Đảng lãnh đạo trong kỷ nguyên phát triển mới

The Party’s leadership in the new era of development

Nguyễn Thành Thuận
Trường Đại học Cảnh sát nhân dân

(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết phân tích tính chính đáng của sự lãnh đạo của Đảng trong kỷ nguyên phát triển mới từ góc nhìn của Văn kiện Đại hội XIV. Bài viết chỉ ra các nền tảng củng cố tính chính đáng của Đảng, gồm: mục tiêu phát triển vì Nhân dân, năng lực lãnh đạo phát triển, hiệu quả quản trị quốc gia, kiểm soát quyền lực và củng cố sự đồng thuận xã hội. Từ đó, bài viết đề xuất một số phương hướng nhằm tiếp tục nâng cao niềm tin chính trị, năng lực lãnh đạo và sự ủng hộ của Nhân dân đối với Đảng trong kỷ nguyên mới.

Từ khóa: Tính chính đáng chính trị; Đảng cầm quyền; Văn kiện Đại hội XIV; kỷ nguyên mới.

Abstract: This article analyzes the legitimacy of the Party’s leadership in the new era of development from the perspective of the documents of the 14th National Congress. It identifies the foundations that underpin the Party’s legitimacy, including: development goals for the people, leadership capacity for development, effective national governance, checks on power, and the strengthening of social consensus. Based on this, the article proposes several directions to enhance further political trust, leadership capacity, and people’s support for the Party in the new era.

Keywords: Political legitimacy; ruling party; Documents of the 14th National Congress; new era.

1. Đặt vấn đề

Tính chính đáng của Đảng lãnh đạo là vấn đề trung tâm của khoa học chính trị, bởi đây là cơ sở tạo nên sự tin tưởng và ủng hộ của xã hội đối với quyền lãnh đạo của một chủ thể chính trị. Tính chính đáng ấy không phải là một giá trị bất biến mà luôn vận động cùng với yêu cầu phát triển của đất nước và của đời sống xã hội.

Đối với Đảng Cộng sản Việt Nam, tính chính đáng chính trị trước hết được hình thành từ vai trò lãnh đạo cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, bảo vệ Tổ quốc và lãnh đạo công cuộc đổi mới. Trong kỷ nguyên phát triển mới, tính chính danh chính trị của Đảng cầm quyền là sự kết hợp giữa chính danh lịch sử và chính danh thực tiễn. Nếu lịch sử cách mạng là nền tảng khởi nguồn thì năng lực lãnh đạo phát triển, hiệu quả quản trị quốc gia, hiệu quả phục vụ Nhân dân và khả năng củng cố đồng thuận xã hội là những điều kiện trực tiếp để tiếp tục bồi đắp tính chính đáng ấy. Trên cơ sở đó, bài viết tập trung phân tích các cơ sở củng cố tính chính đáng chính trị của Đảng cầm quyền trong Văn kiện Đại hội XIV, đồng thời đề xuất một số phương hướng nhằm tiếp tục nâng cao tính chính đáng chính trị của Đảng trong kỷ nguyên phát triển mới.

2. Cơ sở củng cố tính chính đáng chính trị của Đảng cầm quyền từ Văn kiện Đại hội XIV

Trong khoa học chính trị, tính chính đáng của một đảng cầm quyền không chỉ được xác lập bởi nguồn gốc lịch sử của quyền lực chính trị mà còn được củng cố liên tục thông qua kết quả thực thi quyền lực chính trị trong thực tiễn. Đối với Đảng Cộng sản Việt Nam, tính chính đáng chính trị được hình thành từ vai trò lãnh đạo cách mạng, đồng thời không ngừng được tái khẳng định bằng năng lực lãnh đạo phát triển đất nước, năng lực quản trị quốc gia, hiệu quả phục vụ Nhân dân và khả năng duy trì sự đồng thuận xã hội. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đã thể hiện rõ những cơ sở quan trọng tạo nên và củng cố tính chính trị của Đảng trong kỷ nguyên phát triển mới.

Một là, cơ sở từ mục tiêu phát triển vì Nhân dân.

Trong mọi chế độ chính trị, mục tiêu cuối cùng của quyền lực chính trị là phục vụ con người. Vì vậy, một đảng cầm quyền chỉ có thể duy trì tính chính đáng khi mọi hoạt động lãnh đạo đều hướng tới lợi ích của nhân dân. Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng định rõ nguyên tắc này khi nhấn mạnh: “Mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước phải thực sự xuất phát từ nhu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của Nhân dân; lấy việc tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, hạnh phúc và sự hài lòng của Nhân dân làm thước đo và mục tiêu phấn đấu”1.

Đảng xác định Nhân dân là chủ thể của quyền lực và sự hạnh phúc, hài lòng của Nhân dân là tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả lãnh đạo của Đảng. Điều này phản ánh sự phát triển trong nhận thức về tính chính đáng chính trị: quyền lãnh đạo không chỉ được thừa nhận bởi lịch sử mà còn phải được chứng minh bằng khả năng đáp ứng những nhu cầu ngày càng cao của quần chúng nhân dân. Đại hội XIV của Đảng nêu rõ: “Niềm tin của Nhân dân đối với Đảng không đến từ lời nói  mà đến từ việc làm, từ sự công tâm, liêm chính của cán bộ, từ hiệu quả của bộ máy, từ sự công bằng trong thụ hưởng, từ kết quả bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, giải quyết kịp thời, thấu đáo những bức xúc chính đáng của người dân, doanh nghiệp”2. Từ đó, Đại hội XIV của Đảngđưa ra một yêu cầu chính trị rất rõ ràng: “Hiệu quả phục vụ Nhân dân là thước đo năng lực lãnh đạo, uy tín và danh dự của từng đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng khóa XIV”3. Đây là sự khẳng định, hiệu quả phục vụ Nhân dân chính là nền tảng quan trọng nhất của tính chính đáng trong điều kiện hiện nay.

Hai là, cơ sở từ năng lực lãnh đạo để phát triển đất nước nhanh, bền vững.

Một trong những biểu hiện quan trọng nhất của tính chính đáng chính trị là khả năng dẫn dắt quốc gia phát triển. Đối với một đảng cầm quyền, thành tựu phát triển đất nước vừa là kết quả của hoạt động lãnh đạo, vừa là bằng chứng thuyết phục nhất cho tính đúng đắn của đường lối chính trị.

Đại hội XIV của Đảng khẳng định: “Cơ đồ, tiềm lực, vị thế, uy tín quốc tế của đất nước có được như ngày hôm nay là sự hội tụ, kết tinh… là thành quả của 96 năm xây dựng và phát triển đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng; là kết quả của 40 năm đổi mới; là quá trình liên tục đổi mới tư duy lãnh đạo trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh”4. Nhận định này cho thấy, tính chính đáng chính trị được thể hiện qua những thành tựu phát triển cụ thể. Chính những kết quả về tăng trưởng kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân, mở rộng vị thế quốc tế và bảo đảm ổn định chính trị – xã hội đã tạo nên cơ sở thực tiễn cho niềm tin của xã hội đối với Đảng. Đặc biệt, Văn kiện XIV đặt ra yêu cầu mới đối với Đảng trong vai trò “kiến tạo tư duy phát triển, dẫn dắt thể chế, định hình chiến lược”5. Vì vậy, Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng định: “Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam; đường lối đổi mới của Đảng là đúng đắn, sáng tạo, hợp với quy luật khách quan”6. Đây chính là sự khẳng định mối quan hệ giữa năng lực lãnh đạo phát triển và tính chính đáng chính trị của Đảng cầm quyền.

Ba là, cơ sở từ đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền và quản trị quốc gia.

Trong bối cảnh xã hội ngày càng phát triển và yêu cầu quản trị quốc gia ngày càng phức tạp, tính chính đáng của Đảng không chỉ phụ thuộc vào mục tiêu và kết quả phát triển mà còn phụ thuộc vào cách thức thực thi quyền lực. Đại hội XIV của Đảng đánh giá cao những kết quả đổi mới tổ chức bộ máy trong thời gian qua, coi đó là “cuộc cách mạng sắp xếp lại giang sơn” và là biểu hiện của “sự đột phá, đổi mới tư duy trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện”7. Điều này cho thấy Đảng luôn chủ động điều chỉnh phương thức cầm quyền để thích ứng với những yêu cầu phát triển mới. Tính chính đáng vì thế được củng cố thông qua năng lực tự đổi mới và việc hoàn thiện cơ chế lãnh đạo. Đại hội XIV của Đảng đặc biệt nhấn mạnh việc hoàn thiện cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ”, bảo đảm xác định “đúng vai”, “đúng thẩm quyền”, tránh tình trạng bao biện thay hoặc buông lỏng lãnh đạo. Đây là biểu hiện của tư duy cầm quyền hiện đại, trong đó quyền lực được thực hiện trên cơ sở pháp quyền, phân công rõ trách nhiệm và đề cao hiệu quả quản trị. Cùng với đó, Văn kiện yêu cầu mọi chủ trương, nghị quyết phải “rõ trọng tâm, rõ nguồn lực, rõ kết quả”, bảo đảm nghị quyết thực sự đi vào cuộc sống8. Đây chính là cơ sở quan trọng để củng cố niềm tin của xã hội vào năng lực lãnh đạo của Đảng.

Bốn là, cơ sở từ xây dựng Đảng, kiểm soát quyền lực và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Một đảng cầm quyền chỉ có thể duy trì tính chính đáng khi bảo đảm được sự trong sạch, liêm chính của đội ngũ cán bộ và hiệu quả trong việc kiểm soát quyền lực. Đại hội XIV của Đảng khẳng định nguyên tắc: “Mọi quyền lực đều phải được kiểm soát chặt chẽ bằng cơ chế; quyền lực phải được ràng buộc bằng trách nhiệm…”9. Đây là bước phát triển quan trọng trong nhận thức về quyền lực chính trị, bởi quyền lực chỉ có thể được xã hội chấp nhận khi được đặt dưới sự kiểm soát nghiêm ngặt. Đồng thời, Đảng tiếp tục khẳng định quyết tâm đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực với tinh thần “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”10. Điều này không chỉ góp phần làm trong sạch bộ máy mà còn tạo dựng niềm tin của Nhân dân vào sự công bằng và nghiêm minh của hệ thống chính trị.

Bên cạnh các cơ chế kiểm soát bên ngoài, Đại hội XIV của Đảng còn nhấn mạnh yêu cầu tự rèn luyện đạo đức của cán bộ, đảng viên. Văn kiện yêu cầu mỗi cán bộ phải “tự soi, tự sửa”, coi “liêm chính là phẩm chất nền tảng của đạo đức công vụ”11. Đây chính là nền tảng đạo đức của tính chính đáng chính trị.

Năm là cơ sở để củng cố đồng thuận xã hội, đại đoàn kết toàn dân tộc và niềm tin chính trị.

Tính chính đáng chính trị cuối cùng phải được phản ánh ở mức độ xã hội chấp nhận, ủng hộ và đồng thuận với sự lãnh đạo của Đảng. Vì vậy, đồng thuận xã hội và niềm tin chính trị là nền tảng quan trọng bảo đảm sự bền vững của chế độ. Đại hội XIV của Đảng khẳng định: “Đại đoàn kết toàn dân tộc là nền tảng hội tụ và phát huy cao nhất sức mạnh của Nhân dân, tạo nên sức mạnh vô địch để đất nước ta vượt qua mọi khó khăn, thử thách”12. Đồng thời, Văn kiện nhấn mạnh nhiệm vụ xây dựng “thế trận lòng dân”, trước hết là xây dựng niềm tin và sự đồng thuận của Nhân dân đối với Đảng và sự nghiệp đổi mới. Điều này cho thấy Đảng nhận thức sâu sắc rằng sức mạnh chính trị bền vững đến từ sự ủng hộ tự nguyện của nhân dân. Do đó, Đại hội XIV của Đảng nhiều lần nhấn mạnh: “thế trận lòng dân vững thì quốc phòng, an ninh vững; thế trận lòng dân vững thì cải cách mới đi tới cùng”13.

Như vậy, từ góc nhìn Văn kiện Đại hội XIV của Đảng, tính chính đáng chính trị của Đảng được xây dựng trên nhiều nền tảng gắn bó hữu cơ với nhau: (1) Mục tiêu phát triển vì Nhân dân. (2) Năng lực lãnh đạo phát triển đất nước. (3) Đổi mới phương thức cầm quyền và quản trị quốc gia. (4) Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. (5) Củng cố sự đồng thuận xã hội và niềm tin chính trị. Chính sự kết hợp của những yếu tố đó tạo nên cơ sở vững chắc cho vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc.

3. Phương hướng tăng cường tính chính đáng chính trị của Đảng cầm quyền trong kỷ nguyên phát triển mới

Bước vào kỷ nguyên phát triển mới, tính chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam đứng trước những cơ hội và thách thức. Nếu trong các giai đoạn trước, tính chính đáng chủ yếu được khẳng định thông qua vai trò lãnh đạo cách mạng, đấu tranh giải phóng dân tộc và những thành tựu của công cuộc đổi mới, thì trong bối cảnh hiện nay, tính chính đáng ấy ngày càng được kiểm chứng bằng năng lực lãnh đạo phát triển đất nước, năng lực quản trị quốc gia, hiệu quả phục vụ nhân dân và khả năng duy trì sự đồng thuận xã hội. Từ tinh thần Văn kiện Đại hội XIV của Đảng, có thể xác định một số phương hướng cơ bản nhằm tiếp tục củng cố và nâng cao tính chính trị của Đảng trong giai đoạn phát triển mới.

Thứ nhất, tiếp tục đặt lợi ích của nhân dân làm trung tâm của mọi quyết sách chính trị.

Trong mọi mô hình cầm quyền, tính chính đáng của quyền lực chính trị cuối cùng đều được quyết định bởi mức độ đáp ứng lợi ích của xã hội. Đối với Đảng Cộng sản Việt Nam, nguyên tắc này được thể hiện nhất quán thông qua quan điểm “Dân là gốc” và lấy Nhân dân làm trung tâm của mọi hoạt động lãnh đạo. Đại hội XIV của Đảngtiếp tục khẳng định: “Mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước phải thực sự xuất phát từ nhu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của Nhân dân; lấy việc tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, hạnh phúc và sự hài lòng của Nhân dân làm thước đo và mục tiêu phấn đấu”14. Trong thời gian tới, việc tăng cường tính chính đáng chính trị trước hết phải được thực hiện thông qua quá trình thể chế hóa đầy đủ các nhu cầu, lợi ích và nguyện vọng chính đáng của Nhân dân thành các chủ trương, chính sách phát triển. Mỗi quyết sách chính trị không chỉ cần bảo đảm tính đúng đắn về mặt chiến lược mà còn phải tạo ra những lợi ích thiết thực để người dân có thể trực tiếp cảm nhận trong đời sống hằng ngày.

Đại hội XIV của Đảng yêu cầu: “Quán triệt sâu sắc và thực hành triệt để quan điểm “Dân là gốc”, phát huy vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của Nhân dân… Lấy sự hài lòng, tín nhiệm của người dân, doanh nghiệp và hiệu quả công việc làm tiêu chí đánh giá cán bộ”15. Trong điều kiện đó, việc củng cố tính chính đáng chính trị đòi hỏi phải tiếp tục xây dựng nền hành chính phục vụ, nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ công và bảo đảm mọi chính sách đều hướng tới mục tiêu nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân. Văn kiện đã khẳng định: “Mọi quyết sách chỉ có ý nghĩa khi được Nhân dân đồng tình, ủng hộ và mang lại lợi ích thiết thực cho Nhân dân16.

Thứ hai, nâng cao năng lực lãnh đạo phát triển, nhất là trong chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững.

Trong kỷ nguyên số, tính chính đáng của một đảng cầm quyền ngày càng được đánh giá thông qua năng lực dẫn dắt sự phát triển của quốc gia. Vì vậy, việc nâng cao năng lực lãnh đạo phát triển cần được xem là phương hướng quan trọng hàng đầu nhằm củng cố tính chính trị của Đảng. Đại hội XIV của Đảng xác định rõ vai trò của Đảng trong việc “kiến tạo tư duy phát triển, dẫn dắt thể chế, định hình chiến lược”17. Điều này đòi hỏi Đảng không chỉ là lực lượng lãnh đạo chính trị mà còn phải là chủ thể khởi xướng những tư duy, mô hình và động lực phát triển mới, phù hợp với xu thế thời đại.

Văn kiện Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh yêu cầu “lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính” cho sự phát triển của đất nước 18. Đây là lựa chọn chiến lược có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế ngày càng dựa trên tri thức, công nghệ và năng lực đổi mới sáng tạo.Do đó, việc tăng cường tính chính đáng chính trị không chỉ đòi hỏi duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế mà còn phải nâng cao năng lực hoạch định chiến lược phát triển, năng lực dẫn dắt quá trình chuyển đổi số quốc gia, xây dựng nền kinh tế tri thức và thúc đẩy đổi mới sáng tạo trên phạm vi toàn xã hội. Khi khoa học, công nghệ và chuyển đổi số thực sự trở thành “động lực then chốt của tăng trưởng” và “công cụ nâng cao hiệu quả quản trị”19, uy tín và năng lực cầm quyền của Đảng sẽ tiếp tục được củng cố bằng những thành tựu phát triển cụ thể.

Thứ ba, hoàn thiện phương thức cầm quyền theo hướng khoa học, dân chủ, pháp quyền, hiệu lực và hiệu quả.

Trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, tính chính đáng của Đảng không chỉ được bảo đảm bằng mục tiêu chính trị đúng đắn mà còn phụ thuộc vào cách thức thực hiện quyền lãnh đạo. Đại hội XIV của Đảng yêu cầu “đổi mới mạnh mẽ tư duy, thống nhất nhận thức và thực hiện đồng bộ, hiệu quả phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, không để xảy ra tình trạng bao biện, làm thay hoặc buông lỏng sự lãnh đạo của Đảng”20. Điều này phản ánh yêu cầu tiếp tục hoàn thiện mô hình Đảng cầm quyền trong điều kiện phát triển mới, trong đó quyền lãnh đạo của Đảng phải được thực hiện thông qua các cơ chế khoa học, dân chủ và pháp quyền. Đặc biệt, việc cụ thể hóa cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ” nhằm xác định đúng vai trò, đúng thẩm quyền giữa các chủ thể trong hệ thống chính trị có ý nghĩa quan trọng đối với việc nâng cao hiệu lực và hiệu quả cầm quyền.

Bên cạnh đó, Đại hội XIV của Đảng còn yêu cầu “đổi mới mạnh mẽ phong cách lãnh đạo, phương pháp công tác, lề lối làm việc” theo hướng dân chủ, trách nhiệm, khoa học và chuyên nghiệp 21. Đây chính là phương hướng nhằm nâng cao chất lượng cầm quyền, giảm chi phí quản trị và tăng cường niềm tin của xã hội đối với hệ thống chính trị.

Thứ tư, tăng cường kiểm soát quyền lực và phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.

Lịch sử chính trị thế giới cho thấy một trong những nguyên nhân làm suy giảm tính chính đáng của các đảng cầm quyền là tình trạng lạm quyền và tham nhũng. Vì vậy, việc kiểm soát quyền lực luôn là yêu cầu mang tính nguyên tắc đối với mọi chủ thể cầm quyền. Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng định quan điểm: “Mọi quyền lực đều phải được kiểm soát chặt chẽ bằng cơ chế; quyền lực phải được ràng buộc bằng trách nhiệm…”22. Đây là nền tảng để xây dựng một hệ thống chính trị hoạt động trên cơ sở minh bạch, có trách nhiệm và chịu sự giám sát của Nhân dân.

Trong thời gian tới, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế kiểm soát quyền lực, cơ chế công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của các tổ chức, cá nhân có thẩm quyền. Việc hoàn thiện các thiết chế kiểm soát tài sản, thu nhập, quyền lực và trách nhiệm của người đứng đầu không chỉ nhằm ngăn ngừa tham nhũng mà còn góp phần củng cố niềm tin của xã hội đối với bộ máy công quyền. Đồng thời, phải tiếp tục duy trì quyết tâm chính trị cao trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí và tiêu cực, với tinh thần “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”23. Đây không chỉ là nhiệm vụ xây dựng Đảng mà còn là phương thức quan trọng để bảo vệ tính chính trị của Đảng cầm quyền.

Thứ năm, chủ động kiến tạo đồng thuận xã hội, củng cố niềm tin chính trị và nâng cao năng lực phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, chuyển đổi số và sự phát triển mạnh mẽ của không gian mạng, việc duy trì đồng thuận xã hội và niềm tin chính trị đã trở thành một trong những điều kiện quan trọng bảo đảm sự ổn định và phát triển bền vững của đất nước. Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh yêu cầu xây dựng vững chắc “thế trận lòng dân”, bởi “thế trận lòng dân vững thì quốc phòng, an ninh vững; thế trận lòng dân vững thì cải cách mới đi tới cùng; thế trận lòng dân vững thì khó khăn nào cũng vượt qua, thách thức nào cũng được hóa giải”24.

Vì vậy, việc tăng cường tính chính đáng chính trị của Đảng cần được thực hiện thông qua quá trình không ngừng củng cố niềm tin xã hội, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc và nâng cao chất lượng công tác dân vận. Đại hội XIV của Đảng yêu cầu đổi mới nội dung, phương thức tuyên truyền, vận động theo hướng thiết thực nhằm “tăng cường đồng thuận, củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa”25.

Bên cạnh đó, trong điều kiện các thế lực thù địch ngày càng gia tăng hoạt động chống phá trên không gian mạng, việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng cần gắn với nâng cao năng lực dự báo, nhận diện và phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Theo tinh thần Đại hội XIV, cần chủ động theo dõi, dự báo và “kịp thời đấu tranh, phản bác, ngăn chặn, xử lý thông tin xấu độc, các quan điểm sai trái, thù địch”26. Đây là điều kiện quan trọng để bảo vệ niềm tin chính trị, củng cố sự đồng thuận xã hội và giữ vững tính chính đáng của Đảng trong bối cảnh mới.

4. Kết luận

Tính chính đáng chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam trong kỷ nguyên phát triển mới là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng cho thấy sự phát triển quan trọng trong tư duy của Đảng về vai trò lãnh đạo, cầm quyền trong điều kiện mới. Từ các nội dung đã phân tích, có thể khẳng định rằng tính chính đáng chính trị của Đảng cầm quyền trong kỷ nguyên phát triển mới được củng cố trên năm cơ sở chủ yếu: mục tiêu phát triển vì Nhân dân; năng lực lãnh đạo phát triển đất nước nhanh, bền vững; đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền và quản trị quốc gia; xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh gắn với kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; củng cố đồng thuận xã hội, đại đoàn kết toàn dân tộc và niềm tin chính trị. Trên phương diện thực tiễn, việc tăng cường tính chính đáng chính trị của Đảng trong thời gian tới đòi hỏi phải tiếp tục đặt lợi ích của Nhân dân ở vị trí trung tâm của mọi quyết sách; nâng cao năng lực lãnh đạo phát triển trong điều kiện chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững; hoàn thiện phương thức cầm quyền theo hướng khoa học, dân chủ, pháp quyền, hiệu lực, hiệu quả; kiểm soát chặt chẽ quyền lực, đề cao trách nhiệm giải trình, đấu tranh kiên quyết với tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; đồng thời chủ động kiến tạo đồng thuận xã hội, củng cố niềm tin chính trị và bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng.

Như vậy, tiếp cận từ Văn kiện Đại hội XIV của Đảng cho thấy tính chính đáng chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam trong kỷ nguyên phát triển mới không chỉ là sự tiếp nối của chính danh lịch sử mà còn là sự kết hợp giữa chính danh phát triển, chính danh quản trị, chính danh phục vụ Nhân dân và chính danh tự đổi mới. Đây là nền tảng quan trọng để củng cố niềm tin của Nhân dân, tăng cường sự đồng thuận xã hội, giữ vững ổn định chính trị và tạo động lực để đất nước phát triển nhanh, bền vững trong giai đoạn mới.

Chú thích:
1, 2, 4, 8, 10, 11, 12, 14, 15, 16, 19. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập I. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 121, 39, 18-19, 142, 140-141, 34-35, 36, 121, 21-22, 40, 31.
3, 5, 6, 7, 9, 13, 17, 18, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập II. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 392, 237, 399, 213, 98, 39, 237, 260-261, 279, 418-419, 98, 413-414, 39, 284-285, 249.