Improving the legal framework for the organization and operation of Commune-level People’s Committees in response to the requirements of local governance reform
ThS. Nguyễn Huỳnh Thanh Bình
Văn phòng Đảng ủy phường Bình Lợi Trung, TP. Hồ Chí Minh
(Quanlynhanuoc.vn) – Thực tiễn vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp đã tác động trực tiếp đến tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp xã. Theo đó, Ủy ban nhân dân cấp xã được tái định vị là trung tâm thực thi chính sách, giữ vai trò chủ thể then chốt bảo đảm tính thông suốt và hiệu quả của toàn bộ hệ thống quản trị ở cơ sở. Tuy nhiên, hệ thống quy định hiện hành còn bộc lộ những “điểm nghẽn” trong thực thi chức năng, nhiệm vụ, ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý nhà nước ở cơ sở. Do vậy, cần có giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật điều chỉnh tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp xã theo hướng đồng bộ, hiện đại và phù hợp với yêu cầu đổi mới quản trị địa phương trong giai đoạn hiện nay.
Từ khóa: Hoàn thiện pháp luật; tổ chức và hoạt động; Ủy ban nhân dân cấp xã; chính quyền địa phương hai cấp; quản trị địa phương.
Abstract: Based on practical experience in the operation of the two-tier local government model, the organization and functioning of Commune-level People’s Committees have been directly affected. Accordingly, Commune-level People’s Committees have been repositioned as the core bodies for policy implementation, playing a key role in ensuring the smoothness and effectiveness of the entire grassroots governance system. However, the current legal framework still reveals certain bottlenecks in the implementation of functions and tasks, thereby affecting the effectiveness of state management at the grassroots level. Therefore, it is necessary to improve the legal framework governing the organization and operation of Commune-level People’s Committees in a synchronized, modern, and appropriate manner to meet the requirements of local governance reform in the current period.
Keywords: Legal improvement; organization and operation; Commune-level People’s Committee; two-tier local government; local governance.
1. Đặt vấn đề
Việc sáp nhập đơn vị hành chính và triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp không chỉ là cải cách tổ chức bộ máy mà còn là bước chuyển căn bản về phương thức quản trị địa phương theo hướng tinh gọn, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả, gần dân và phục vụ Nhân dân tốt hơn. Trong bối cảnh đó, UBND cấp xã được tái định vị với vai trò là cấp chính quyền trực tiếp tổ chức thực thi chính sách, pháp luật và cung ứng dịch vụ công cho người dân; đồng thời, trở thành đầu mối kết nối giữa chính quyền cấp trên với hệ thống quản trị ở cơ sở. Điều này góp phần thiết lập cơ chế vận hành thông suốt, tăng tính chủ động trong quản lý, giảm tầng nấc trung gian, hạn chế chồng chéo và tình trạng đùn đẩy trách nhiệm trong thực thi công vụ.
Tuy nhiên, quá trình vận hành kéo theo những thay đổi về thẩm quyền, cơ cấu tổ chức, phương thức quản lý và yêu cầu phối hợp liên thông giữa các cấp chính quyền diễn ra trong khi hệ thống pháp luật và các điều kiện bảo đảm thực thi chưa được hoàn thiện đồng bộ, như: phân định thẩm quyền chưa rõ, chồng chéo và mâu thuẫn trong hệ thống pháp luật, hạn chế trong phân cấp và năng lực thực thi. Do đó, việc hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của UBND cấp xã trở thành yêu cầu cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn, đây không chỉ là giải pháp khắc phục những hạn chế, vướng mắc phát sinh trong quá trình vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp mà còn là cơ sở quan trọng để thúc đẩy đổi mới quản trị địa phương theo hướng hiện đại, minh bạch, trách nhiệm giải trình cao và lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ.
2. Thực trạng về tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp xã khi vận hành chính quyền địa phương hai cấp
2.1. Những kết quả đạt được
Để triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp theo chủ trương của Đảng và yêu cầu đổi mới quản trị quốc gia, công tác xây dựng và hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương nói chung, UBND cấp xã nói riêng đã được đẩy mạnh theo hướng đồng bộ, có trọng tâm và mang đậm dấu ấn cải cách thể chế. Kết quả bước đầu cho thấy, khuôn khổ pháp lý về tổ chức bộ máy, phân cấp, phân quyền và bảo đảm hoạt động của chính quyền địa phương từng bước được hoàn thiện, tạo nền tảng quan trọng cho việc vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp ổn định, thông suốt và phù hợp với yêu cầu thực tiễn.
Một là, hình thành khuôn khổ pháp lý tương đối đầy đủ, đồng bộ cho tổ chức và hoạt động của UBND cấp xã. Trên cơ sở thể chế hóa kịp thời các chủ trương của Đảng, đặc biệt là tinh thần Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam trong giai đoạn mới và Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật, hệ thống pháp luật về tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương đã từng bước xác lập rõ nguyên tắc phân định thẩm quyền giữa các cấp chính quyền, tăng cường tính chủ động và trách nhiệm của chính quyền cơ sở.
Việc chuyển sang mô hình chính quyền địa phương hai cấp đặt ra yêu cầu phải hoàn thiện tương ứng khuôn khổ pháp luật điều chỉnh tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương. Tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội (khóa XV) đã thông qua nhiều Luật và nghị quyết quan trọng nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn thể chế trong các lĩnh vực, như: đất đai, đầu tư, quy hoạch, xây dựng, môi trường, khoa học -công nghệ, qua đó, tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho phát triển kinh tế – xã hội và đổi mới quản trị địa phương. Cùng với đó, Quốc hội và Chính phủ đã ban hành đồng bộ nhiều văn bản quy phạm pháp luật nhằm cụ thể hóa tổ chức bộ máy, cơ chế vận hành, phân định thẩm quyền và các điều kiện bảo đảm hoạt động của chính quyền địa phương trong mô hình mới. Các quy định chuyển tiếp cũng được thiết kế tương đối đầy đủ, góp phần bảo đảm sự vận hành liên tục, ổn định và thông suốt của hệ thống chính quyền trong quá trình chuyển đổi từ mô hình ba cấp sang hai cấp.
Hai là, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với xác lập rõ trách nhiệm của UBND cấp xã. Quá trình hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương cho thấy sự chuyển biến rõ nét trong tư duy phân cấp, phân quyền của Nhà nước. Từ nền tảng của Nghị quyết số 08/2004/NQ-CP ngày 30/6/2004 của Chính phủ về tiếp tục đẩy mạnh phân cấp quản lý nhà nước giữa Chính phủ và chính quyền tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đến các định hướng mang tính chiến lược trong Nghị quyết số 27-NQ/TW và Nghị quyết số 66-NQ/TW, nguyên tắc phân định thẩm quyền giữa các cấp chính quyền ngày càng được hoàn thiện theo hướng rõ ràng, minh bạch và thực chất hơn.
Việc phân cấp, phân quyền không còn dừng lại ở việc phân công nhiệm vụ hành chính mà được xác định là công cụ trọng tâm của cải cách thể chế, gắn với nguyên tắc “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”, hệ thống pháp luật đã từng bước thể chế hóa việc chuyển giao thẩm quyền từ cấp huyện về cấp tỉnh và cấp xã thông qua Luật Tổ chức Chính phủ năm 2025, Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025 và các văn bản hướng dẫn thi hành có liên quan.
Về phương diện tổ chức thực hiện, Chính phủ đã ban hành nhiều nghị định về phân cấp, phân quyền trong các lĩnh vực gắn trực tiếp với đời sống người dân, như: đất đai, trật tự xây dựng, hộ tịch, cư trú, an sinh xã hội, môi trường, an ninh và trật tự ở cơ sở. Việc tăng cường phân cấp trong các lĩnh vực này không chỉ góp phần rút ngắn quy trình giải quyết thủ tục hành chính mà còn nâng cao tính kịp thời, linh hoạt và sát thực tiễn trong quản lý nhà nước tại địa phương, qua đó, tăng cường vai trò và trách nhiệm của UBND cấp xã trong quản lý địa bàn.
Ba là, vai trò của chính quyền cấp xã từng bước được định hình theo hướng “nhà nước kiến tạo phát triển và phục vụ người dân”. Hệ thống pháp luật hiện nay không chỉ dừng lại ở việc quy định cơ cấu tổ chức và thẩm quyền của UBND cấp xã mà còn từng bước mở rộng không gian thể chế để chính quyền cơ sở chủ động hơn trong huy động, phân bổ và khai thác các nguồn lực phục vụ phát triển kinh tế – xã hội phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương. Theo đó, vai trò của UBND cấp xã có sự chuyển dịch rõ rệt từ thiết chế thuần túy thực thi sang chủ thể tham gia quản trị địa phương và kiến tạo phát triển ở cơ sở. Sự chuyển dịch này thể hiện trên một số phương diện cơ bản: (1) Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của UBND cấp xã được mở rộng đáng kể do tiếp nhận nhiều nhiệm vụ từ cấp huyện sau khi thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp. (2)Quy mô và cơ cấu tổ chức bộ máy của UBND cấp xã từng bước được kiện toàn nhằm đáp ứng khối lượng công việc ngày càng lớn và yêu cầu quản trị đa ngành, đa lĩnh vực ở cơ sở. (3) Phương thức vận hành của UBND cấp xã được điều chỉnh theo hướng linh hoạt, chủ động và thích ứng với quan hệ quản lý mới khi trực tiếp gắn với cấp tỉnh và không còn cấp trung gian là cấp huyện.
Bốn là, hệ thống pháp luật đã kịp thời bổ sung các quy định chuyển tiếp, góp phần bảo đảm quá trình chuyển đổi mô hình chính quyền địa phương diễn ra ổn định, liên tục. Việc ban hành các nghị quyết, chương trình hành động của Chính phủ đã tạo cơ sở pháp lý để xử lý linh hoạt các vấn đề phát sinh trong thực tiễn; đồng thời, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp trong quá trình cải cách thể chế.
Như vậy, việc xây dựng và hoàn thiện cơ sở pháp lý về tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp được triển khai theo hướng đồng bộ, có trọng tâm và mang tính hệ thống, từ sửa đổi Hiến pháp, ban hành các luật, nghị quyết của Quốc hội đến việc cụ thể hóa bằng hệ thống văn bản dưới luật của Chính phủ và các bộ, ngành. Qua đó, khuôn khổ pháp lý bước đầu được định hình tương đối đầy đủ, tạo nền tảng quan trọng cho việc tổ chức và vận hành chính quyền địa phương hai cấp theo đúng định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước trong giai đoạn hiện nay.
2.2. Một số hạn chế
Việc chuyển đổi sang mô hình chính quyền địa phương hai cấp với quy mô lớn và phạm vi tác động rộng đã đặt ra những yêu cầu mới đối với việc hoàn thiện khuôn khổ pháp luật về tổ chức và hoạt động của UBND cấp xã. Thực tiễn vận hành cho thấy, vẫn tồn tại nhiều “điểm nghẽn” trong thể chế, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước ở cơ sở, thể hiện trên các phương diện chủ yếu sau:
Thứ nhất, chưa bảo đảm sự phân định rõ ràng giữa thẩm quyền của UBND và chủ tịch UBND cấp xã.
Một trong những hạn chế của Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025 là chưa bảo đảm sự tách bạch giữa thẩm quyền của thiết chế tập thể (UBND) và thẩm quyền của cá nhân người đứng đầu (chủ tịch UBND). Theo Điều 23 của Luật quy định chủ tịch UBND cấp xã có 17 nhóm nhiệm vụ, quyền hạn, trong đó có 14 nhóm mang tính lãnh đạo, quản lý, điều hành và tổ chức thi hành pháp luật trên phạm vi rộng, bao trùm hầu hết các lĩnh vực kinh tế – xã hội ở địa phương. Tuy nhiên, chỉ có 4 nhóm nhiệm vụ thể hiện rõ vị trí, vai trò của chủ tịch UBND với tư cách là người đứng đầu cơ quan hành chính, gồm: (1) Lãnh đạo, điều hành công việc của UBND; triệu tập và chủ toạ các phiên họp của UBND; (2) Lãnh đạo, chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra công tác của các cơ quan chuyên môn, tổ chức hành chính thuộc UBND cấp mình; (3) Chỉ đạo, xử lý kịp thời các tình huống khẩn cấp liên quan đến thiên tai, dịch bệnh, thảm họa trên địa bàn; (4) Tổ chức thực hiện công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.
Sự thiếu rành mạch trong phân định thẩm quyền đã dẫn đến tình trạng “cá nhân hóa thẩm quyền trong khuôn khổ thiết chế tập thể”, làm gia tăng nguy cơ chồng lấn trách nhiệm, giảm tính minh bạch trong quản lý và gây khó khăn trong việc xác định trách nhiệm pháp lý khi phát sinh sai phạm trong thực thi công vụ.
Thứ hai, tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn và phân mảnh trong hệ thống pháp luật vẫn chưa được khắc phục triệt để.
Việc triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp trong thời gian ngắn kéo theo yêu cầu sửa đổi, bổ sung đồng loạt nhiều văn bản quy phạm pháp luật. Tuy nhiên, do hệ thống pháp luật trước đó được thiết kế trên nền tảng mô hình ba cấp, nên khi thay đổi cấu trúc tổ chức, nhiều quy định chưa được điều chỉnh đồng bộ, dẫn đến tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn và thiếu thống nhất. Theo Báo cáo số 558/BC-BTP ngày 30/9/2025 của Bộ Tư pháp, có 23 nội dung tại 18 văn bản quy phạm pháp luật có quy định mâu thuẫn, chồng chéo; 53 nội dung tại 15 văn bản có quy định chưa rõ ràng, tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau; 14 nội dung tại 10 văn bản làm gia tăng chi phí tuân thủ hoặc hạn chế đổi mới sáng tạo, cản trở việc khơi thông nguồn lực phát triển1. Hệ quả là quy trình giải quyết thủ tục hành chính trong một số lĩnh vực vẫn bị phân mảnh, thiếu cơ chế phối hợp liên thông và chưa xác định rõ đầu mối chịu trách nhiệm toàn diện.
Thực tiễn cho thấy, trong lĩnh vực đất đai, mặc dù Luật Đất đai năm 2024 về đăng ký biến động đất đai đã đặt ra yêu cầu cải cách thủ tục theo hướng đơn giản hóa và liên thông dữ liệu. Tuy nhiên, trên thực tế, việc thực hiện nghĩa vụ tài chính theo Luật Đất đai năm 2024 và Luật Quản lý thuế năm 2019 vẫn yêu cầu một số giấy tờ không nằm trong danh mục hồ sơ tiếp nhận của cơ quan tài nguyên và môi trường. Sự thiếu đồng bộ này dẫn đến tình trạng cán bộ lúng túng trong xử lý, người dân bị “kẹt giữa các quy định”, làm giảm hiệu quả của cơ chế một cửa liên thông.
Tương tự, sự chuyển đổi chính sách quản lý an toàn thực phẩm từ mô hình quản trị rủi ro sang tăng cường tiền kiểm đã làm gia tăng yêu cầu kiểm tra, mở rộng đối tượng và tần suất kiểm tra, trong khi năng lực tổ chức thực thi của chính quyền cơ sở chưa được nâng tương ứng, tạo áp lực lớn và phát sinh “điểm nghẽn” trong quá trình thực hiện.
Thứ ba, bất cập trong quy định về phân cấp, phân quyền và phân định thẩm quyền. Một số quy định về phân cấp, phân quyền chưa bảo đảm sự phù hợp với nguyên tắc về chủ thể phân cấp và chủ thể nhận phân cấp theo luật định. Cụ thể, theo Nghị định số 145/2025/NĐ-CP ngày 12/6/2025 của Chính phủ về phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương hai cấp trong lĩnh vực quy hoạch đô thị và nông thôn, cơ quan chuyên môn cấp tỉnh được phân cấp, ủy quyền thẩm định các nhiệm vụ quy hoạch cho cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp xã. Quy định này chưa phù hợp với Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025 về chủ thể được phân cấp, ủy quyền và chủ thể nhận phân cấp, ủy quyền.
Theo Báo cáo số 558/BC-BTP, công tác tư pháp ở cấp xã đang chịu áp lực lớn: khối lượng công việc tăng do quy mô dân số, diện tích tăng; số lượng công chức tư pháp, hộ tịch còn mỏng (9.378 công chức trên toàn quốc, giảm khoảng 7.600 người, tương đương 47% so với trước khi sắp xếp); hơn 50% cấp xã chỉ bố trí từ 1 – 2 công chức, không đủ đáp ứng yêu cầu giải quyết thủ tục hành chính, tham mưu xây dựng pháp luật, giải quyết khiếu nại, tố cáo, tham gia công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng và các nhiệm vụ liên quan2. Những bất cập này cho thấy, khoảng cách đáng kể giữa quy định pháp luật và điều kiện thực thi, đặt ra yêu cầu phải tiếp tục hoàn thiện pháp luật về tiêu chuẩn chức danh, định mức biên chế, cơ chế phân cấp và các điều kiện bảo đảm tương ứng.
Thứ tư, chồng chéo về thẩm quyền trong một số lĩnh vực chuyên ngành.
Trong một số lĩnh vực chuyên ngành, quy định pháp luật còn thiếu thống nhất trong xác định thẩm quyền giữa các chủ thể thuộc cùng cấp chính quyền, dẫn đến sự không rõ ràng trong tổ chức thực hiện. Điển hình, theo Thông tư số 20/2025/TT-BYT ngày 23/6/2025 của Bộ trưởng Bộ Y tế,phòng Văn hóa – Xã hội thuộc UBND cấp xã có chức năng kiểm tra, xử lý vi phạm trong lĩnh vực y tế đối với tổ chức, cá nhân trên địa bàn. Tuy nhiên, theo Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính lại thuộc chủ tịch UBND cấp xã, không thuộc cơ quan chuyên môn. Sự thiếu thống nhất giữa quy định về chức năng kiểm tra, xử lý vi phạm và thẩm quyền xử phạt đã làm phát sinh khoảng trống trong xác định chủ thể chịu trách nhiệm, gây lúng túng trong tổ chức thực hiện và tiềm ẩn rủi ro pháp lý trong quá trình xử lý vi phạm hành chính ở cơ sở.
Thứ năm, năng lực thực thi của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra.
Bên cạnh những hạn chế về quy định pháp luật, năng lực thực thi của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã là “điểm nghẽn” mang tính quyết định, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả tổ chức thực hiện pháp luật ở cơ sở. Trong bối cảnh các địa phương thực hiện sắp xếp tổ chức bộ máy sau sáp nhập đơn vị hành chính, tiếp nhận thêm nhiệm vụ từ cấp trên, cùng với yêu cầu xử lý công việc trên môi trường số, áp lực đặt lên đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã ngày càng lớn. Tuy nhiên, năng lực chuyên môn và kỹ năng công nghệ thông tin của một bộ phận cán bộ còn hạn chế, chưa theo kịp yêu cầu mới, dẫn đến sự chênh lệch đáng kể giữa quy định pháp luật và khả năng tổ chức thi hành trong thực tiễn.
3. Một số giải pháp
Một là, đổi mới tư duy pháp lý về phân cấp, phân quyền và tổ chức quyền lực ở cấp xã.
Trọng tâm của cải cách pháp luật trong giai đoạn hiện nay là chuyển từ tư duy phân cấp mang tính hành chính sang phân quyền thực chất, gắn với trách nhiệm giải trình và hiệu quả thực thi. Theo đó, cần xác lập rõ thiết chế chủ tịch UBND cấp xã với một số thẩm quyền riêng, tương đối độc lập với tập thể UBND, làm việc theo chế độ thủ trưởng, qua đó, khắc phục tình trạng chồng lấn thẩm quyền và làm rõ trách nhiệm cá nhân trong quản lý nhà nước. Đồng thời, cần thiết lập cơ chế pháp lý thúc đẩy tính tự chủ, năng lực phối hợp và liên kết giữa các chính quyền cấp xã; giữa cấp xã với cấp tỉnh cũng như với các chủ thể ngoài nhà nước, như: doanh nghiệp, tổ chức xã hội.
Ở cấp độ lập pháp, cần đổi mới kỹ thuật xây dựng Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025 trong mối quan hệ với các luật chuyên ngành, đặc biệt trong việc quy định nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương nhằm bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật, loại bỏ chồng chéo và thiết lập cấu trúc thẩm quyền rõ ràng, minh bạch.
Hai là, xây dựng và rà soát hệ thống pháp luật theo hướng đồng bộ, liên thông, khả thi.
Việc triển khai Nghị quyết số 66-NQ/TW cần gắn với xây dựng và thực hiện hiệu quả “Đề án hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam trong kỷ nguyên mới”, trong đó trọng tâm là rà soát, hoàn thiện các quy định liên quan trực tiếp đến tổ chức, thẩm quyền và phương thức hoạt động của UBND cấp xã trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Theo đó, cần tiến hành rà soát tổng thể hệ thống pháp luật theo hướng liên ngành, có trọng tâm, trọng điểm nhằm kịp thời phát hiện, xử lý các quy định mâu thuẫn, chồng chéo, thiếu khả thi hoặc tạo ra khoảng trống pháp lý cản trở việc thực hiện phân cấp, phân quyền ở cơ sở. Đồng thời, cần hoàn thiện hệ thống pháp luật theo hướng tinh gọn, thống nhất, dễ tiếp cận, bảo đảm tính liên thông giữa các ngành, lĩnh vực và giữa các cấp chính quyền, đặc biệt là sự thống nhất giữa Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025 với các luật chuyên ngành.
Bên cạnh đó, cần ưu tiên hoàn thiện các quy định về cơ chế tài chính, ngân sách và điều kiện bảo đảm hoạt động của UBND cấp xã sau sắp xếp, coi đây là yếu tố nền tảng để bảo đảm tính khả thi của cải cách thể chế. Đồng thời, nâng cao chất lượng thẩm định văn bản quy phạm pháp luật theo hướng bổ sung các tiêu chí về phân cấp, phân quyền, quốc phòng – an ninh, chính sách dân tộc…; gắn với tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong xây dựng pháp luật nhằm kiểm soát chặt chẽ lợi ích nhóm và lợi ích cục bộ.
Ba là, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với đánh giá tính khả thi và điều kiện thực hiện ở cấp xã.
Việc phân cấp, phân quyền cần được thực hiện trên cơ sở đánh giá toàn diện tính khả thi của từng nhiệm vụ trong tổng thể chức năng quản lý nhà nước, đặc biệt trong điều kiện tổ chức và năng lực thực thi của UBND cấp xã. Theo đó, các bộ, ngành cần phối hợp với Bộ Nội vụ trong việc đánh giá hiệu quả thực hiện các nhiệm vụ đã được phân cấp, làm cơ sở kiến nghị điều chỉnh hoặc mở rộng phạm vi phân quyền phù hợp với điều kiện thực tiễn. Đồng thời, phân cấp phải gắn với trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm, đi kèm với cơ chế kiểm tra, giám sát hiệu quả nhằm bảo đảm cân bằng giữa quyền lực và trách nhiệm.
Trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật có nội dung về phân cấp, phân quyền cho UBND cấp xã, cần tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc phân định thẩm quyền theo Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025, bảo đảm đúng chủ thể phân cấp và chủ thể nhận phân cấp. Đặc biệt, để bảo đảm tính khả thi, việc xây dựng chính sách phân cấp phải có sự tham gia ý kiến của chính các chủ thể dự kiến được phân cấp, từ đó, đánh giá đầy đủ điều kiện thực hiện. Việc phân cấp, phân quyền cũng cần gắn với bảo đảm các điều kiện về nguồn nhân lực, vật lực và hạ tầng kỹ thuật nhằm bảo đảm các nhiệm vụ được triển khai ngay sau khi văn bản có hiệu lực.
Bốn là, thiết lập cơ chế thúc đẩy tính tự chủ và tăng cường liên kết, phối hợp giữa UBND cấp xã với các chủ thể liên quan.
Việc đẩy mạnh phân quyền cho UBND, đặc biệt là cấp xã, cần gắn với việc tăng cường tính độc lập, tự chủ và năng lực chủ động trong giải quyết các vấn đề liên địa phương. Theo đó, UBND cấp xã không chỉ thực hiện nhiệm vụ trong phạm vi địa bàn hành chính, mà cần có khả năng tham gia vào các cơ chế hợp tác, liên kết linh hoạt với các địa phương khác cùng cấp, cũng như với các tổ chức, doanh nghiệp trong quá trình thực hiện nhiệm vụ được phân quyền, nhất là trong các lĩnh vực, như: quản lý môi trường, phát triển hạ tầng xã hội, giao thông và cung ứng dịch vụ công.
Hiện nay, hoạt động phối hợp, liên kết giữa các địa phương còn hạn chế: phạm vi, mức độ và công cụ phối hợp chưa rõ ràng, thiếu tính ổn định và chưa hình thành được các mô hình hiệu quả. Cơ chế hợp tác giữa chính quyền địa phương với khu vực tư nhân còn thiếu hành lang pháp lý đầy đủ, chưa phát huy được vai trò của các chủ thể ngoài Nhà nước trong phát triển kinh tế – xã hội ở cơ sở. Do đó, cần xác lập một khuôn khổ pháp lý rõ ràng về liên kết, phối hợp và hợp tác giữa các chính quyền cấp xã với nhau; giữa cấp xã với cấp tỉnh; và giữa chính quyền địa phương với các tổ chức, doanh nghiệp. Cơ chế này cần được thiết kế như một nội dung quan trọng trong Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025 và các luật chuyên ngành nhằm tạo nền tảng cho việc giải quyết hiệu quả các vấn đề liên ngành, liên địa phương và thúc đẩy phát triển bền vững ở cơ sở.
Năm là, đẩy mạnh chuyển đổi số và xây dựng công dân số.
Chuyển đổi số cần được xác định là trụ cột quan trọng trong hoàn thiện pháp luật và nâng cao năng lực quản trị địa phương, đặc biệt tại cấp xã, nơi trực tiếp cung ứng dịch vụ công và tương tác với người dân. Trọng tâm là xây dựng và vận hành các nền tảng số, tích hợp và kết nối dữ liệu phục vụ toàn bộ quy trình quản lý nhà nước; phát triển hệ thống cơ sở dữ liệu chuyên ngành bảo đảm đồng bộ, liên thông với các cơ sở dữ liệu quốc gia; đồng thời, đẩy mạnh cung ứng dịch vụ công trực tuyến nhằm nâng cao chất lượng phục vụ người dân và doanh nghiệp.
Trong quá trình chuyển đổi số, UBND cấp xã cần đóng vai trò chủ động trong việc hình thành và phát triển công dân số. Công dân số không chỉ là người sử dụng công nghệ, mà là chủ thể có năng lực tham gia vào các hoạt động kinh tế – xã hội trên môi trường số. Vì vậy, cần tạo lập môi trường thể chế và chính sách phù hợp để phát triển lực lượng công dân có tri thức, kỹ năng số và khả năng thích ứng với cuộc cách mạng công nghiệp 4.0. Việc gắn kết chuyển đổi số với xây dựng chính quyền số không chỉ nâng cao năng lực quản trị của UBND cấp xã mà còn tạo điều kiện để người dân tham gia sâu hơn vào quá trình quản trị và phát triển địa phương.
Sáu là, hoàn thiện cơ chế bảo đảm sự tham gia của người dân trong quản trị địa phương.
Cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về sự tham gia của người dân vào quản trị địa phương, thông qua việc rà soát, sửa đổi các luật liên quan, như: Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở năm 2022, Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015. Đồng thời, cần quy định rõ cơ chế tiếp nhận, xử lý kiến nghị của người dân; thiết lập các kênh phản hồi hiệu quả; đơn giản hóa thủ tục hành chính; xây dựng cơ chế giám sát, đánh giá hoạt động của chính quyền từ phía người dân. Việc bảo đảm sự tham gia thực chất của người dân không chỉ nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm giải trình mà còn góp phần huy động trí tuệ xã hội vào quá trình hoạch định và thực thi chính sách.
4. Kết luận
Đổi mới quản trị địa phương theo hướng hiện đại, hiệu quả được xác định là yêu cầu trọng tâm trong tiến trình cải cách thể chế, gắn với định hướng lớn tại Đại hội XIII và tiếp tục được nhấn mạnh tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. Trong bối cảnh đó, việc hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của UBND cấp xã không chỉ nhằm xử lý các bất cập phát sinh từ quá trình chuyển đổi mô hình chính quyền địa phương hai cấp mà còn là điều kiện nền tảng để hiện thực hóa mục tiêu đổi mới quản trị địa phương ở cơ sở. Việc hoàn thiện pháp luật cần bảo đảm phân định rõ thẩm quyền, gắn phân cấp với kiểm soát quyền lực và nâng cao trách nhiệm giải trình, tạo nền tảng để UBND cấp xã vận hành hiệu lực, hiệu quả, thực sự trở thành thiết chế quản trị gần dân, phục vụ dân và thúc đẩy phát triển trong giai đoạn mới.
Chú thích:
1, 2. Bộ Tư pháp (2025). Báo cáo số 558/BC-BTP ngày 30/9/2025 về sơ kết 2 tháng thực hiện phân cấp, phân quyền và kết quả triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp của Bộ Tư pháp.
Tài liệu tham khảo:
1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2022). Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
2. Ban Tổ chức Trung ương (2025). Báo cáo số 613-BC/BTCTW ngày 29/12/2025 về tiến độ, kết quả hoạt động của bộ máy hệ thống chính trị và chính quyền địa phương hai cấp. Tháng 12/2025.
3. Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập I. II. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
5. Quốc hội (2025). Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025.
6. Quốc hội (2024). Luật Đất đai năm 2024.
7. Quốc hội (2025). Luật Tổ chức Chính phủ năm 2025.
8. Nguyễn Bá Chiến (2026). Chính quyền cấp xã trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Tạp chí Quản lý nhà nước, số 360 (2026). https://doi.org/10.59394/qlnn.360.2026.1398
9. Tư duy hệ thống về cải cách hành chính trong bối cảnh chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam. https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/chinh-tri-xay-dung-dang/-/2018/1113302/tu-duy-he-thong-ve-cai-cach-hanh-chinh-trong-boi-canh-chinh-quyen-dia-phuong-hai-cap-o-viet-nam.aspx#
10. Nâng cao hiệu quả quản lý của chính quyền cấp xã trên địa bàn thành phố Hà Nội. https://www.quanlynhanuoc.vn/2025/06/17/nang-cao-hieu-qua-quan-ly-cua-chinh-quyen-cap-xa-tren-dia-ban-thanh-pho-ha-noi/



