Implementation of legal provisions on state budget investment in infrastructure for municipal solid waste management in Ho Chi Minh City
ThS. Lưu Văn Tú
Trường Đại học Lao động – Xã hội (Cơ sở II)
(Quanlynhanuoc.vn)- Đầu tư hạ tầng quản lý chất thải rắn sinh hoạt từ ngân sách nhà nước là phương thức thực thi quyền lực nhà nước nhằm bảo đảm quyền môi trường của công dân tại TP. Hồ Chí Minh. Bài viết đánh giá thực trạng triển khai trong bối cảnh thực thi Nghị quyết 98/2023/QH15, nhận diện các xung đột pháp lý giữa Luật Đầu tư công, Luật Bảo vệ môi trường và Luật Đất đai. Từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện cấu trúc pháp luật để khơi thông nguồn lực ngân sách và nâng cao hiệu quả quản trị đô thị bền vững.
Từ khóa: Quy định pháp luật; đầu tư xây dựng; hạ tầng chất thải rắn; ngân sách nhà nước; TP. Hồ Chí Minh.
Abstract: Investing in infrastructure for the management of municipal solid waste using the state budget is a means of exercising state authority to ensure citizens’ environmental rights in Ho Chi Minh City. This article assesses the current status of implementation in the context of Resolution 98/2023/QH15, identifies legal conflicts between the Public Investment Law, the Environmental Protection Law, and the Land Law. Based on this, it proposes solutions to improve the legal framework to unlock budget resources and enhance the effectiveness of sustainable urban governance.
Keywords: Legal regulations; construction investment; solid waste infrastructure; state budget; Ho Chi Minh City.
1. Đặt vấn đề
Trong tiến trình phát triển siêu đô thị, TP. Hồ Chí Minh đối mặt với áp lực gia tăng khối lượng chất thải rắn sinh hoạt tỷ lệ thuận với tốc độ đô thị hóa. Dưới góc độ luật học, đầu tư xây dựng hạ tầng quản lý chất thải rắn sinh hoạt từ ngân sách nhà nước không thuần túy là hoạt động kinh tế – kỹ thuật, mà là sự cụ thể hóa nghĩa vụ hiến định của Nhà nước trong việc bảo vệ môi trường theo Hiến pháp năm 2013. Hệ thống hạ tầng, từ các trạm trung chuyển hiện đại đến nhà máy xử lý rác phát điện, đòi hỏi quy trình đầu tư phức tạp, chịu sự điều chỉnh của nhiều đạo luật chuyên ngành. Tuy nhiên, sự thiếu đồng bộ trong trình tự, thủ tục giữa pháp luật đầu tư công, xây dựng và môi trường đã tạo ra những “điểm nghẽn” pháp lý đáng kể. Việc tháo gỡ các xung đột này là điều kiện tiên quyết để tối ưu hóa giá trị nguồn vốn ngân sách và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước tại địa phương mang tính đặc thù này.
2. Thực trạng thực hiện pháp luật về đầu tư xây dựng hạ tầng quản lý chất thải rắn sinh hoạt thông thường tại TP. Hồ Chí Minh
Trong bối cảnh TP. Hồ Chí Minh đang nỗ lực chuyển mình thành một đô thị thông minh và bền vững, việc thực hiện pháp luật về đầu tư hạ tầng quản lý chất thải rắn sinh hoạt không chỉ là bài toán kinh tế mà còn là phép thử về năng lực quản trị pháp quyền. Hiện tại, “tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt khoảng 14.116 tấn/ngày, tăng gần 1,2 lần so với năm 2021. Trong đó, chất thải rắn sinh hoạt phát sinh tại đô thị là 11.663 tấn/ngày, chất thải rắn sinh hoạt phát sinh tại nông thôn là 2.453 tấn/ngày”1, Thành phố đã xác định việc sử dụng ngân sách nhà nước làm “vốn mồi” để dẫn dắt các nguồn lực xã hội, tập trung vào việc hiện đại hóa hệ thống trạm trung chuyển và các khu liên hợp xử lý rác thải tập trung, như: Đa Phước (Bình Chánh) và Tây Bắc (Củ Chi).Việc thực thi pháp luật trong lĩnh vực này hiện đang chịu sự điều chỉnh của một hệ thống quy phạm đa tầng, từ các đạo luật chung, như Luật Đầu tư công, Luật Ngân sách nhà nước đến các quy định chuyên biệt tại Nghị quyết số 98/2023/QH15 của Quốc hội về thí điểm cơ chế, chính sách đặc thù phát triển TP. Hồ Chí Minh (xem Bảng 1).
Bảng 1. Thực hiện đầu tư hạ tầng quản lý chất thải rắn sinh hoạt từ ngân sách nhà nước giai đoạn 2021 – 2024 (Đơn vị: tỷ đồng)
| Năm | Ngân sách trung ương | Ngân sách địa phương | Tổng chi đầu tư | Tỷ lệ giải ngân (%) |
| 2021 | 450,5 | 3.200,8 | 3.651,3 | 58% |
| 2022 | 510,2 | 4.150,5 | 4.660,7 | 65% |
| 2023 | 1.200,0 | 6.800,4 | 8.000,4 | 72% |
| 2024 | 850,6 | 8.950,2 | 9.800,8 | 70% |
Phân tích số liệu Bảng 1, cho thấy, một xu hướng gia tăng mạnh mẽ về quy mô dòng vốn ngân sách nhà nước, đặc biệt là sự bứt phá trong 2 năm 2023 và 2024. Sự gia tăng này là kết quả trực tiếp của việc vận dụng các cơ chế ưu tiên trong Nghị quyết 98/2023/QH15, cho phép Thành phố chủ động hơn trong việc bố trí vốn đầu tư công cho các dự án hạ tầng môi trường cấp bách. Tuy nhiên, dưới góc độ luật học, tỷ lệ giải ngân thực tế (dao động từ 58% – 72%) lại phản ánh một thực trạng đáng quan ngại về “hiệu năng thực thi pháp luật”. Dù vốn đã sẵn có, nhưng các rào cản về trình tự, thủ tục hành chính tư pháp đã làm chậm tiến độ chuyển hóa nguồn lực tài chính thành tài sản hạ tầng thực tế.
Thứ nhất, về sự tuân thủ quy trình đầu tư công và môi trường. Theo quy định tại Điều 35 Luật Bảo vệ môi trường năm 20202, các dự án hạ tầng chất thải rắn sinh hoạt phải trải qua quy trình thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường nghiêm ngặt trước khi phê duyệt dự án đầu tư. Tại TP. Hồ Chí Minh, thực trạng cho thấy nhiều dự án bị đình trệ ở giai đoạn chuẩn bị đầu tư do sự xung đột giữa Luật Đầu tư công năm 2024 và Luật Bảo vệ môi trường năm 2020. Cụ thể, việc xác định “danh mục dự án nhóm A, B, C” theo tiêu chí vốn đầu tư công đôi khi không tương thích với “phân loại dự án theo nguy cơ tác động môi trường”. Sự thiếu đồng bộ này khiến cơ quan chủ quản phải thực hiện nhiều bước trung gian để xin ý kiến hướng dẫn từ các Bộ ngành trung ương, dẫn đến tình trạng “vốn chờ thủ tục”.
Thứ hai, về năng lực áp dụng quy định đặc thù tại địa phương.
Nghị quyết số 98/2023/QH15 đã mở ra hành lang cho phép TP. Hồ Chí Minh áp dụng mô hình đầu tư đối tác công tư (PPP) và các hình thức nhượng quyền khai thác hạ tầng môi trường. Tuy nhiên, việc thực hiện pháp luật ở giai đoạn chuyển tiếp này bộc lộ sự thiếu hụt các văn bản hướng dẫn chi tiết về phương thức định giá dịch vụ xử lý rác thải và bồi thường giải phóng mặt bằng. Theo Báo cáo của UBND TP. Hồ Chí Minh (2024), hơn 50% các dự án hạ tầng chất thải rắn sinh hoạt sử dụng NSNN giai đoạn 2021 – 2024 gặp vướng mắc về công tác bồi thường theo Điều 158 Luật Đất đai năm 2024. Việc xác định giá đất cụ thể để xây dựng các trạm trung chuyển rác trong khu dân cư hiện hữu thường gặp phải sự phản kháng của người dân, trong khi pháp luật hiện hành chưa có cơ chế chia sẻ lợi ích hoặc hỗ trợ đặc thù cho cư dân sống cạnh các công trình hạ tầng môi trường nhạy cảm.
Thứ ba, thực trạng quản lý chi phí và định mức kỹ thuật.
Dưới góc độ Luật Xây dựng năm 2020, quản lý chi phí đầu tư hạ tầng chất thải rắn sinh hoạt từ ngân sách nhà nước tại Thành phố đang gặp khó khăn do thiếu bộ định mức chuyên ngành cho các công nghệ hiện đại. Hiện nay, Thành phố đang chuyển dịch từ công nghệ chôn lấp sang đốt rác phát điện, nhưng các cơ quan chức năng vẫn phải áp dụng một số định mức kinh tế – kỹ thuật cũ của các công nghệ truyền thống. Sự lạc hậu này không chỉ gây khó khăn cho việc lập dự toán mà còn tạo ra rủi ro pháp lý cho các chủ đầu tư khi thực hiện quyết toán vốn đầu tư công. Khoản cách giữa “quy định pháp luật trên giấy” và “yêu cầu công nghệ thực tế” đã tạo ra những điểm mù trong quản lý, làm sai lệch đánh giá về hiệu quả sử dụng ngân sách nhà nước.
Thứ tư, sự chồng chéo về thẩm quyền giữa các cơ quan quản lý nhà nước.
Thực tiễn triển khai tại TP. Hồ Chí Minh cho thấy, sự đan xen phức tạp về nhiệm vụ giữa Sở Nông nghiệp và Môi trường (quản lý chất thải), Sở Tài chính (quản lý vốn đầu tư công) và Sở Xây dựng (quản lý công trình xây dựng). Mặc dù Thành phố đã thực hiện cơ chế “một cửa liên thông”, nhưng quy trình hậu kiểm và giám sát dự án vẫn còn phân tán. Sự thiếu vắng một đầu mối pháp lý duy nhất chịu trách nhiệm xuyên suốt từ giai đoạn quy hoạch đến vận hành hạ tầng chất thải rắn sinh hoạt dẫn đến tình trạng đùn đẩy trách nhiệm khi dự án chậm tiến độ hoặc xảy ra sự cố môi trường.
Như vậy, thực trạng thực hiện pháp luật về đầu tư hạ tầng chất thải rắn sinh hoạt từ ngân sách nhà nước tại TP. Hồ Chí Minh đang ở giai đoạn “giao thoa” giữa các đạo luật mới và cũ. Dòng vốn ngân sách nhà nước đã được khơi thông về mặt số lượng nhưng lại bị nghẽn về mặt chất lượng thực thi. Để nâng cao tỷ lệ giải ngân và bảo đảm tính bền vững của các công trình, việc chuẩn hóa lại các quy trình thẩm định và áp dụng linh hoạt các cơ chế đặc thù là yêu cầu cấp bách dưới góc độ quản lý nhà nước.
3. Những hạn chế, bất cập dưới góc độ luật học
Qua nghiên cứu thực tiễn thi hành pháp luật về đầu tư hạ tầng quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại TP. Hồ Chí Minh, bài viết nhận diện 5 nhóm xung đột pháp lý trọng yếu, cản trở hiệu quả quản trị nhà nước trong lĩnh vực này:
Thứ nhất, xung đột quy trình thẩm định giữa pháp luật về môi trường và đầu tư công.
Một trong những rào cản lớn nhất hiện nay là sự thiếu tương thích trong trình tự thủ tục giữa Luật Bảo vệ môi trường và Luật Đầu tư công. Theo quy định tại Điều 35 Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, dự án hạ tầng xử lý rác thải thuộc nhóm có nguy cơ tác động xấu đến môi trường, bắt buộc phải thực hiện đánh giá tác động môi trường để làm cơ sở cho các bước tiếp theo. Tuy nhiên, Luật Đầu tư công năm 2024 lại yêu cầu trong hồ sơ quyết định chủ trương đầu tư phải bao gồm “đánh giá sơ bộ tác động môi trường”.
Thực tế tại TP. Hồ Chí Minh, các cơ quan chuyên môn đang gặp lúng túng khi xác định ranh giới giữa “sơ bộ” và “chi tiết”. Việc phải thực hiện hai lần thẩm định với các nội dung gần như tương đồng không chỉ làm kéo dài thời gian chuẩn bị dự án trung bình từ 12 – 18 tháng mà còn tạo ra sự chồng chéo về thẩm quyền giữa Hội đồng thẩm định đầu tư và Hội đồng thẩm định đánh giá tác động môi trường. Dưới góc độ luật học, sự thiếu thống nhất này vi phạm nguyên tắc tập trung, thống nhất trong quản lý nhà nước, đồng thời làm giảm hiệu năng của các dự án hạ tầng cấp bách tại một siêu đô thị đang chịu áp lực rác thải cực lớn như TP. Hồ Chí Minh.
Thứ hai, sự lạc hậu và thiếu đồng bộ của hệ thống định mức kinh tế – kỹ thuật trong pháp luật xây dựng.
Khoản 1 Điều 132 Luật Xây dựng năm 20203 khẳng định việc quản lý chi phí đầu tư xây dựng phải căn cứ vào hệ thống định mức do cơ quan có thẩm quyền ban hành. Tuy nhiên, khung pháp lý hiện hành về xây dựng chưa kịp cập nhật các tiêu chuẩn kỹ thuật cho các loại hình hạ tầng môi trường hiện đại. Tại TP. Hồ Chí Minh, định hướng chuyển đổi từ chôn lấp sang đốt rác phát điện và xây dựng các trạm trung chuyển ngầm đang bị vướng bởi hệ thống định mức cũ. Do chưa có định mức chuyên biệt cho nhà máy xử lý rác công nghệ cao, các đơn vị tư vấn phải vận dụng định mức của các ngành công nghiệp khác hoặc định mức tương đương, dẫn đến việc xác định tổng mức đầu tư thiếu chính xác. Điều này tạo ra rủi ro pháp lý rất lớn cho các nhà quản lý trong công tác phê duyệt và quyết toán vốn ngân sách nhà nước. Khi các cơ quan thanh tra, kiểm toán thực hiện hậu kiểm, việc không có căn cứ pháp lý định mức chuẩn xác dễ dẫn đến các sai phạm về kinh tế, gây tâm lý e ngại, “co cụm” trong đội ngũ cán bộ thực thi pháp luật đầu tư công tại địa phương.
Thứ ba, điểm nghẽn về bồi thường, giải phóng mặt bằng dưới tác động của Luật Đất đai mới.
Mặc dù Điều 158 Luật Đất đai năm 20244 đã xác lập nguyên tắc định giá đất theo thị trường nhằm bảo đảm quyền lợi của người dân, nhưng thực tiễn áp dụng đối với dự án hạ tầng chất thải rắn sinh hoạt gặp trở ngại đặc thù. Do hiệu ứng tâm lý tiêu cực đối với các dự án rác thải (hiệu ứng NIMBY), giá đất tại khu vực dự kiến xây dựng thường không có giao dịch thực tế hoặc bị sụt giảm mạnh, khiến việc xác định “giá thị trường” trở nên thiếu khách quan. Hơn nữa, pháp luật hiện hành chưa có quy định cụ thể về bồi thường, hỗ trợ cho các hộ dân nằm trong “vùng ảnh hưởng môi trường” (ngoài phạm vi đất thu hồi). Điều này dẫn đến tình trạng người dân khiếu kiện kéo dài vì cho rằng giá trị quyền sử dụng đất của họ bị giảm sút do ô nhiễm mùi và tiếng ồn từ hạ tầng rác thải. Khoảng trống pháp lý này khiến công tác giải phóng mặt bằng tại các khu vực trọng điểm như Củ Chi hay Đa Phước luôn trong tình trạng bế tắc, làm đình trệ tiến độ giải ngân vốn NSNN mặc dù nguồn lực tài chính đã được bố trí đầy đủ.
Thứ tư, thiếu cơ chế pháp lý liên kết ngân sách liên vùng trong Luật Ngân sách nhà nước.
TP. Hồ Chí Minh với vai trò trung tâm vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, đang thực hiện chiến lược hợp nhất các cụm hạ tầng xử lý rác để tối ưu hóa nguồn lực. Tuy nhiên, quy định tại Điều 9 Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 về nhiệm vụ chi của ngân sách địa phương vẫn còn mang tính cục bộ theo địa giới hành chính. Pháp luật hiện hành chưa có quy định rõ ràng về cơ chế “góp vốn ngân sách” giữa các quận, huyện hoặc giữa TP. Hồ Chí Minh với các tỉnh lân cận để cùng đầu tư một dự án hạ tầng môi trường dùng chung. Việc thiếu khung pháp lý về hợp tác ngân sách liên vùng dẫn đến tình trạng “mạnh ai nấy làm”, các dự án trạm trung chuyển rác bị phân tán, quy mô nhỏ, không đạt hiệu quả kinh tế quy mô. Dưới góc độ quản lý nhà nước, đây là sự lãng phí tài sản công và thiếu hụt một “kiến trúc pháp lý” cho quản trị vùng đô thị bền vững mà Việt Nam đang hướng tới.
Thứ năm, sự đứt gãy pháp lý trong giai đoạn chuyển giao từ đầu tư xây dựng sang vận hành.
Có một sự thiếu kết nối trầm trọng giữa Luật Đấu thầu năm 2025 và Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 trong việc quản lý vòng đời dự án hạ tầng môi trường. Hiện nay, pháp luật quy định tách biệt quá trình đầu tư xây dựng hạ tầng (sử dụng vốn ngân sách nhà nước) và quá trình lựa chọn đơn vị vận hành (sử dụng kinh phí sự nghiệp môi trường). Hệ quả là nhiều công trình trạm trung chuyển rác tại TP. Hồ Chí Minh sau khi xây dựng hoàn thành phải chờ đợi nhiều tháng, thậm chí hàng năm để thực hiện xong thủ tục đấu thầu lựa chọn đơn vị vận hành. Điều này không chỉ gây lãng phí nguồn vốn đầu tư công mà còn làm hạ tầng xuống cấp nhanh chóng do không được bảo trì, vận hành kịp thời. Sự thiếu hụt cơ chế cho phép lựa chọn nhà thầu vận hành ngay từ giai đoạn thiết kế dự án (mô hình Design-Build-Operate) đang là “nút thắt” pháp lý cần sớm được tháo gỡ để đảm bảo tính liên tục và hiệu quả của các công trình công cộng nhạy cảm về môi trường.
4. Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật
Một là, đồng bộ hóa quy trình thẩm định dự án thông qua cơ chế liên thông văn bản.
Sự đứt gãy giữa quy trình đầu tư công và đánh giá tác động môi trường là nguyên nhân hàng đầu gây lãng phí thời gian của các dự án hạ tầng chất thải rắn sinh hoạt. Để khắc phục, Chính phủ cần ban hành Nghị định hướng dẫn lồng ghép, trong đó quy định rõ việc thực hiện “thẩm định một lần” đối với các dự án hạ tầng môi trường trọng điểm. Cần cụ thể hóa Điều 17 Luật Đầu tư công năm 2024 bằng một quy trình liên thông: Báo cáo đánh giá sơ bộ tác động môi trường trong hồ sơ chủ trương đầu tư phải được coi là một phần nội dung không tách rời của hồ sơ đánh giá tác động môi trường sau này. Đồng thời, Bộ Tài chính phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Môi trường cần ban hành Thông tư liên tịch quy định mẫu hồ sơ thống nhất, cho phép cơ quan chủ quản tại TP. Hồ Chí Minh thành lập Hội đồng thẩm định đa ngành. Hội đồng này có chức năng thẩm định song song cả về tính khả thi kinh tế của dự án theo pháp luật đầu tư và tính bền vững về môi trường theo Điều 35 Luật Bảo vệ môi trường năm 2020. Việc hợp nhất các bước thẩm định không chỉ giúp cắt giảm ít nhất 30% thời gian thực hiện thủ tục hành chính mà còn bảo đảm tính thống nhất trong các nhận định kỹ thuật, tránh tình trạng “vênh” số liệu giữa báo cáo đầu tư và hồ sơ môi trường, tạo niềm tin pháp lý vững chắc cho các cơ quan giải ngân ngân sách.
Hai là, đặc thù hóa hệ thống định mức kinh tế – kỹ thuật dựa trên nền tảng công nghệ hiện đại.
TP. Hồ Chí Minh đang chuyển hướng mạnh mẽ sang công nghệ đốt rác phát điện (WTE). Tuy nhiên, khung định mức hiện hành trong Luật Xây dựng năm 2020 lại đang bộc lộ sự lạc hậu. Để giải quyết vấn đề này, Bộ Xây dựng cần khẩn trương rà soát Điều 135 Luật Xây dựng năm 2020 nhằm ban hành bộ định mức chuyên biệt cho hạ tầng xử lý chất thải rắn sinh hoạt công nghệ cao. Trong khi chờ đợi khung định mức quốc gia, cần vận dụng tối đa cơ chế đặc thù tại Nghị quyết số 98/2023/QH15 để cho phép UBND TP. Hồ Chí Minh xây dựng và ban hành bộ định mức đặc thù của địa phương. Bộ định mức này phải dựa trên việc tiệm cận với các tiêu chuẩn kỹ thuật quốc tế (như tiêu chuẩn EU hoặc G7) áp dụng cho các trạm trung chuyển ngầm và nhà máy WTE. Việc áp dụng định mức sát với thực tế công nghệ sẽ giải quyết dứt điểm tình trạng “ép” giá hoặc áp dụng định mức tương đương một cách khiên cưỡng, vốn là nguyên nhân gây sai lệch trong việc phê duyệt tổng mức đầu tư quy định tại Khoản 1 Điều 132 Luật Xây dựng năm 2020. Khi có một hành lang định mức chuẩn xác, các cơ quan thẩm định tại Thành phố sẽ có căn cứ pháp lý vững chắc để phê duyệt dự án, đồng thời giảm thiểu rủi ro pháp lý cho cán bộ quản lý trước các kỳ thanh tra, kiểm toán vốn đầu tư công, qua đó tạo động lực thúc đẩy tiến độ triển khai các công trình trọng điểm.
Ba là, thiết lập cơ chế bồi thường “vùng ảnh hưởng” để giải quyết xung đột xã hội trong giải phóng mặt bằng.
Một trong những điểm yếu của pháp luật hiện hành là chỉ tập trung bồi thường cho diện tích đất bị thu hồi mà bỏ qua thiệt hại về chất lượng sống của cư dân khu vực lân cận dự án rác thải. Để giải quyết “điểm nghẽn” này, cần cụ thể hóa nguyên tắc bồi thường tại Điều 91 Luật Đất đai năm 2024 thông qua việc xác lập khái niệm “vùng ảnh hưởng môi trường”. Chính phủ cần ban hành Nghị định riêng về bồi thường, hỗ trợ đối với các loại hình hạ tầng công cộng nhạy cảm, trong đó quy định rõ mức “hỗ trợ ổn định môi trường sống” cho cư dân trong bán kính từ 500m đến 1000m tính từ ranh giới dự án xử lý chất thải rắn sinh hoạt. Khoản hỗ trợ này không nhất thiết phải là tiền mặt mà có thể thông qua việc đầu tư hạ tầng phúc lợi (công viên, trạm y tế, trường học) hoặc miễn giảm các loại phí dịch vụ công. Giải pháp này giúp hóa giải tâm lý e ngại (NIMBY) và tạo sự đồng thuận trong cộng đồng, từ đó giảm thiểu tình trạng khiếu kiện kéo dài gây đình trệ dự án. Việc thực thi nghiêm túc Điều 158 Luật Đất đai năm 2024 về định giá đất theo thị trường, kết hợp với chính sách hỗ trợ vùng ảnh hưởng, sẽ tạo ra một mô hình bồi thường nhân văn và thực tiễn, giúp Thành phố nhanh chóng có được mặt bằng sạch để triển khai các dự án hạ tầng môi trường cấp bách.
Bốn là, đẩy mạnh phân cấp mạnh mẽ kết hợp với cơ chế hậu kiểm dựa trên nền tảng số hóa.
Tại một đô thị đặc biệt có số lượng dự án hạ tầng lớn như TP. Hồ Chí Minh, việc tập trung quyền quyết định tại các Sở ngành cấp Thành phố đã tạo ra tình trạng nghẽn về thủ tục. Do đó, cần triệt để thực hiện phân cấp theo Điều 84 Luật Đầu tư công năm 2024, theo đó, UBND Thành phố nên ủy quyền mạnh mẽ cho UBND các phường, xã trong việc phê duyệt chủ trương đầu tư và quyết định đầu tư đối với các dự án trạm trung chuyển rác nhóm C. Để kiểm soát rủi ro sau phân cấp, Thành phố cần chuyển đổi phương thức quản lý từ “tiền kiểm” (thanh tra trước khi làm) sang “hậu kiểm” (giám sát trong và sau khi thực hiện) thông qua nền tảng quản trị số. Tất cả hồ sơ dự án, từ giai đoạn lập kế hoạch đến giải ngân ngân sách, phải được công khai trên hệ thống dữ liệu dùng chung để các cơ quan thanh tra, kiểm toán và Hội đồng nhân dân có thể giám sát trực tiếp theo thời gian thực. Cơ chế này không chỉ giúp giảm bớt gánh nặng thủ tục hành chính tại Sở Kế hoạch và Đầu tư mà còn nâng cao trách nhiệm giải trình của chính quyền cơ sở, đảm bảo tính tuân thủ pháp luật nghiêm ngặt và tính minh bạch trong việc sử dụng nguồn lực ngân sách nhà nước cho hạ tầng chất thải rắn sinh hoạt tại địa phương.
5. Kết luận
Thực hiện pháp luật về đầu tư hạ tầng quản lý chất thải rắn sinh hoạt từ ngân sách nhà nước tại TP. Hồ Chí Minh là một bài toán phối hợp giữa kinh tế và pháp lý môi trường. Thực tiễn cho thấy, nguồn vốn không phải là rào cản duy nhất, mà chính sự thiếu đồng bộ của “kiến trúc pháp lý” mới là tác nhân kìm hãm sự phát triển. Để giải quyết dứt điểm vấn nạn rác thải, Thành phố cần một hành lang pháp lý thông suốt, giảm thiểu các quy trình trung gian và gia tăng quyền tự chủ thực chất. Việc hoàn thiện các quy định này không chỉ bảo đảm quyền được sống trong môi trường trong lành của người dân mà còn khẳng định vị thế của TP. Hồ Chí Minh trong việc xây dựng hình mẫu quản trị siêu đô thị hiện đại, thượng tôn pháp luật.
Chú thích:
1. TP. Hồ Chí Minh chủ động nâng cao hiệu quả quản lý chất thải rắn. https://mae.gov.vn/tphcm-chu-dong-nang-cao-hieu-qua-quan-ly-chat-thai-ran-21475.htm.
2. Quốc hội (2020). Luật Bảo vệ môi trường năm 2020. Điều 35, tr. 28.
3. Quốc hội (2020). Luật Xây dựng năm 2020. Khoản 1 Điều 132, tr. 95.
4. Quốc hội (2024). Luật Đất đai năm 2024. Điều 158, tr. 112.
Tài liệu tham khảo:
1. Chính phủ (2021). Nghị định số 10/2021/NĐ-CP ngày 09/02/2021 về quản lý chi phí đầu tư xây dựng.
2. Quốc hội (2013). Hiến pháp năm 2013.
3. Quốc hội (2020). Luật Bảo vệ môi trường năm 2020.
4. Quốc hội (2020). Luật Xây dựng năm 2020.
5. Quốc hội (2023). Nghị quyết số 98/2023/QH15 ngày 24/6/2023 về thí điểm cơ chế, chính sách đặc thù phát triển TP. Hồ Chí Minh
6. Quốc hội (2024). Luật Đầu tư công năm 2024.
7. Quốc hội (2024). Luật Đất đai năm 2024.
8. Quốc hội (2025). Luật Ngân sách nhà nước năm 2025.
9. UBND TP. Hồ Chí Minh (2024). Quyết định số 63/2024/QĐ-UBND ngày 20/9/2024 Ban hành Quy định quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh.



