Discussing the concept of “People’s hearts and minds posture” in the documents of the 14th National Party Congress
TS. Trung tá, Bùi Trung Hiếu
Học viện An ninh nhân dân
(Quanlynhanuoc.vn) – Thuật ngữ “thế trận lòng dân” lần đầu tiên được đưa ra tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng; đồng thời, được khẳng định tại các kỳ Đại hội tiếp theo, đặc biệt là Đại hội XIV của Đảng. Đây là cơ sở quan trọng để triển khai xây dựng “thế trận lòng dân” trên thực tế nhằm bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, quan niệm về “thế trận lòng dân” vẫn còn có những điểm chưa được thống nhất và cần phải làm rõ. Bài viết phân tích làm rõ nội hàm của “thế trận lòng dân”; đồng thời, cũng chỉ ra những khó khăn, vướng mắc trong xây dựng “thế trận lòng dân” và đề xuất một số giải pháp.
Từ khóa: “Lòng dân”; “thế trận lòng dân”; Đại hội XIV của Đảng.
Abstract: The term “People’s hearts and minds posture” was first introduced at the 10th National Congress of the Communist Party of Vietnam and has been consistently reaffirmed in subsequent congresses, particularly at the 14th National Party Congress. This constitutes an important foundation for the practical implementation of building the “People’s hearts and minds posture” to firmly safeguard the socialist Vietnamese Fatherland. However, perceptions of the concept “People’s hearts and minds posture” remain inconsistent and require further clarification. This article analyzes and clarifies the concept and connotations of “People’s hearts and minds posture”, identifies difficulties and obstacles in building the “People’s hearts and minds posture”, and proposes several solutions to overcome these challenges.
Keywords: “People’s hearts and minds”; “People’s hearts and minds posture”; 14th National Party Congress.
1. Đặt vấn đề
Lịch sử dựng nước và giữ nước cho thấy, dân tộc Việt Nam luôn phải chống lại những thế lực ngoại xâm lớn mạnh, kẻ thù xâm lược không chỉ có âm mưu thôn tính, đặt ách thống trị và bóc lột mà còn âm mưu đồng hóa nhằm xóa đi cả ý thức dân tộc, nền văn hóa – cội nguồn, tinh thần và ý chí chiến đấu của dân tộc. Vì vậy, yếu tố “lòng dân” mà cốt lõi là tinh thần yêu nước, đoàn kết dân tộc, ý chí chiến đấu của toàn dân có vai trò vô cùng to lớn trong sự nghiệp giữ nước.
Trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc, việc phát huy sức mạnh của “thế trận lòng dân” đóng vai trò như một nguồn sức mạnh nội sinh là yếu tố quan trọng và quyết định làm nên thắng lợi vẻ vang của dân tộc ta. Những mốc son chói lọi của công cuộc dựng nước và giữ nước hàng ngàn năm đã chứng minh cho bài học kinh nghiệm mà ông cha ta đã đúc kết: “Khi lòng dân thuận thì nước mạnh, lòng dân ly tán thì nước yếu”. Đặc biệt coi trọng “lòng dân”, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định lòng yêu nước, sự đoàn kết của toàn dân là một lực lượng vô địch trong sự nghiệp giữ nước Việt Nam: “Lòng yêu nước và sự đoàn kết của nhân dân là một lực lượng vô cùng to lớn, không ai thắng nổi”1. Đồng thời, Người khẳng định: “Lực lượng và sức mạnh chính là ở dân”, “Có dân là có tất cả”. Mọi việc đều bắt nguồn từ dân, “lấy dân làm gốc” là bài học lớn được đúc kết suốt chiều dài lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc.
Ngày nay, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa đòi hỏi phải xây dựng sức mạnh tổng hợp của đất nước, trong đó sức mạnh chính trị – tinh thần, sự đồng lòng của toàn thể dân tộc là nhân tố nền tảng. Trong các kỳ Đại hội, Đảng đều khẳng định yếu tố “lòng dân”, “lấy dân làm gốc”, đặc biệt tại Đại hội lần thứ XIV, Đảng đã khẳng định một quan điểm cơ bản trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là “Xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân, xây dựng thế trận lòng dân”2. Vì vậy, nghiên cứu khái niệm “thế trận lòng dân”, làm rõ nội hàm của “thế trận lòng dân” có giá trị lý luận sâu sắc, góp phần quán triệt và thực hiện thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa mà Đảng đã xác định trong Đại hội Đảng lần thứ XIV.
2. Nội dung “thế trận lòng dân” trong các Văn kiện Đại hội của Đảng
“Thế trận lòng dân” lần đầu tiên được nêu lên trong Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng. Trong Phần VIII (Tăng cường quốc phòng và an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa) của Báo cáo Chính trị đã xác định: “Xây dựng “thế trận lòng dân” làm nền tảng phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là nòng cốt”3. Mặc dù từ Đại hội IX của Đảng trở về trước, Đảng ta chưa sử dụng thuật ngữ “thế trận lòng dân”, nhưng tư tưởng “dựa vào dân”, “lấy dân làm gốc” luôn nhất quán, xuyên suốt trong đường lối cách mạng của Đảng, Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (khóa IX) về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, Đảng khẳng định: “Sức mạnh của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới chính là sức mạnh tổng hợp. Trong đó, sức mạnh bên trong của đất nước, sức mạnh của chế độ chính trị, sự trong sạch đội ngũ cán bộ và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc là nhân tố quyết định”4. Đến Đại hội X, Đảng chủ trương: Xây dựng “thế trận lòng dân” làm nền tảng phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc. Tại Đại hội XI, Đảng chỉ rõ: “Tăng cường sức mạnh quốc phòng, an ninh cả về tiềm lực và thế trận; xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố vững mạnh; xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc trong thực hiện Chiến lược bảo vệ Tổ quốc”5.
Để tăng cường “thế trận lòng dân” đáp ứng yêu cầu mới của cách mạng, Văn kiện Đại hội XII của Đảng tiếp tục nhấn mạnh xây dựng “thế trận lòng dân”, tạo nền tảng vững chắc xây dựng nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Cùng với khẳng định, nâng tầm “thế trận lòng dân” là một trong những sức mạnh nội sinh của dân tộc, Văn kiện Đại hội XIII đã chỉ ra: “Xây dựng và phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân” trong nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân”6. Đến Đại hội XIV, “thế trận lòng dân” tiếp tục được đề cập và khẳng định một cách toàn diện, cụ thể hơn, đó là: “Xây dựng thế trận lòng dân gắn với thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân vững chắc”7. Đại hội XIV cũng chỉ ra, “thế trận lòng dân” là thế trận độc lập và xây dựng “thế trận lòng dân” phải gắn bó chặt chẽ với xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân; phải khơi dậy, thúc đẩy các yếu tố cấu thành sức mạnh “thế trận lòng dân” thành “sức mạnh vật chất” to lớn trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân, đây là bước phát triển cao hơn trong tư duy của Đảng về tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.
“Thế trận lòng dân” là từ ghép của hai từ “thế trận” và “lòng dân”. Bản chất là nói đến “lòng dân” trong hoạt động quốc phòng, an ninh, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Điều này có nghĩa cách tiếp cận khái niệm “thế trận lòng dân” dưới góc độ quốc phòng – an ninh theo đúng nghĩa gốc của khái niệm thế trận. Cách tiếp cận này sẽ đi từ thế trận, những yếu tố cấu thành thế trận để chứng minh được “thế trận lòng dân” mang đủ những yếu tố của một thế trận, không chỉ định tính mà còn định hình, định lượng được. Theo đó, cần tìm hiểu khái niệm “thế trận”, “lòng dân” và “thế trận lòng dân”.
“Thế trận” là từ được dùng trong lĩnh vực quân sự, an ninh, là “bài binh bố trận”. Đó là sự tổ chức, bố trí, triển khai lực lượng và thiết bị chiến trường nhằm tạo thế có lợi và phát huy cao nhất sức mạnh chiến đấu của các lực lượng để giành thắng lợi. Thế trận phải phù hợp với ý định tác chiến, thế trận luôn vận động và phát triển theo các hoàn cảnh, điều kiện cụ thể của việc đối chọi mưu kế và cách đánh giữa các bên. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói về thế trận với tinh thần: “Phương pháp dùng binh là phương pháp thiên biến vạn hóa. Tùy thời cơ, theo địa điểm, theo tình hình bên địch, người làm tướng lúc bày thế trận này, lúc bày thế trận khác. Mỗi lần chiến đấu lại có một thế trận riêng”. Theo Đại Từ điển tiếng Việt, cách hiểu chung nhất về “thế trận” là “cách bố trí lực lượng theo những mô hình, quy tắc nhất định trong một trận đánh hoặc một trận thi đấu”8. Đồng thời, Từ điển Bách khoa Quân sự Việt Nam đã chỉ ra: “Thế trận là tổ chức và bố trí lực lượng để tiến hành chiến tranh và hoạt động tác chiến; thế trận ở mỗi cấp chiến lược, chiến dịch và chiến đấu phải quán triệt ý định tác chiến của cấp đó, phải bảo đảm sử dụng có hiệu quả mọi lực lượng, tạo điều kiện cho các lực lượng hoàn thành tốt nhiệm vụ”9.
“Thế trận” chính là sự triển khai chiến đấu của nhiều lực lượng, phương tiện, biện pháp, bằng nhiều chiến thuật, phương thức khác nhau theo nhiều hướng, nhiều tuyến nhằm làm thất bại âm mưu, hoạt động của đối phương. Khi đề cập đến “thế trận” là nói đến nghệ thuật tổ chức chiến đấu của bộ phận chỉ huy. Bộ phận chỉ huy bày thế trận và điều khiển thế trận phải giữ được thế chủ động, phát huy được thế mạnh, đưa đối phương vào thế yếu để giành thắng lợi. Bày được thế trận đúng và hay đã khó, mà điều khiển được thế trận hay lại càng khó hơn. Trong thế trận phải luôn có lực lượng khác nhau (lực lượng nòng cốt, chủ lực, các lực lượng khác) và các phương tiện, thiết bị hỗ trợ. Tuy nhiên, thế trận không chỉ là sự tổ chức, bố trí, triển khai lực lượng và phương tiện, thiết bị nhằm tạo thế có lợi và phát huy cao nhất sức chiến đấu của các lực lượng tham chiến để giành thắng lợi mà còn bao hàm trong đó những lực lượng “tinh thần” của toàn dân tộc ẩn chứa trong những lực lượng “vật chất”.
“Lòng dân” cần được hiểu theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Trong phạm vi dân tộc Việt Nam, “lòng dân” chính là ý chí của toàn dân tộc, toàn dân đồng lòng. “Lòng dân” được hình thành và nuôi dưỡng trong suốt chiều dài của lịch sử đã làm nên cốt cách con người Việt Nam. Theo nghĩa rộng, “lòng dân” không chỉ là của dân tộc Việt Nam, mà còn là sự ủng hộ Việt Nam, ủng hộ chính nghĩa của Nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới. Có thể thấy, “lòng dân” là thuật ngữ phản ánh trạng thái niềm tin của người dân đối với chế độ chính trị đương thời, đây là yếu tố quan trọng có tính quyết định sức mạnh của một quốc gia nói chung. “Lòng dân” không phải lúc nào cũng đồng thuận với chủ trương, đường lối của lực lượng lãnh đạo xã hội, lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc đã chứng minh khi “lòng dân thuận” thì nước mạnh, “lòng dân ly tán” thì nước yếu. Ông cha ta đã đúc kết: “việc nhân nghĩa cốt ở yên dân” và “khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước”. Đây là bài học sống còn trong lịch sử hàng nghìn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc và của cách mạng Việt Nam. “Lòng dân” chỉ được quy tụ, tập hợp, xây dựng thành “thế trận lòng dân”, phát huy tốt tác dụng trong đời sống khi bảo đảm các điều kiện: Một là, các yếu tố của “lòng dân” được tôn trọng, khơi dậy, tập hợp, quy tụ và phát huy tối đa mặt tích cực nhằm hướng đến một mục tiêu đã xác định. Hai là, “lòng dân” được đặt vào trạng thái, tình huống cụ thể được kích thích, thức tỉnh, định hướng, dẫn dắt, bố trí, triển khai đồng bộ, toàn diện, thực hiện thống nhất trong các tầng lớp dân cư, ở mọi lứa tuổi, mọi tầng lớp xã hội; được mọi người dân đồng tình, ủng hộ, tự giác tin theo. Ba là, “lòng dân” được khơi dậy, quy tụ, dẫn dắt, phát huy tiềm năng, thế mạnh bởi lực lượng lãnh đạo đại diện cho lợi ích chính đáng của người dân, của quốc gia – dân tộc, với các chủ trương, chính sách hợp lòng dân, tạo ra động lực kích thích người dân mong muốn được cống hiến, đóng góp công sức, tài năng, trí tuệ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
“Thế trận lòng dân” là lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, ý chí chiến đấu của toàn dân được các lực lượng đại biểu lợi ích của dân tộc khơi dậy, quy tụ, phát huy, tạo nên nền tảng chính trị – tinh thần vững chắc, cho phép huy động sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. So với các thế trận khác, “thế trận lòng dân” là loại hình thế trận đặc biệt, không thể hiện ra bằng hình hài cụ thể như thế trận quân sự, quốc phòng hay an ninh mà được thể hiện bằng sức mạnh nội sinh của quốc gia, dân tộc theo từng cấp độ khác nhau. “Lòng dân” và “thế trận lòng dân” là hai mặt của một vấn đề có mối quan hệ biện chứng. “Lòng dân” luôn tồn tại khách quan nhưng “lòng dân” có được quy tụ trở thành sức mạnh tổng hợp hay không còn tùy thuộc vào nỗ lực chủ quan của con người. Điều này đòi hỏi giai cấp nắm quyền lãnh đạo xã hội phải tiến hành đồng bộ nhiều giải pháp để định hướng, tập hợp, quy tụ “lòng dân”. Chỉ có như vậy “lòng dân” mới hội tụ trở thành sức mạnh tổng hợp của quốc gia, dân tộc, chuyển hóa “lòng dân” thành “thế trận lòng dân”.
Khi được xây dựng vững chắc, “thế trận lòng dân” sẽ tác động trở lại làm cho “lòng dân” phát triển hài hòa, đúng định hướng. “Thế trận lòng dân” chính là lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, khát vọng độc lập tự do, ý chí đấu tranh của dân tộc được khơi dậy, phát huy, tạo thành nền tảng chính trị – tinh thần vững chắc, cho phép huy động sức mạnh của cả dân tộc thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ chính trị, quân sự, quốc phòng, an ninh trong từng giai đoạn. “Thế trận lòng dân” là một trong những sức mạnh nội sinh của quốc gia, dân tộc. Đó là nền tảng tạo nên sức mạnh tổng hợp, quyết định sự hưng thịnh hay suy vong của quốc gia, dân tộc, là thành trì vững chắc để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
“Thế trận lòng dân” không phải bất biến mà luôn vận động biến đổi theo chiều hướng phát triển của xã hội. “Thế trận lòng dân” cũng có những cấp độ khác nhau, “thế trận lòng dân” ở cấp độ cao khi yếu tố chính trị – tinh thần ở mức độ cao. Ngược lại, “thế trận lòng dân” ở cấp độ thấp khi chất lượng của yếu tố chính trị – tinh thần thấp. Nếu như khái niệm “thế trận” phản ánh tập trung vào những yếu tố mang tính chất vật chất hữu hình, sử dụng địa hình, địa vật, tổ chức, bố trí lực lượng, vận dụng cách đánh, phương thức tác chiến…, thì “thế trận lòng dân” là khái niệm phản ánh tập trung vào yếu tố tinh thần, ý thức của nhân dân được khơi dậy, quy tụ, phát huy, điều khiển, dẫn dắt thông qua lực lượng vật chất để phát huy sức mạnh lớn nhất thực hiện mục tiêu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Nghiên cứu khái niệm “thế trận lòng dân” có thể thấy, “thế trận lòng dân” được cấu thành bởi nhiều thành tố, trong đó có các thành tố cơ bản sau:
Một là, lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, ý chí chiến đấu của toàn dân được phát huy cao độ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đề cập đến “thế trận lòng dân” là đề cập đến nhân tố chính trị – tinh thần của toàn dân, nhân tố nền tảng cho phép phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nhân tố chính trị – tinh thần hàm chứa nội dung cốt lõi là lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, ý chí chiến đấu của toàn dân. Lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, ý chí chiến đấu của toàn dân được củng cố, giữ vững và nâng cao là cơ sở để huy động toàn dân tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, củng cố nền quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân vững chắc. Đó là bí quyết dựng nước và giữ nước, là nét đặc sắc trong nghệ thuật quân sự, an ninh của dân tộc Việt Nam. Vì vậy, lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, ý chí chiến đấu của toàn thể dân tộc – “lòng dân” là nhân tố nền tảng tạo nên sức mạnh vô địch của dân tộc Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Hai là, niềm tin của Nhân dân vào chính mình, niềm tin vào Đảng, Nhà nước, chế độ và sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Cơ sở vững chắc nhất của “thế trận lòng dân” là niềm tin của người dân vào chính mình, niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, niềm tin vào tương lai, tiền đồ của quốc gia, dân tộc, niềm tin vào ước nguyện, khát vọng chính đáng của mình nhất định sẽ được thực hiện. Khi có niềm tin, một dân tộc sẽ phát huy được lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc. Khi có niềm tin, mọi người sẽ đoàn kết thành một khối thống nhất có sức mạnh vô địch để đi tới thắng lợi cuối cùng. Khi niềm tin trong lòng dân bị lung lay thì “thế trận lòng dân” suy yếu. Khi niềm tin trong lòng dân bị đổ vỡ thì không có “thế trận lòng dân”, một chính thể, một chế độ khó có thể tồn tại. Ngược lại, khi niềm tin đúng đắn, được nuôi dưỡng, duy trì, củng cố và phát huy thì “thế trận lòng dân” sẽ vững chắc, quốc gia ấy, dân tộc ấy sẽ có một sức mạnh vô địch.
Ba là, lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, ý chí chiến đấu của toàn dân được các lực lượng đại biểu cho dân tộc khơi dậy, quy tụ vào sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, ý chí chiến đấu quật cường của toàn dân chỉ trở thành thế trận một khi tinh thần và ý chí ấy được các lực lượng tiến bộ, yêu nước đại biểu cho dân tộc nhận thức đúng, khơi dậy và quy tụ nhằm mục tiêu xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Thực tiễn lịch sử đã chỉ ra rằng, lòng yêu nước, tinh thần hy sinh vì độc lập dân tộc của Nhân dân không bao giờ cạn, nhưng lòng dân phải được nhận thức đúng, phải được khơi dậy, quy tụ vào mục tiêu giữ nước mới tạo nên sức mạnh, tạo nên được “thế trận lòng dân”.
Bốn là, sự phục tùng, ý thức, trách nhiệm làm chủ của Nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thực tiễn lịch sử đã chỉ ra rằng, lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, sự hy sinh vì độc lập dân tộc của Nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc chỉ được phát huy khi Nhân dân có ý thức tự giác, thể hiện trách nhiệm của bản thân với các hành vi của mình và phục tùng sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước. Đây là một trong những thành tố quan trọng cấu thành nên “thế trận lòng dân” và quyết định đến chất lượng của “thế trận lòng dân”.
3. Một số giải pháp
Thế giới đang trải qua những thay đổi mang tính thời đại, tạo ra nhiều thuận lợi và khó khăn, thách thức đan xen. Các thế lực thù địch sẽ đẩy mạnh hoạt động “diễn biến hòa bình” để chống phá sự nghiệp cách mạng, ly tán lòng dân, làm suy giảm lòng tin của Nhân dân đối với chế độ xã hội chủ nghĩa, đối với sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước thông qua các phương thức, thủ đoạn tinh vi làm cho quần chúng nhân dân khó nhận biết. Trong nước đang triển khai những quyết sách chiến lược mang tính cách mạng, đặt ra nhiều vấn đề mới, yêu cầu mới rất cao; đồng thời đây cũng là bước ngoặt mới, vận hội mới mang tính lịch sử đối với sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, đòi hỏi phải có sự đồng thuận xã hội rất cao. Mặt khác, bên cạnh những kết quả đạt được mà Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đã chỉ ra: “… xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, xây dựng thế trận an ninh nhân dân và xây dựng thế trận lòng dân vững chắc được quan tâm đẩy mạnh và đạt được kết quả quan trọng, bền vững”10, thực tế vẫn đang tồn tại một số vấn đề chưa đồng thuận trong các tầng lớp nhân dân, mâu thuẫn nội bộ, mất đoàn kết trong Nhân dân vẫn còn tiếp diễn đã ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng hiệu quả sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Để khắc phục những tồn tại, hạn chế đó cần tập trung làm tốt các vấn đề sau:
Thứ nhất, tích cực, chủ động xây dựng sự đồng thuận xã hội theo tinh thần đại đoàn kết dân tộc. Đồng thuận xã hội là điều kiện khách quan cho sự tồn tại, ổn định và phát triển bền vững của hệ thống xã hội, là phương thức tập hợp lực lượng hữu hiệu nhất trong đời sống chính trị – xã hội của đất nước. Chính vì vậy, cần tích cực, chủ động xây dựng sự đồng thuận xã hội trên cơ sở bảo đảm khối đại đoàn kết dân tộc; kết hợp hài hòa lợi ích của các giai cấp, tầng lớp nhân dân lao động trên nguyên tắc lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể và xã hội gắn chặt và thống nhất với nhau. Quán triệt tốt quan điểm lấy dân làm gốc, lấy lợi ích căn bản của Nhân dân làm điểm xuất phát và cơ sở của mọi chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước. Mở rộng và thực thi có hiệu quả dân chủ trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, vận động để quần chúng nhân dân tự nguyện, thống nhất các vấn đề vì mục tiêu và lợi ích chung của đất nước.
Thứ hai, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ hệ thống chính trị, nhất là các tổ chức dân cử là nhiệm vụ then chốt để xây dựng bộ máy tinh gọn, hiệu lực; đồng thời là những hạt nhân nòng cốt để xây dựng thế trận lòng dân vững mạnh. Để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cần quan tâm đổi mới công tác lựa chọn, quy hoạch cán bộ; đào tạo kỹ năng chuyên sâu, kỹ năng thực tiễn cho đội ngũ cán bộ như kỹ năng lãnh đạo, quản lý, kỹ năng tiếp xúc cử tri, kỹ năng chất vấn, kiểm tra, giám sát; tăng cường kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí… tạo uy tín, niềm tin đối với quần chúng nhân dân.
Thứ ba, đổi mới phương thức lãnh đạo, tập hợp, vận động quần chúng theo hướng linh hoạt, sáng tạo, hiệu quả, huy động tối đa sức mạnh của Nhân dân vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức về vai trò trách nhiệm của các cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân đối với công tác dân vận; thống nhất quan điểm “cách mạng là sự nghiệp của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân”, thực hiện tốt phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân thụ hưởng” nhằm phát huy tiềm năng sáng tạo và vai trò làm chủ của Nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Triển khai có hiệu quả các hình thức dân vận, hướng về cơ sở, bám sát địa bàn, tăng cường đối thoại với Nhân dân; giải quyết kịp thời những kiến nghị, đề xuất chính đáng của Nhân dân.
Thứ tư, đẩy mạnh phát triển kinh tế gắn với bảo đảm tốt an sinh xã hội. Phát triển kinh tế gắn với bảo đảm an sinh xã hội là chiến lược cốt lõi nhằm hướng tới xây dựng thế trận lòng dân phát triển bền vững. Trong đó, cần chú trọng chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, tạo công ăn việc làm, nâng cao thu nhập cho người lao động; phân bổ ngân sách phù hợp từ nguồn thu kinh tế để đầu tư vào cơ sở hạ tầng thiết yếu và các chương trình phúc lợi, đặc biệt tại các vùng nông thôn, miền núi. Xây dựng hệ thống an sinh xã hội đa tầng, hiện đại, thích ứng linh hoạt, bao phủ toàn dân, toàn diện, nâng cao phúc lợi xã hội toàn dân. Bảo đảm mọi người dân được tiếp cận, hưởng thụ các dịch vụ xã hội cơ bản, thiết yếu, có chất lượng, ưu tiên các đối tượng chính sách, yếu thế. Xây dựng hệ thống y tế công bằng, chất lượng.
Thứ năm, đẩy mạnh công tác phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn và làm thất bại âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, ngăn chặn, loại trừ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ; đề cao tinh thần cảnh giác, chủ động, nhạy bén, kiên quyết đấu tranh làm thất bại âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch; siết chặt kỷ luật, kỷ cương, ngăn chặn mọi biểu hiện suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Phát huy sức mạnh của hệ thống chính trị cơ sở trong công tác bảo đảm an ninh, trật tự, trọng tâm là các địa bàn chiến lược, vùng đông đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào tôn giáo. Đẩy mạnh công tác vận động quần chúng xây dựng phong trào Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc trên mọi địa bàn, lĩnh vực; xây dựng củng cố nền an ninh nhân dân gắn với nền quốc phòng toàn dân và thế trận quốc phòng toàn dân vững chắc.
Thứ sáu, tổng kết, nghiên cứu lý luận về “thế trận lòng dân” và xây dựng “thế trận lòng dân” để định hướng cho thực tiễn. Cùng với sự phát triển, đổi mới về nhận thức trong bảo vệ Tổ quốc, việc nghiên cứu, bổ sung, phát triển, hoàn thiện lý luận về bảo vệ Tổ quốc theo tinh thần Đại hội XIV của Đảng, trong đó có lý luận về “thế trận lòng dân” và xây dựng “thế trận lòng dân” là hết sức cần thiết. Cần tập trung nghiên cứu làm rõ lý luận “thế trận lòng dân” và xây dựng “thế trận lòng dân” trên các mặt như khái niệm, vị trí, vai trò, đặc điểm của “thế trận lòng dân”; khái niệm, mục đích, yêu cầu, nội dung, phương pháp, nguyên tắc xây dựng “thế trận lòng dân”. Kết quả nghiên cứu lý luận sẽ là luận cứ khoa học giúp Đảng, Nhà nước hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách về xây dựng “thế trận lòng dân” bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc.
4. Kết luận
Nghiên cứu “thế trận lòng dân”, khẳng định vị trí của thế trận đó trong học thuyết bảo vệ Tổ quốc và xác định rõ nội hàm của thế trận là đòi hỏi khách quan về học thuật, mang tính cấp thiết trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân. “Thế trận lòng dân” trong thời kỳ đổi mới đất nước, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế đòi hỏi các nhà khoa học và các nhà lãnh đạo, quản lý phải khẩn trương tổng kết và luận giải làm rõ để triển khai tổ chức xây dựng, làm nền móng vững chắc cho sự kết hợp giữa thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng.
Chú thích:
1. Hồ Chí Minh toàn tập (2002). Tập 6. H. NXB Chính trị quốc gia, tr. 281 -282.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập II. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 261.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X. H. NXB Chính trị quốc gia, tr. 109.
4. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2003). Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 12/7/2003 vềChiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 235.
6. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Tập I. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 151.
7, 10. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập I. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 315, 315.
8. Đại Từ điển Tiếng Việt (2011). H. NXB Chính trị quốc gia.
9. Bộ Quốc phòng (2004). Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam. H. NXB Quân đội nhân dân.



