The role of leadership in the development of science, technology, and innovation in the new context: the case of Tuyên Quang province
Trình Thị Thu Thảo
Trường Chính trị tỉnh Tuyên Quang
(Quanlynhanuoc.vn) – Trên cơ sở Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị, các văn kiện của tỉnh và số liệu thực tiễn giai đoạn 2020- 2026, bài viết làm rõ vai trò lãnh đạo của Tỉnh ủy Tuyên Quang trong định hướng chiến lược, cụ thể hóa thể chế, kiện toàn tổ chức chỉ đạo, thúc đẩy chính quyền số, kinh tế số, xã hội số, phát triển nguồn nhân lực số, phổ cập kỹ năng số và định hướng ứng dụng khoa học – công nghệ. Kết quả cho thấy, Tuyên Quang đã đạt nhiều chuyển biến quan trọng, song vẫn còn các điểm nghẽn về hạ tầng số vùng sâu, vùng xa, nhân lực công nghệ thông tin cấp xã, liên thông dữ liệu và nguồn lực đầu tư cho khoa học, công nghệ. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò lãnh đạo của Tỉnh ủy trong giai đoạn 2026-2030.
Từ khóa: Tỉnh ủy; khoa học và công nghệ; đổi mới sáng tạo; chuyển đổi số; Tuyên Quang; Nghị quyết 57-NQ/TW.
Abstract: Based on Resolution No. 57-NQ/TW dated December 22, 2024, issued by the Politburo, provincial documents, and actual data from the 2020–2026 period, this article clarifies the leadership role of the Tuyên Quang Provincial Party Committee in strategic direction, institutional development, strengthening organizational leadership, promoting digital government, the digital economy, and digital society, developing digital human resources, popularizing digital skills, and guiding the application of science and technology. The results show that Tuyên Quang has achieved significant progress, yet challenges remain regarding digital infrastructure in remote and rural areas, IT personnel at the commune level, data interoperability, and investment resources for science and technology. Consequently, the article proposes several solutions to enhance the Provincial Party Committee’s leadership role during the 2026–2030 period.
Keywords: Provincial Party Committee; science and technology; innovation; digital transformation; Tuyen Quang; Resolution 57-NQ/TW.
1. Đặt vấn đề
Từ ngày 01/7/2025, tỉnh Tuyên Quang và tỉnh Hà Giang chính thức hợp nhất thành một đơn vị hành chính cấp tỉnh, lấy tên gọi chung là tỉnh Tuyên Quang. Sau hợp nhất, tỉnh có diện tích tự nhiên 13.795,6 km², dân số 1.865.270 người năm 2025, 124 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 117 xã và 7 phường; đồng thời có đường biên giới quốc gia dài 277,556 km tiếp giáp với tỉnh Vân Nam, Trung Quốc, tạo ra không gian phát triển rộng lớn hơn, song cũng đặt ra yêu cầu mới về quản trị địa bàn miền núi, biên giới, dân cư phân tán, hạ tầng không đồng đều và sự khác biệt lớn giữa các vùng. Trong điều kiện đó, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số không chỉ là yêu cầu hiện đại hóa nền hành chính mà còn là phương thức để Tuyên Quang rút ngắn khoảng cách phát triển, khai thác hiệu quả tiềm năng nông – lâm nghiệp, du lịch, kinh tế cửa khẩu, bảo vệ rừng, quản lý tài nguyên, phòng chống thiên tai, nâng cao chất lượng dịch vụ công và đời sống nhân dân. Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là công cụ để giải quyết những bài toán rất cụ thể của địa phương, từ cải cách thủ tục hành chính, tiêu thụ sản phẩm OCOP, quản lý y tế, giáo dục, đến quản lý biên giới, địa hình chia cắt và vùng sâu, vùng xa.
2. Yêu cầu đổi mới vai trò lãnh đạo của Tỉnh ủy
Vai trò lãnh đạo của Tỉnh ủy đối với phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo có thể được hiểu trên năm phương diện cơ bản. (1) Vai trò định hướng chiến lược, tức là xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực phát triển, đưa nội dung này vào nghị quyết, chương trình, kế hoạch và các khâu đột phá của địa phương. (2) Vai trò thể chế hóa, cụ thể hóa chủ trương của Trung ương thành cơ chế, chính sách, chỉ tiêu, nhiệm vụ và mô hình triển khai phù hợp với điều kiện địa phương. (3) Vai trò tổ chức thực hiện, thông qua kiện toàn ban chỉ đạo, phân công nhiệm vụ, xác định trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền, sở, ngành, xã, phường và người đứng đầu. (4) Vai trò huy động nguồn lực, bao gồm ngân sách, doanh nghiệp, hợp tác xã, đội ngũ trí thức, tổ công nghệ số cộng đồng, đoàn viên thanh niên và nhân dân. (5) Vai trò kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả theo tiến độ, sản phẩm cụ thể và mức độ phục vụ người dân, doanh nghiệp.
Nghị quyết số 57-NQ/TW nhấn mạnh người đứng đầu phải trực tiếp phụ trách, chỉ đạo; nhiệm vụ chuyển đổi số, phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo phải được xác định cụ thể trong chương trình, kế hoạch công tác hằng năm; kết quả thực hiện là tiêu chí đánh giá hiệu quả nhiệm vụ, thi đua, khen thưởng. Nghị quyết cũng xác định thể chế, nhân lực, hạ tầng, dữ liệu và công nghệ chiến lược là các nội dung trọng tâm, cốt lõi; trong đó thể chế là điều kiện tiên quyết, dữ liệu là tư liệu sản xuất quan trọng, còn bảo đảm an ninh mạng, an toàn dữ liệu là yêu cầu xuyên suốt. Đây là căn cứ quan trọng để đánh giá vai trò của cấp ủy địa phương trong lãnh đạo lĩnh vực này.
Ở cấp quốc gia, Nghị quyết số 57-NQ/TW đã đặt ra yêu cầu phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số như một cuộc cách mạng sâu sắc, toàn diện, triển khai đồng bộ trên tất cả các lĩnh vực. Điều này đòi hỏi cấp ủy địa phương không chỉ quán triệt nghị quyết mà còn phải chuyển hóa thành chương trình hành động cụ thể, có chỉ tiêu đo lường, cơ chế tổ chức, nguồn lực và kiểm tra, giám sát. Nếu chỉ dừng lại ở việc ban hành văn bản, khoa học và công nghệ dễ trở thành khẩu hiệu; ngược lại, khi gắn với bài toán cụ thể của địa phương, đổi mới sáng tạo có thể trở thành động lực thực chất cho phát triển.
Việc hợp nhất Tuyên Quang và Hà Giang mở rộng đáng kể quy mô lãnh thổ, dân số, tiềm năng du lịch, nông nghiệp đặc sản, kinh tế biên giới và không gian văn hóa đa dân tộc. Đồng thời, do quy mô địa bàn rộng, địa hình chia cắt, nhiều vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, nên độ phức tạp trong quản trị cũng gia tăng. Những vấn đề như cung cấp dịch vụ công, quản lý đất đai, bảo vệ rừng, giám sát biên giới, phòng chống thiên tai, kết nối dữ liệu, bảo đảm sóng di động, điện lưới và kỹ năng số cho người dân không thể giải quyết hiệu quả nếu thiếu sự hỗ trợ của công nghệ.
Sau sắp xếp đơn vị hành chính, tỉnh Tuyên Quang mới có 124 đơn vị hành chính cấp xã. Điều này đòi hỏi các cấp ủy phải lãnh đạo mạnh mẽ quá trình chuẩn hóa dữ liệu, liên thông hệ thống thông tin, đào tạo cán bộ cơ sở, tổ chức cung cấp dịch vụ công trực tuyến và hỗ trợ người dân sử dụng các tiện ích số. Càng ở địa bàn miền núi, vai trò của cấp ủy trong bảo đảm chuyển đổi số bao trùm càng quan trọng, bởi nếu chỉ dựa vào khả năng tự tiếp cận của người dân, nhóm yếu thế, người cao tuổi, đồng bào dân tộc thiểu số và người dân vùng sâu, vùng xa có thể bị bỏ lại phía sau.
Từ các yêu cầu trên, vai trò lãnh đạo của Tỉnh ủy cần được nhìn nhận theo hướng mới. Tỉnh ủy không làm thay chính quyền hay cơ quan chuyên môn, nhưng giữ vai trò kiến tạo, xác lập quyết tâm, điều phối hệ thống, kiểm tra trách nhiệm và tạo áp lực đổi mới. Lãnh đạo trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo không chỉ là lãnh đạo bằng nghị quyết mà còn là lãnh đạo bằng dữ liệu, bằng kết quả, bằng sản phẩm cụ thể và bằng sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp.
3. Thực tiễn vai trò lãnh đạo của Tỉnh ủy Tuyên Quang
3.1. Lãnh đạo cụ thể hóa chủ trương của Trung ương và xác lập định hướng phát triển
Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030, xác định yêu cầu tập trung xây dựng, hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm tạo môi trường thuận lợi cho nghiên cứu, phát triển, ứng dụng và chuyển giao khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, phù hợp với điều kiện của địa phương. Giai đoạn 2020-2025, tỉnh đã ban hành nhiều nghị quyết, chương trình, kế hoạch về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; riêng năm 2025, Ban Thường vụ Tỉnh ủy ban hành 4 quyết định, 2 kế hoạch và 3 văn bản chỉ đạo trong lĩnh vực này.
Điều này cho thấy, vai trò lãnh đạo của Tỉnh ủy được thể hiện trước hết ở việc đưa khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo từ một lĩnh vực chuyên môn thành một nhiệm vụ chính trị trọng tâm. Việc ban hành văn bản không chỉ có ý nghĩa thủ tục mà tạo cơ sở chính trị, pháp lý và tổ chức để các sở, ngành, xã, phường triển khai thống nhất. Đặc biệt, trong điều kiện tỉnh mới hợp nhất, việc xác lập định hướng chung có ý nghĩa quan trọng để tránh phân tán nguồn lực, bảo đảm tính liên thông giữa các vùng, các ngành và các cấp chính quyền.
Vai trò định hướng của Tỉnh ủy cũng được thể hiện trong việc gắn khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo với các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh. Trong mục tiêu đến năm 2030, tỉnh xác định tỷ trọng kinh tế số đạt tối thiểu 20% GRDP, đồng thời coi thúc đẩy chuyển đổi số, ứng dụng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là một trong các khâu đột phá. Đây là cơ sở quan trọng để chuyển đổi số không dừng ở cải cách hành chính mà trở thành một thành tố của mô hình tăng trưởng địa phương.
3.2. Lãnh đạo kiện toàn tổ chức chỉ đạo và phân công trách nhiệm
Vai trò lãnh đạo của Tỉnh ủy không chỉ nằm ở việc ban hành chủ trương mà còn ở năng lực tổ chức thực hiện. Đến năm 2025, toàn tỉnh có 16 sở, ngành và 124 xã thành lập Ban Chỉ đạo chuyển đổi số. Nhiều cơ quan, đơn vị xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện các nghị quyết của Trung ương và Chính phủ về chuyển đổi số. Việc kiện toàn bộ máy chỉ đạo từ tỉnh đến cơ sở cho thấy chuyển đổi số, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo không còn là nhiệm vụ riêng của ngành khoa học và công nghệ, mà đã trở thành nhiệm vụ của toàn hệ thống chính trị.
Tại phiên họp chuyên đề của Ban Chỉ đạo phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tỉnh ngày 23/10/2025, đồng chí Bí thư Tỉnh ủy Hầu A Lềnh, Trưởng Ban Chỉ đạo, chủ trì phiên họp. Báo cáo tại phiên họp cho biết sau 9 tháng năm 2025, trong 20 nhiệm vụ triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW, tỉnh đã hoàn thành 12 nhiệm vụ, 8 nhiệm vụ đang thực hiện trong hạn; trong 102 nhiệm vụ theo Thông báo kết luận của Ban Chỉ đạo Trung ương, tỉnh đã hoàn thành 41 nhiệm vụ, 61 nhiệm vụ đang triển khai trong hạn.
Những con số trên cho thấy, Tuyên Quang đã chuyển từ trạng thái quán triệt chủ trương sang trạng thái theo dõi nhiệm vụ cụ thể. Vai trò người đứng đầu được đặt ở vị trí trung tâm. Kết luận phiên họp yêu cầu rà soát tất cả nhiệm vụ chưa hoàn thành, xây dựng kế hoạch hành động ngay, phân công rõ đến từng cá nhân, bộ phận, có sản phẩm cụ thể, công khai tiến độ, trách nhiệm và gắn với đánh giá cán bộ. Đây là cách tiếp cận phù hợp với yêu cầu quản trị theo kết quả mà Nghị quyết số 57-NQ/TW đặt ra.
3.3. Lãnh đạo phát triển chính quyền số và cải cách hành chính
Chính quyền số là một trong những lĩnh vực thể hiện rõ nhất tác động của lãnh đạo cấp ủy đối với đổi mới quản trị địa phương. Đến năm 2025, toàn tỉnh Tuyên Quang có 2.172 thủ tục hành chính được áp dụng, 2.070 dịch vụ công trực tuyến được cung cấp, 1.947 thủ tục hành chính được giải quyết theo cơ chế “một cửa”, 883 thủ tục hành chính đã xây dựng quy trình liên thông; bộ chỉ số đánh giá chất lượng phục vụ người dân và doanh nghiệp trong thực hiện thủ tục hành chính đạt 89,44 điểm, xếp thứ 15/34 tỉnh, thành phố.
Cùng với đó, hạ tầng, nền tảng số phục vụ quản lý, điều hành được đầu tư đồng bộ hơn. Hệ thống quản lý văn bản và điều hành có khoảng 23.555 tài khoản đang hoạt động; toàn tỉnh duy trì 162 điểm cầu hội nghị trực tuyến từ tỉnh đến xã. Đây là những chỉ báo quan trọng cho thấy việc ứng dụng công nghệ số đã tác động trực tiếp đến quy trình xử lý công việc của bộ máy hành chính, góp phần giảm thời gian, chi phí, tăng tính công khai, minh bạch và nâng cao hiệu quả chỉ đạo, điều hành.
Ở cấp độ gần hơn với người dân, kết quả cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được ghi nhận trong năm 2026. Trong cải cách thủ tục hành chính, trên 95% thủ tục hành chính được cung cấp trực tuyến; tỷ lệ hồ sơ nộp trực tuyến đạt trên 91%; tỷ lệ giải quyết hồ sơ trước hạn đạt trên 97%; tỷ lệ số hóa hồ sơ, kết quả đạt gần 90%. Những kết quả này cho thấy quá trình lãnh đạo chuyển đổi số đã bước đầu chuyển từ xây dựng nền tảng sang cải thiện hiệu quả phục vụ.
Tuy nhiên, chính quyền số chỉ có ý nghĩa thực chất khi người dân có khả năng tiếp cận và sử dụng. Vì vậy, vai trò của Tỉnh ủy không chỉ là chỉ đạo xây dựng hệ thống kỹ thuật mà còn phải lãnh đạo thay đổi phương thức phục vụ, nâng cao năng lực cán bộ, phổ cập kỹ năng số và bảo đảm không để nhóm dân cư yếu thế bị loại khỏi quá trình chuyển đổi.
3.4. Lãnh đạo phát triển kinh tế số, xã hội số và ứng dụng công nghệ vào đời sống
Trong lĩnh vực kinh tế số, Tuyên Quang đã có những chuyển biến đáng chú ý. Đến năm 2025, 100% sản phẩm OCOP của tỉnh được đưa lên sàn thương mại điện tử; khoảng 296.000 tài khoản ví điện tử đang hoạt động; 100% doanh nghiệp sử dụng hóa đơn điện tử; tỷ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên có tài khoản giao dịch điện tử đạt khoảng 85%. Những số liệu này cho thấy, chuyển đổi số đã bắt đầu thâm nhập vào hoạt động kinh doanh, thanh toán, tiêu thụ nông sản, quản lý doanh nghiệp và đời sống kinh tế của người dân.
Đối với một tỉnh miền núi, kinh tế số có ý nghĩa đặc biệt. Các sản phẩm nông nghiệp, dược liệu, mật ong, chè Shan tuyết, cam, bưởi, sản phẩm OCOP nếu chỉ tiêu thụ qua kênh truyền thống sẽ chịu giới hạn lớn về thị trường. Khi được gắn với mã QR, truy xuất nguồn gốc, thương mại điện tử, thanh toán số và quảng bá trên nền tảng số, các sản phẩm địa phương có cơ hội tiếp cận thị trường rộng hơn, nâng cao giá trị và giảm phụ thuộc vào khâu trung gian.
Trong giai đoạn 2020-2025, Tuyên Quang triển khai hơn 100 đề tài, dự án khoa học với tổng kinh phí trên 110 tỷ đồng; nhiều công trình ứng dụng vào công nghệ sinh học, bảo quản sau thu hoạch, nâng cao chất lượng chè Shan tuyết, cam Sành, bưởi Soi Hà, na dai, mật ong, dược liệu. Tỉnh cũng có hơn 650 sản phẩm được bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, trong đó có 12 chỉ dẫn địa lý, 18 nhãn hiệu chứng nhận và hàng trăm nhãn hiệu tập thể. Những kết quả này phản ánh mối quan hệ giữa khoa học công nghệ, sở hữu trí tuệ, thương mại hóa sản phẩm và phát triển kinh tế địa phương.
Ở lĩnh vực xã hội số, chuyển đổi số được triển khai trong giáo dục, y tế, quản lý dân cư, dịch vụ công và an sinh xã hội. Đến năm 2025, toàn tỉnh có 13/35 cơ sở khám, chữa bệnh có giường bệnh triển khai hồ sơ bệnh án điện tử; số sổ sức khỏe điện tử tích hợp trên VNeID đạt 882.648/920.880 nhân khẩu. Đây là kết quả có ý nghĩa xã hội rõ rệt, bởi y tế số, hồ sơ sức khỏe điện tử và định danh điện tử giúp giảm thủ tục, tăng khả năng quản lý sức khỏe, hỗ trợ người dân tiếp cận dịch vụ thuận tiện hơn. Đến tháng 3/2026, toàn tỉnh có 11 tổ chức khoa học – công nghệ đang hoạt động, 5 doanh nghiệp được chứng nhận doanh nghiệp khoa học – công nghệ; tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GRDP năm 2025 đạt 7,39% và phấn đấu đạt 7,71% trong năm 2026. Đây là những chỉ báo quan trọng, cho thấy Tuyên Quang đã có nền tảng bước đầu, nhưng quy mô kinh tế số vẫn còn khiêm tốn so với mục tiêu tối thiểu 20% GRDP vào năm 2030.
3.5. Lãnh đạo phổ cập kỹ năng số và phát huy vai trò của cộng đồng
Một trong những điểm nổi bật của Tuyên Quang là triển khai Phong trào “Bình dân học vụ số”. Ngày 09/9/2025, Ban Thường vụ Tỉnh ủy ban hành Kế hoạch số 47-KH/TU, xác định mục tiêu, lộ trình và trách nhiệm của từng cấp, từng ngành trong triển khai phong trào. Các cơ quan, đơn vị đã đăng tải gần 1.000 tin, bài, chuyên đề, phóng sự, infographic, video, megastory nhằm lan tỏa tinh thần học tập số trong cộng đồng.
Phong trào được triển khai bằng nhiều hình thức như “Ngày hội toàn dân học tập số” vào dịp 10/10 hằng năm, các cuộc thi trực tuyến tìm hiểu chuyển đổi số và Nghị quyết số 57-NQ/TW, các lớp tập huấn kỹ năng số ở cấp tỉnh và cơ sở. Tỉnh đã tổ chức 5 hội nghị, 3 lớp tập huấn cấp tỉnh và 56 lớp tập huấn ở cơ sở cho trên 26.700 lượt người, trang bị kiến thức chuyển đổi số, kỹ năng số và ứng dụng AI theo phương châm “cầm tay chỉ việc”.
Đặc biệt, toàn tỉnh hiện có 2.030 tổ công nghệ số cộng đồng cấp xã, thôn với 18.900 thành viên, giữ vai trò nòng cốt trong phổ cập kỹ năng số ở cơ sở. Riêng trong Tháng Thanh niên và Chiến dịch Thanh niên tình nguyện hè năm 2025, tỉnh thành lập và duy trì 185 đội hình thanh niên tình nguyện “Bình dân học vụ số”, thu hút trên 7.800 đoàn viên thanh niên, tổ chức hơn 30 buổi tập huấn, hỗ trợ 15.865 người dân phổ cập kỹ năng số và 210.450 lượt người trưởng thành cài đặt, sử dụng chữ ký số cá nhân. Ở đây, vai trò lãnh đạo của Tỉnh ủy được thể hiện không chỉ qua chỉ đạo hành chính mà còn qua công tác dân vận số. Chuyển đổi số thành công không thể chỉ dựa vào phần mềm, thiết bị hoặc trung tâm dữ liệu, phụ thuộc rất lớn vào khả năng thay đổi hành vi của người dân. Các mô hình như “Ngày thứ Bảy số”, “Chợ phiên số – Nông thôn số”, “Mỗi thôn một điểm hỗ trợ kỹ năng số”, “Học tập suốt đời” tại trung tâm học tập cộng đồng giúp đưa công nghệ đến gần đời sống, biến đổi mới sáng tạo từ khái niệm thành hành động cụ thể.
3.6. Lãnh đạo định hướng ứng dụng công nghệ chiến lược
Một nét mới trong lãnh đạo phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo ở Tuyên Quang là định hướng đưa công nghệ chiến lược vào giải quyết các bài toán đặc thù của địa phương. Ngày 04/02/2026, Cổng Thông tin điện tử tỉnh Tuyên Quang cho biết UBND tỉnh ban hành Kế hoạch thực hiện Chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia phát triển sản phẩm công nghệ chiến lược ưu tiên triển khai ngay trên địa bàn tỉnh. Kế hoạch đặt mục tiêu đưa các sản phẩm công nghệ chiến lược như thiết bị bay không người lái, camera trí tuệ nhân tạo, robot tự hành, trợ lý ảo, hạ tầng 5G, blockchain vào giải quyết các bài toán địa phương. Kế hoạch này không tiếp cận công nghệ như một danh mục trưng bày mà gắn với nhu cầu rất cụ thể: quản lý địa bàn rộng, địa hình chia cắt, giám sát biên giới, bảo vệ rừng và tài nguyên khoáng sản, phòng chống thiên tai, nâng cao giá trị nông nghiệp chủ lực, tối ưu hóa quy hoạch đô thị, giao thông và hiện đại hóa nền hành chính phục vụ người dân, doanh nghiệp.
Trong đó, UAV được định hướng để phục vụ phun thuốc, bón phân cho vùng sản xuất tập trung, giám sát cháy rừng, khoáng sản, nguồn nước, trinh sát, tuần tra biên giới, cứu hộ, cứu nạn vùng núi cao. AI Camera được định hướng ứng dụng trong an ninh, giao thông, du lịch, giáo dục; robot và trợ lý ảo được định hướng phục vụ y tế, giáo dục, dịch vụ công; blockchain và big data được định hướng phục vụ cơ sở dữ liệu chăn nuôi, kê khai, truy xuất nguồn gốc sản phẩm nông nghiệp.
Năm 2026 là giai đoạn chuẩn bị và thí điểm thực hiện; giai đoạn 2027-2028 tập trung nhân rộng mô hình hiệu quả, mở rộng ứng dụng UAV và AI Camera, chuẩn hóa phối hợp và chia sẻ dữ liệu; giai đoạn 2029-2030 tích hợp các hạng mục công nghệ chiến lược vào hệ thống điều hành giao thông và đô thị thông minh của tỉnh. Đây là biểu hiện quan trọng của tư duy lãnh đạo mới: từ ứng dụng công nghệ đơn lẻ sang lựa chọn công nghệ theo bài toán, theo lộ trình và theo khả năng tích hợp vào quản trị địa phương.
4. Hạn chế và nguyên nhân
Một là, hạ tầng số ở một số địa bàn cơ sở, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng cao, vùng biên giới chưa đồng bộ; khó khăn về cơ sở vật chất, trang thiết bị và hạ tầng kỹ thuật của một số Trung tâm phục vụ hành chính công cấp xã; một số thôn chưa có điện, chưa có sóng di động, ảnh hưởng đến công tác chuyển đổi số. Đây là điểm nghẽn có tính nền tảng, bởi thiếu điện, thiếu sóng, thiếu thiết bị thì dịch vụ số khó đi vào thực chất.
Hai là, nguồn nhân lực chuyển đổi số, nhất là ở cấp xã, còn hạn chế. Nguồn nhân lực chuyển đổi số chất lượng chưa cao, thiếu cán bộ chuyên trách công nghệ thông tin tại cấp xã; nhiều người dân chưa biết sử dụng máy vi tính, không có điện thoại thông minh hoặc tài khoản ngân hàng dẫn đến khó khăn trong thao tác và thanh toán trực tuyến khi thực hiện dịch vụ hành chính công. Điều này cho thấy, khoảng cách số không chỉ là khoảng cách hạ tầng mà còn là khoảng cách kỹ năng, thiết bị và khả năng sử dụng.
Ba là, dữ liệu và nền tảng số chưa thật sự liên thông. Một số nền tảng số và cơ sở dữ liệu chuyên ngành do bộ, ngành triển khai còn thiếu hướng dẫn, chưa thống nhất, chưa đồng bộ, chưa được chuẩn hóa sau sáp nhập. Đối với tỉnh mới hợp nhất, vấn đề chuẩn hóa dữ liệu càng phức tạp vì phải tích hợp dữ liệu từ 2 địa phương cũ, đồng bộ hóa quy trình và bảo đảm tính liên thông từ tỉnh đến xã.
Bốn là, quy mô kinh tế số và năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp còn cần tiếp tục mở rộng. Mặc dù tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GRDP năm 2025 đạt 7,39% và mục tiêu năm 2026 là 7,71%, khoảng cách đến mục tiêu tối thiểu 20% GRDP vào năm 2030 vẫn còn lớn. Điều này đòi hỏi Tỉnh ủy phải lãnh đạo mạnh mẽ hơn quá trình đưa công nghệ vào sản xuất, kinh doanh, nông nghiệp, du lịch, thương mại, logistics, dịch vụ công và quản trị dữ liệu.
Nguyên nhân của các hạn chế trên có cả yếu tố khách quan và chủ quan. Về khách quan, Tuyên Quang là tỉnh miền núi, biên giới, địa bàn rộng, dân cư phân tán, địa hình chia cắt, nhiều xã vùng sâu, vùng xa. Chi phí đầu tư hạ tầng số, điện, sóng, thiết bị, trung tâm dữ liệu và đào tạo nhân lực cao hơn so với các địa phương đô thị hoặc đồng bằng. Về chủ quan, một số cấp ủy, chính quyền cơ sở còn lúng túng trong chuyển từ triển khai nhiệm vụ theo đầu việc sang quản trị theo kết quả; cán bộ công nghệ thông tin cấp xã còn thiếu và nhiều người phải kiêm nhiệm; năng lực phối hợp liên ngành, chia sẻ dữ liệu, thiết kế mô hình đổi mới sáng tạo còn cần nâng cao.
5. Một số giải pháp
Thứ nhất, tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Tỉnh ủy theo hướng lấy dữ liệu, kết quả và sản phẩm cụ thể làm thước đo. Tỉnh ủy cần lãnh đạo xây dựng bảng chỉ tiêu về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số gắn với từng lĩnh vực: dịch vụ công, y tế, giáo dục, nông nghiệp, du lịch, tài nguyên môi trường, an ninh biên giới, doanh nghiệp, hợp tác xã. Mỗi chỉ tiêu cần có đơn vị chịu trách nhiệm, thời hạn, nguồn lực, sản phẩm đầu ra và cơ chế giám sát. Cách tiếp cận này phù hợp với yêu cầu “rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm, rõ thẩm quyền” được nêu tại phiên họp Ban Chỉ đạo của Chính phủ năm 2026.
Thứ hai, ban hành hoặc hoàn thiện chương trình chuyên đề cấp tỉnh về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số giai đoạn 2026-2030. Chương trình này cần cụ thể hóa mục tiêu kinh tế số tối thiểu 20% GRDP vào năm 2030, đồng thời xác định các trụ cột ưu tiên: chính quyền số, nông nghiệp số, du lịch thông minh, quản lý tài nguyên và môi trường bằng dữ liệu, y tế số, giáo dục số, kinh tế cửa khẩu số, thương mại điện tử, truy xuất nguồn gốc, sở hữu trí tuệ và khởi nghiệp đổi mới sáng tạo.
Thứ ba, ưu tiên phát triển hạ tầng số vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới. Đây phải được coi là điều kiện công bằng phát triển, không chỉ là nhiệm vụ kỹ thuật. Tỉnh ủy cần lãnh đạo rà soát các “vùng lõm” về điện, sóng di động, internet băng rộng, thiết bị phục vụ dịch vụ công tại xã, thôn; huy động doanh nghiệp viễn thông, ngân hàng, doanh nghiệp công nghệ và nguồn lực xã hội tham gia. Nếu không giải quyết nền tảng hạ tầng, chuyển đổi số dễ tập trung ở khu vực đô thị, trong khi vùng khó khăn tiếp tục tụt lại.
Thứ tư, phát triển nguồn nhân lực số và đội ngũ cán bộ cơ sở. Tỉnh cần có chương trình đào tạo bắt buộc về kỹ năng số, an toàn thông tin, dữ liệu, trí tuệ nhân tạo ứng dụng và vận hành dịch vụ công trực tuyến cho cán bộ cấp xã. Đồng thời, cần có chính sách thu hút cán bộ công nghệ thông tin, chuyên gia dữ liệu, chuyên gia an toàn thông tin, kỹ sư trẻ về làm việc tại các cơ quan nhà nước, trung tâm dữ liệu, đơn vị sự nghiệp và doanh nghiệp địa phương. Việc Bí thư Tỉnh ủy giao Sở Nội vụ, Sở Tài chính phối hợp xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, thu hút nhân tài làm việc trong lĩnh vực chuyển đổi số là định hướng cần được cụ thể hóa thành chính sách dài hạn.
Thứ năm, xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo địa phương. Tuyên Quang cần phát triển mô hình liên kết giữa chính quyền, doanh nghiệp, hợp tác xã, trường đại học, viện nghiên cứu, tổ công nghệ số cộng đồng, đoàn thanh niên và đội ngũ trí thức. Hệ sinh thái này cần tập trung vào các bài toán địa phương có khả năng tạo giá trị: nâng cao chất lượng nông sản, phát triển sản phẩm OCOP, truy xuất nguồn gốc bằng blockchain, du lịch thông minh, bảo vệ rừng bằng UAV, quản lý thiên tai, giáo dục vùng cao, chuyển ngữ tiếng dân tộc bằng trợ lý ảo, y tế số và dịch vụ công lưu động.
Thứ sáu, đẩy mạnh thương mại hóa kết quả khoa học, công nghệ và bảo hộ tài sản trí tuệ. Với hơn 650 sản phẩm được bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, Tuyên Quang có cơ sở để phát triển thương hiệu địa phương, song cần tiếp tục gắn sở hữu trí tuệ với tiêu chuẩn chất lượng, mã QR, truy xuất nguồn gốc, thương mại điện tử, du lịch trải nghiệm và xuất khẩu. Tỉnh ủy cần lãnh đạo để các chương trình khoa học công nghệ không dừng ở nghiệm thu đề tài, mà tạo ra sản phẩm, mô hình, doanh nghiệp, hợp tác xã và giá trị gia tăng thực tế.
Thứ bảy, tăng cường kiểm tra, giám sát và sơ kết chuyên đề. Tỉnh ủy cần định kỳ kiểm tra việc thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW, đặc biệt ở cấp xã, nơi trực tiếp tiếp xúc với người dân. Kiểm tra không chỉ để phát hiện hạn chế, mà còn để tháo gỡ vướng mắc về hạ tầng, nhân lực, kinh phí, dữ liệu, quy trình phối hợp. Các mô hình hiệu quả như “Bình dân học vụ số”, “Ngày thứ Bảy số”, “Chợ phiên số – Nông thôn số”, tổ công nghệ số cộng đồng cần được đánh giá bằng số liệu cụ thể, sau đó nhân rộng có chọn lọc.
6. Kết luận
Trong bối cảnh mới, vai trò của Tỉnh ủy trong lãnh đạo phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo không thể hiểu giản đơn là ban hành nghị quyết hoặc chỉ đạo chung. Vai trò đó cần được nhìn nhận như một quá trình lãnh đạo toàn diện: định hướng chiến lược, cụ thể hóa thể chế, tổ chức bộ máy, phân công trách nhiệm, huy động nguồn lực, phát triển nhân lực, thúc đẩy hạ tầng và dữ liệu, kiểm tra, giám sát, đánh giá theo kết quả. Đối với Tuyên Quang, yêu cầu này càng cấp thiết do tỉnh mới hợp nhất có địa bàn rộng, dân cư phân tán, nhiều vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới và nhu cầu quản trị số ngày càng lớn.
Thực tiễn, Tỉnh ủy Tuyên Quang đã từng bước thể hiện vai trò trung tâm trong lãnh đạo phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Việc ban hành các văn bản chỉ đạo, kiện toàn ban chỉ đạo từ tỉnh đến cơ sở, triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW, phát triển chính quyền số, kinh tế số, xã hội số, phổ cập kỹ năng số, thúc đẩy tổ công nghệ số cộng đồng và định hướng ứng dụng công nghệ chiến lược đã tạo ra những chuyển biến rõ rệt. Các số liệu về dịch vụ công trực tuyến, thủ tục hành chính, hệ thống quản lý văn bản, sản phẩm OCOP trên sàn thương mại điện tử, tài khoản ví điện tử, hồ sơ bệnh án điện tử, sổ sức khỏe điện tử, phong trào “Bình dân học vụ số” cho thấy, khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo đã bước đầu đi vào đời sống quản trị và đời sống xã hội.
Tuy nhiên, Tuyên Quang vẫn đối mặt với những điểm nghẽn về hạ tầng số cơ sở, vùng lõm điện và sóng, thiếu nhân lực công nghệ thông tin cấp xã, dữ liệu chưa liên thông, năng lực số của một bộ phận người dân còn hạn chế và quy mô kinh tế số còn khiêm tốn so với mục tiêu đến năm 2030. Vì vậy, trong giai đoạn tới, Tỉnh ủy cần tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo theo hướng dữ liệu hóa, kết quả hóa và trách nhiệm hóa; đồng thời bảo đảm chuyển đổi số bao trùm, gắn đổi mới sáng tạo với các bài toán phát triển cụ thể của địa phương. Khi khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được lãnh đạo bằng quyết tâm chính trị, tổ chức thực hiện chặt chẽ và đo lường bằng kết quả phục vụ người dân, doanh nghiệp, Tuyên Quang sẽ có thêm động lực để phát triển nhanh, bền vững và rút ngắn khoảng cách với các địa phương phát triển hơn.
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Tập I. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 205
3. Tuyên Quang tăng tốc thúc đẩy đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. https://mst.gov.vn/tuyen-quang-tang-toc-thuc-day-doi-moi-sang-tao-va-chuyen-doi-so-197260416091228116.htm
4. Tổng quan về tỉnh Tuyên Quang mới. https://www.tuyenquang.gov.vn/vi/post/tong-quan-ve-tinh-tuyen-quang-moi?type=NEWS&id=152390
5. Tuyên Quang triển khai Chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia phát triển sản phẩm công nghệ chiến lược. https://www.tuyenquang.gov.vn/vi/post/tuyen-quang-trien-khai-chuong-trinh-khoa-hoc-cong-nghe-va-doi-moi-sang-tao-quoc-gia-phat-trien-san-pham-cong-nghe-chien-luoc?type=NEWS&id=209687
6. Phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm tại buổi gặp mặt trí thức, nhà khoa học. https://baochinhphu.vn/phat-bieu-cua-tong-bi-thu-to-lam-tai-buoi-gap-mat-tri-thuc-nha-khoa-hoc-102241230132621815.htm



