based on these findings, the author proposes policy solutions to promote intellectual capacity, foster regional linkages, and drive sustainable development.
Keywords: Role of intellectuals; Mekong Delta; Sustainable development; Agricultural economic mindset; Climate change.
1. Đặt vấn đề
Đồng bằng sông Cửu Long giữ vị thế đặc biệt quan trọng trong chiến lược an ninh lương thực và xuất khẩu nông sản của Việt Nam. Tuy nhiên, vùng đang đứng trước những nghịch thế lớn từ biến đổi khí hậu, nước biển dâng và sự suy giảm tài nguyên nước thượng nguồn. Trước các nguy cơ này, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã chỉ rõ định hướng hành động thiết thực cho toàn Đảng và toàn dân là cần phải “nghiên cứu toàn diện tác động của biến đổi khí hậu cả nước, nhất là vùng đồng bằng sông Cửu Long…”1. Đồng thời, việc hoạch định các giải pháp mang tính thích ứng dài hạn cũng được đặc biệt nhấn mạnh tại Văn kiện Đại hội XIV của Đảng, đòi hỏi “tập trung xây dựng chương trình phát triển bền vững thích ứng với biến đổi khí hậu vùng, khu vực, như vùng đồng bằng sông Cửu Long”2.
Trong bối cảnh chuyển đổi số và kinh tế tri thức, đội ngũ trí thức không chỉ là nguồn nhân lực chất lượng cao mà còn là nhân tố quyết định khả năng thích ứng và đổi mới sáng tạo của vùng. Để đáp ứng với những yêu cầu thời đại, Đảng ta khẳng định mục tiêu “Xây dựng đội ngũ trí thức ngày càng lớn mạnh, có chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong tình hình mới”3. Nghị quyết số 13-NQ/TW ngày 02/4/2022 của Bộ Chính trị đã xác định mục tiêu phát triển đồng bằng sông Cửu Long hiện đại, sinh thái và bền vững. Để thực hiện lộ trình này, việc nhận diện đúng vai trò và tháo gỡ những điểm nghẽn trong quản lý nhà nước đối với đội ngũ trí thức là yêu cầu cấp thiết, nhằm chuyển hóa vốn tri thức thành động lực tăng trưởng kinh tế – xã hội. Song song với đó, hệ thống quản lý cũng cần chú trọng “đột phá mạnh mẽ về thể chế phát triển, nâng cao năng lực hoạch định và tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước để khơi thông, giải phóng và phát huy hiệu quả mọi nguồn lực”4, góp phần đưa vùng chuyển mình mạnh mẽ và bền vững hơn.
2. Đặc điểm đội ngũ trí thức và yêu cầu phát triển bền vững tại đồng bằng sông Cửu Long
Đội ngũ trí thức tại đồng bằng sông Cửu Long bao gồm các chuyên gia, nhà khoa học tại các viện, trường, lực lượng quản lý trong bộ máy nhà nước và đội ngũ kỹ thuật trong khu vực doanh nghiệp. Điểm đặc thù của lực lượng này là sự gắn kết chặt chẽ với thực tiễn sản xuất nông nghiệp và hệ sinh thái sông nước. Tuy nhiên, xét về mặt quản trị nguồn nhân lực, tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp tại đây vẫn thấp hơn mức trung bình cả nước, tạo ra rào cản trong việc tiếp nhận và vận hành các mô hình kinh tế hiện đại.
Phát triển bền vững đồng bằng sông Cửu Long không chỉ dừng lại ở các chỉ số tăng trưởng mà phải bảo đảm sự hài hòa giữa kinh tế, xã hội và môi trường theo quan điểm “thuận thiên nhiên” đã được khẳng định tại Nghị quyết số 120/NQ-CP của Chính phủ. Vai trò của trí thức trong giai đoạn này là cụ thể hóa các giải pháp kỹ thuật và tư vấn chính sách để giải quyết các xung đột giữa phát triển hạ tầng và bảo tồn sinh thái. Trí thức đóng vai trò là chủ thể kết nối giữa tri thức bản địa với công nghệ hiện đại, nhằm tạo ra những giá trị mới phù hợp với đặc điểm nhân văn và điều kiện tự nhiên của vùng.
3. Vai trò của đội ngũ trí thức trong các trụ cột phát triển bền vững
Thứ nhất, thúc đẩy chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế.
Đội ngũ trí thức tại các cơ sở đào tạo và nghiên cứu trọng điểm trong khu vực, như Trường Đại học Cần Thơ, Viện Lúa Đồng bằng sông Cửu Long… đóng vai trò then chốt trong việc chuyển dịch tư duy từ sản xuất nông nghiệp thuần túy sang kinh tế nông nghiệp. Sự tham gia của các chuyên gia đã thúc đẩy quá trình tái cơ cấu ngành theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển các chuỗi cung ứng bền vững. Trí thức lĩnh vực nông nghiệp thực hiện nhiệm vụ chuyển giao quy trình kỹ thuật để thay đổi thói quen thâm canh lúa ba vụ vốn gây kiệt quệ tài nguyên đất sang các mô hình xen canh hoặc luân canh thích ứng với hệ sinh thái mặn – lợ, như: lúa – tôm, lúa – cá.
Các nghiên cứu thực nghiệm đã chứng minh rằng, sự can thiệp của tri thức khoa học giúp người dân tối ưu hóa chi phí sản xuất thông qua việc giảm lượng giống, phân bón và thuốc bảo vệ thực vật. Cụ thể, việc áp dụng các quy trình canh tác đạt chuẩn giúp giảm từ 20% đến 30% chi phí đầu vào và nâng cao giá trị nông sản từ 15% đến 20% nhờ đáp ứng các tiêu chuẩn xuất khẩu khắt khe5. Bên cạnh đó, trí thức trong doanh nghiệp còn đóng vai trò dẫn dắt đổi mới sáng tạo, ứng dụng công nghệ chế biến sâu để giảm tỷ lệ hao hụt sau thu hoạch, từ đó tạo ra lợi thế cạnh tranh cho các sản phẩm chủ lực của vùng trên thị trường quốc tế.
Sự bứt phá này đòi hỏi chúng ta phải tiếp tục “phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu; là động lực then chốt để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế”6. Từ đó, lực lượng lao động nông nghiệp chất lượng cao sẽ trở thành chủ thể trung tâm nhằm “phát huy vai trò chủ thể của nông dân trong quá trình phát triển nông nghiệp, kinh tế nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới”7.
Thứ hai, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu và bảo vệ môi trường.
Đồng bằng sông Cửu Long là khu vực chịu tác động trực tiếp từ sự biến đổi dòng chảy sông Mê Công và hiện tượng nước biển dâng, đòi hỏi những giải pháp ứng phó dựa trên cơ sở khoa học chính xác. Đội ngũ trí thức thuộc các chuyên ngành thủy lợi, môi trường và hải dương học đã thiết lập các hệ thống quan trắc, xây dựng mô hình dự báo xâm nhập mặn với độ tin cậy cao, phục vụ công tác điều hành sản xuất của chính quyền địa phương. Thay vì can thiệp thô bạo vào tự nhiên, trí thức đã đề xuất các giải pháp “thuận thiên nhiên”, tận dụng nước mặn và nước lợ như một nguồn tài nguyên để phát triển kinh tế biển và nuôi trồng thủy sản.
Vai trò của trí thức thể hiện rõ nét qua việc tích hợp tri thức bản địa của người dân địa phương với các công nghệ hiện đại như viễn thám (GIS) và dữ liệu lớn (Big Data) để phân tích các kịch bản rủi ro thiên tai. Theo đánh giá của các chuyên gia, việc triển khai các mô hình sinh kế thích ứng dựa trên sự tham vấn của giới trí thức đã giúp giảm thiểu đáng kể thiệt hại kinh tế do hạn mặn gây ra tại các tỉnh ven biển8.
Ngoài ra, lực lượng này còn thực hiện nhiệm vụ phản biện khoa học đối với các dự án hạ tầng lớn, bảo đảm sự cân bằng giữa phát triển công nghiệp và bảo tồn đa dạng sinh học tại các khu dự trữ sinh quyển và vườn quốc gia trong vùng. Hoạt động này hoàn toàn tương thích với định hướng chiến lược của Đảng về việc: “chủ động thích ứng, thực hiện hiệu quả các dự án ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng; giải quyết vấn đề xâm nhập mặn, sạt lở bờ sông, bờ biển”9 nhằm bảo đảm sự sinh tồn bền vững của lưu vực hạ lưu. Nhìn nhận từ góc độ toàn cục, việc chuyển hóa các giải pháp khoa học này vào thực tiễn cũng chính là phương thức hữu hiệu để “bảo vệ môi trường là một trong những vấn đề sống còn, là tiêu chí của phát triển bền vững”10.
Thứ ba, tham mưu hoạch định chính sách và quản trị vùng.
Lực lượng trí thức trong hệ thống chính trị và các cơ quan nghiên cứu đóng vai trò tham mưu quan trọng trong việc cụ thể hóa các quy hoạch tích hợp theo Nghị quyết số 120/NQ-CP của Chính phủ. Quản trị vùng đồng bằng sông Cửu Long đòi hỏi phải vượt qua sự chia cắt bởi địa giới hành chính để hướng tới sự liên kết hữu cơ về kinh tế và sinh thái. Trí thức là những người xây dựng luận cứ khoa học cho các liên kết tiểu vùng, như tứ giác Long Xuyên, Đồng Tháp Mười hay bán đảo Cà Mau, tạo sự thống nhất trong quản lý tài nguyên nước và hạ tầng giao thông liên tỉnh. Quá trình này giúp tối ưu hóa nguồn vốn đầu tư công và tránh tình trạng cạnh tranh không lành mạnh giữa các địa phương trong thu hút đầu tư.
Trí thức cũng đóng vai trò cầu nối giữa chính quyền và người dân trong việc phổ biến các chủ trương, chính sách phát triển bền vững, đồng thời tiếp nhận phản hồi từ thực tiễn để kiến nghị điều chỉnh các quy định pháp luật không còn phù hợp. Việc nâng cao năng lực quản trị vùng dựa trên hàm lượng tri thức giúp các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long hình thành được không gian kinh tế chung, tạo điều kiện thuận lợi cho việc vận hành các trung tâm đầu mối về nông sản và logistics.
Hiệu quả của công tác tham mưu chính sách được thể hiện qua khả năng dự báo và xử lý các vấn đề nảy sinh trong quá trình đô thị hóa và di cư lao động tại khu vực11. Trên nền tảng lý luận đó, tư duy lập quy hoạch của vùng phải bám sát định hướng “nâng cao chất lượng quy hoạch vùng theo hướng tích hợp, đa ngành; khai thác tốt hơn và phát huy tốt nhất các lợi thế của mỗi vùng về kết cấu hạ tầng, điều kiện tự nhiên…”12, từ đó, hướng tới việc xóa bỏ các rào cản mang tính cục bộ địa phương để kiến tạo một không gian phát triển kinh tế thống nhất và toàn diện.
4. Thực trạng rào cản đối với việc phát huy vai trò đội ngũ trí thức trong phát triển bền vững tại đồng bằng sông Cửu Long
Bên cạnh những mặt tích cực, nếu soi chiếu vào yêu cầu phát triển bền vững hiện nay, việc phát huy nguồn lực này vẫn đang đối mặt với những rào cản mang tính hệ thống.
Một là, tình trạng dịch chuyển dòng nhân lực chất lượng cao ra khỏi vùng vẫn chưa có dấu hiệu dừng lại. Do sự chênh lệch đáng kể về điều kiện hành nghề và mức thu nhập giữa các tỉnh miền Tây và các trung tâm kinh tế lớn, đặc biệt là Thành phố Hồ Chí Minh, nhiều trí thức sau khi được đào tạo bài bản đã chọn rời bỏ khu vực công hoặc chuyển hẳn địa bàn công tác. Điều này gây ra sự “đứt gãy” trong kế hoạch phát triển nhân lực dài hạn của địa phương. Theo Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, thực tế này là một thách thức lớn khi: “tỷ lệ di cư của nhóm lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật vẫn ở mức cao, gây khó khăn cho việc triển khai các dự án khoa học dài hạn”13. Hệ quả là vùng luôn trong tình trạng thiếu hụt các tổng công trình sư hoặc chuyên gia đầu ngành để giải quyết những bài toán phức tạp về chế biến sâu và kinh tế số.
Hai là, cơ cấu đội ngũ trí thức hiện có sự lệch pha giữa các nhóm ngành và địa bàn. Hiện tại, phần lớn trí thức có trình độ cao tập trung ở lĩnh vực khoa học xã hội và quản lý hành chính, trong khi lực lượng lao động trình độ cao trong các ngành khoa học – kỹ thuật, công nghệ vật liệu mới và công nghệ sinh học lại rất mỏng. Sự mất cân đối này còn thể hiện ở yếu tố địa lý khi các tiến sĩ, thạc sĩ chủ yếu làm việc tại trung tâm thành phố Cần Thơ, còn các tỉnh vùng sâu, vùng ven biển lại thiếu vắng nhân lực đủ trình độ để vận hành các trạm quan trắc hay trung tâm giống. Sự thiếu hụt trí thức tại chỗ là điểm yếu cốt tử trong liên kết vùng vì: “Sự thiếu vắng đội ngũ trí thức tại chỗ khiến cho việc chuyển giao công nghệ gặp nhiều trở ngại, các mô hình khoa học khó đi vào đời sống sản xuất của nông dân”14.
Ba là, cơ chế quản lý khoa học hiện nay vẫn nặng tính hành chính, chưa tạo được môi trường cho trí thức dấn thân. Các quy định về định mức tài chính, thủ tục quyết toán và quy trình đấu thầu đề tài khoa học hiện nay còn quá cứng nhắc, chưa tính đến những rủi ro đặc thù trong nghiên cứu thực nghiệm nông nghiệp. Chính sách đãi ngộ phần lớn vẫn mang tính cào bằng, thiên về hỗ trợ một lần thay vì xây dựng lộ trình phát triển nghề nghiệp lâu dài. Khi các thủ tục hành chính chiếm quá nhiều thời gian và tâm sức, động lực sáng tạo của trí thức sẽ bị bào mòn. Việc đánh giá năng lực dựa trên bằng cấp hơn là hiệu quả ứng dụng thực tế đã tạo ra những rào cản vô hình, khiến các kết quả nghiên cứu khó có thể chuyển hóa thành các giải pháp hữu hiệu phục vụ mục tiêu phát triển bền vững của vùng.
5. Giải pháp cơ bản phát huy vai trò đội ngũ trí thức Đồng bằng sông Cửu Long trong thức đẩy phát triển bền vững
Thứ nhất, hoàn thiện khung pháp lý và đổi mới quản trị nhà nước về trí thức.
Để đội ngũ trí thức trở thành động lực thực chất, cần xây dựng các chính sách đặc thù phù hợp với điều kiện thực tế của vùng đồng bằng sông Cửu Long. Nhà nước cần thay đổi phương thức quản lý từ kiểm soát hành chính sang quản trị dựa trên kết quả và hiệu quả đóng góp. Việc áp dụng cứng nhắc các tiêu chuẩn tuyển dụng và định mức kinh tế kỹ thuật của trung ương hiện không còn phù hợp với đặc thù vùng sinh thái nhân văn miền Tây. Do đó, các tỉnh trong vùng cần thí điểm cơ chế khoán sản phẩm khoa học và công nghệ cuối cùng, giảm bớt các thủ tục quyết toán tài chính phức tạp gây cản trở hoạt động nghiên cứu. Các cơ quan quản lý địa phương phải thực hiện đúng tinh thần Nghị quyết số 45-NQ/TW ngày 24/11/2023 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về tiếp tục xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ trí thức đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong giai đoạn mới.
Trọng tâm của chính sách này là tạo lập môi trường tự do sáng tạo, nơi trí thức được quyền thử nghiệm các ý tưởng mới mà không bị áp lực bởi các quy trình hành chính lỗi thời. Việc đổi mới tư duy lập pháp và thực thi luật pháp về khoa học công nghệ là điều kiện tiên quyết, bởi Đảng ta đã hoạch định rõ mục tiêu cần phải “sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các quy định pháp luật về khoa học và công nghệ, phát triển thị trường khoa học và công nghệ, quyền sở hữu trí tuệ…”15. Đồng thời, cơ chế mới cần gắn liền quyền lợi với trách nhiệm giải trình của trí thức đối với các vấn đề cấp bách của cộng đồng như nghèo đói và ô nhiễm môi trường. Việc công khai, minh bạch trong bổ nhiệm và thực hiện các đề án nghiên cứu sẽ giúp loại bỏ các rào cản về cơ cấu, tạo cơ hội công bằng cho những trí thức trẻ và trí thức ngoài hệ thống công lập16. Chính sách quản lý cũng cần chú trọng đến việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ để đảm bảo các kết quả nghiên cứu được thương mại hóa, mang lại thu nhập xứng đáng cho nhà khoa học.
Thứ hai, đầu tư hạ tầng khoa học, công nghệ theo hướng liên kết vùng.
Sự thiếu hụt về công cụ và điều kiện làm việc là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng trí thức rời bỏ khu vực công hoặc chuyển dịch về các đô thị lớn. Nhà nước cần ưu tiên nguồn lực ngân sách để đầu tư các phòng thí nghiệm trọng điểm đạt tiêu chuẩn quốc tế, đặc biệt trong các lĩnh vực thế mạnh của vùng, như: công nghệ sinh học nông nghiệp, nghiên cứu thủy văn và năng lượng tái tạo. Mô hình liên kết giữa Trường Đại học Cần Thơ, các viện nghiên cứu chuyên ngành và các tập đoàn kinh tế lớn cần được vận hành thông qua các công viên khoa học hoặc trung tâm đổi mới sáng tạo vùng. Tại đây, trí thức có thể tiếp cận với các hệ thống dữ liệu lớn, công nghệ viễn thám để thực hiện các dự án nghiên cứu tầm cỡ về thích ứng với biến đổi khí hậu ngay tại thực địa.
Để tháo gỡ nút thắt này, chiến lược phát triển quốc gia đã định hướng rất cụ thể là phải “tập trung đầu tư phát triển một số ngành, lĩnh vực khoa học và công nghệ trọng điểm, có thế mạnh, các trung tâm đổi mới sáng tạo, chuyển giao công nghệ vùng và địa phương…”17. Đầu tư hạ tầng không chỉ dừng lại ở trang thiết bị mà còn là việc xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu dùng chung cho toàn vùng đồng bằng sông Cửu Long, giúp trí thức dễ dàng chia sẻ và kế thừa các kết quả nghiên cứu trước đó. Theo báo cáo kinh tế thường niên, việc thiếu hạ tầng kỹ thuật tương xứng đã làm giảm 40% hiệu suất ứng dụng các nghiên cứu vào thực tế sản xuất tại địa phương18. Do đó, việc xây dựng các khu làm việc tập trung có đầy đủ tiện nghi và không gian thảo luận sẽ thúc đẩy sự giao thoa tri thức đa ngành. Khi trí thức được làm việc trong môi trường hiện đại, họ sẽ có điều kiện để thực hiện các nghiên cứu thực chứng, đưa ra các giải pháp kỹ thuật chính xác cho việc xử lý sạt lở bờ sông hay chuyển đổi cơ cấu cây trồng chịu mặn, thay vì chỉ dừng lại ở các báo cáo lý thuyết.
Thứ ba, đổi mới công tác đào tạo và thực hiện chính sách thu hút nhân tài gắn với nhu cầu thực tiễn.
Hệ thống giáo dục đại học và sau đại học tại đồng bằng sông Cửu Long cần điều chỉnh chương trình đào tạo theo hướng tích hợp, xóa bỏ ranh giới giữa các ngành đơn lẻ để giải quyết các vấn đề phức tạp mang tính hệ thống. Việc đào tạo trí thức phải gắn liền với các kịch bản phát triển vùng, tập trung vào kỹ năng giải quyết các thách thức cụ thể như quản lý tài nguyên nước xuyên biên giới, phát triển chuỗi giá trị nông sản toàn cầu và quản trị kinh tế số. Bên cạnh việc bồi dưỡng lực lượng tại chỗ, các địa phương cần triển khai các đề án thu hút trí thức là người bản địa đang học tập và làm việc tại nước ngoài hoặc các trung tâm kinh tế lớn quay về đóng góp.
Để hiện thực hóa mục tiêu này, Đảng yêu cầu hệ thống chính sách quản lý nguồn nhân lực cần bám sát việc “thực hiện đồng bộ các cơ chế, chính sách, giải pháp phát triển nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội”19. Chính sách thu hút phải thực chất, không chỉ dựa trên hỗ trợ tài chính ban đầu mà phải bằng lộ trình phát triển nghề nghiệp rõ ràng và môi trường làm việc minh bạch, ít chịu tác động của các mối quan hệ cá nhân. Các chế độ đãi ngộ vượt trội như lương thưởng theo hiệu quả dự án, bảo hiểm y tế cao cấp và hỗ trợ nhà ở cần được luật hóa để bảo đảm tính bền vững. Thực tế cho thấy, việc thu hút nhân tài sẽ đạt hiệu quả cao nhất khi trí thức thấy được giá trị của họ được tôn trọng và các đề xuất chuyên môn được chính quyền tiếp thu, ứng dụng vào thực tiễn quản lý20. Ngoài ra, cần đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong đào tạo thông qua các chương trình liên kết với các đại học uy tín trên thế giới về quản lý đồng bằng, nhằm xây dựng đội ngũ chuyên gia có trình độ tương đương khu vực và quốc tế, đủ khả năng tham gia vào các diễn đàn khoa học toàn cầu về biến đổi khí hậu.
Thứ tư, xây dựng và vận hành mạng lưới trí thức liên kết toàn vùng.
Cần xóa bỏ triệt để tư duy cục bộ, khép kín trong quản lý trí thức của từng địa phương để hướng tới sự hợp tác liên tỉnh. Việc thành lập Hội đồng trí thức vùng đồng bằng sông Cửu Long là yêu cầu cấp thiết để tập hợp các chuyên gia đầu ngành từ nhiều lĩnh vực khác nhau tham gia vào quá trình phản biện khoa học đối với các quy hoạch, dự án kinh tế – xã hội quy mô lớn. Mạng lưới này sẽ đóng vai trò là cơ quan tư vấn độc lập cho Hội đồng điều phối vùng, bảo đảm các quyết sách phát triển được xây dựng trên nền tảng dữ liệu khoa học khách quan. Thông qua mạng lưới, trí thức có thể kết nối trực tiếp với chính quyền địa phương và các doanh nghiệp để giải quyết các bài toán về hạ tầng giao thông liên vùng hoặc quy hoạch vùng nguyên liệu tập trung. Trên cơ sở gắn kết chặt chẽ cung – cầu tri thức, đây chính là phương thức quan trọng nhằm “phát triển mạnh mẽ thị trường khoa học và công nghệ gắn với xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về khoa học và công nghệ…”21. Sự kết nối này giúp rút ngắn khoảng cách giữa lý thuyết nghiên cứu và thực tiễn điều hành, đồng thời giảm thiểu sự lãng phí tài nguyên trí tuệ khi nhiều địa phương cùng nghiên cứu một vấn đề trùng lặp.
Theo các phân tích về quản trị vùng, việc hình thành các cộng đồng chuyên gia sẽ tạo ra sức mạnh cộng hưởng, giúp đồng bằng sông Cửu Long có tiếng nói trọng lượng hơn trong việc đàm phán các nguồn lực đầu tư từ trung ương và quốc tế22. Mạng lưới trí thức cũng là kênh hiệu quả để phổ biến kiến thức khoa học đến cộng đồng, giúp người dân hiểu và đồng thuận với các chính sách chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Việc định kỳ tổ chức các diễn đàn đối thoại giữa lãnh đạo các tỉnh với đội ngũ trí thức sẽ tạo ra cơ chế phản hồi hai chiều, giúp kịp thời tháo gỡ những vướng mắc về chính sách và khơi thông các nguồn lực sáng tạo phục vụ phát triển bền vững.
6. Đánh giá tác động của các giải pháp quản lý nhà nước đối với đội ngũ trí thức
Việc triển khai đồng bộ các giải pháp quản lý nhà nước sẽ dẫn đến sự chuyển đổi căn bản về cấu trúc và chất lượng của đội ngũ trí thức tại đồng bằng sông Cửu Long. Khi cơ chế quản lý chuyển dịch từ kiểm soát hành chính sang hỗ trợ và thúc đẩy sáng tạo, năng suất lao động khoa học sẽ tăng trưởng theo hướng thực chất. Trí thức không còn đóng vai trò là đối tượng thực thi thụ động trong các dự án đầu tư mà trở thành chủ thể dẫn dắt các quá trình đổi mới công nghệ và mô hình quản trị.
Sự thay đổi vị thế này có ý nghĩa quyết định đối với việc gia tăng hàm lượng chất xám trong các chuỗi giá trị nông sản chủ lực của vùng. Theo các nghiên cứu về kinh tế học phát triển, khi trí thức tham gia trực tiếp vào quy trình kiểm soát chất lượng và ứng dụng công nghệ chế biến, giá trị gia tăng của sản phẩm nông nghiệp có thể tăng gấp nhiều lần so với hình thức xuất khẩu nguyên liệu thô24. Đây là tiền đề quan trọng để xây dựng các thương hiệu nông sản vùng có sức cạnh tranh quốc tế, dựa trên nền tảng tri thức và sở hữu trí tuệ thay vì khai thác tài nguyên thiên nhiên quá mức.
Hơn nữa, sự lớn mạnh của đội ngũ trí thức tại chỗ tạo ra hiệu ứng lan tỏa tích cực đến toàn bộ hệ thống xã hội nông thôn. Thông qua việc chuyển giao công nghệ và tư vấn kỹ thuật, trí thức góp phần trực tiếp vào việc nâng cao trình độ canh tác và nhận thức về phát triển bền vững của cư dân địa phương. Sự tương tác thường xuyên giữa giới trí thức và cộng đồng giúp hình thành các mạng lưới học tập, nơi các vấn đề xã hội như thất nghiệp, ô nhiễm môi trường và suy giảm đa dạng sinh học được giải quyết bằng các giải pháp khoa học thực chứng. Quản lý nhà nước lúc này đóng vai trò là chủ thể kiến tạo hệ sinh thái, cung cấp các dịch vụ hỗ trợ và khung pháp lý cần thiết để tri thức được chuyển hóa thành các giá trị kinh tế – xã hội cụ thể.
Việc thực hiện nhất quán các chính sách trọng dụng nhân tài còn giúp củng cố niềm tin và sự gắn bó của trí thức với mục tiêu phát triển chung của vùng. Nghị quyết số 45-NQ/TW đã xác định việc phát huy vai trò của đội ngũ trí thức là nhiệm vụ trọng tâm để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa25. Tác động sâu rộng nhất của các giải pháp quản lý chính là thiết lập được một môi trường chính trị – xã hội ổn định, nơi năng lực sáng tạo được bảo vệ và tôn trọng, tạo động lực để trí thức hiện thực hóa các ý tưởng đột phá phục vụ sự nghiệp phát triển bền vững của đồng bằng sông Cửu Long trong dài hạn.
7. Kết luận
Phát huy vai trò của đội ngũ trí thức là chìa khóa để giải quyết các mâu thuẫn giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường tại đồng bằng sông Cửu Long. Thực tế cho thấy, nếu không có những đột phá trong chính sách quản lý và sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao, vùng sẽ khó vượt qua được những thách thức từ biến đổi khí hậu và bẫy thu nhập trung bình. Nhà nước cần thiết lập môi trường làm việc chuyên nghiệp, cơ chế đãi ngộ xứng đáng và hạ tầng khoa học hiện đại để trí thức yên tâm cống hiến. Sự thành công trong việc xây dựng và phát huy lực lượng này không chỉ mang lại thịnh vượng cho khu vực miền Tây mà còn đóng góp quan trọng vào sự phát triển chung của đất nước.
Chú thích:
1, 9, 10, 12, 19. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Tập II. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 36, 177, 21, 143, 129.
2, 3, 4, 6, 7, 15, 17, 21.Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập II. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 122, 277, 387, 59, 277, 62, 147, 61.
5. Võ Tòng Xuân (2021). Nông nghiệp Đồng bằng sông Cửu Long: Thách thức và giải pháp bền vững. Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, số 15/2021, tr. 45.
8. Lê Anh Tuấn (2020). Biến đổi khí hậu và thách thức đối với an ninh nguồn nước tại Đồng bằng sông Cửu Long. NXB Đại học Cần Thơ, tr. 82.
11, 14, 20. Nguyễn Văn Sành (2021). Liên kết vùng và quản trị phát triển bền vững trong bối cảnh mới. Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế, số 12, tr. 116, 118, 120.
13, 18, 23. Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (2022). Báo cáo Kinh tế thường niên Đồng bằng sông Cửu Long năm 2022. NXB Đại học Cần Thơ, tr. 112, 145, 156.
16, 24, 25. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2023). Nghị quyết số 45-NQ/TW ngày 24/11/2023 về tiếp tục xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ trí thức đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong giai đoạn mới. H. Văn phòng Trung ương Đảng, tr. 15, 18, 18.
22. Bộ Chính trị (2022). Nghị quyết số 13-NQ/TW ngày 02/4/2022 về phương hướng phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. H. Văn phòng Trung ương Đảng, tr. 8.



