Giải pháp nâng cao chất lượng nhà giáo giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh

Solutions for improving the quality of vocational education teachers in Ho Chi Minh City

ThS. Nguyễn Thị Nhung
Trường Cao đẳng Nông nghiệp Nam Bộ

(Quanlynhanuoc.vn) – Giáo dục nghề nghiệp giữ vai trò quan trọng trong đào tạo nguồn nhân lực kỹ thuật phục vụ phát triển kinh tế – xã hội. TP. Hồ Chí Minh đang đặt ra yêu cầu cấp thiết nâng cao chất lượng đào tạo nghề nhằm đáp ứng nhu cầu lao động trong các ngành công nghệ cao, dịch vụ hiện đại và kinh tế số. Bài viết phân tích thực trạng đội ngũ nhà giáo giáo dục nghề nghiệp, chỉ ra những kết quả đạt được và những hạn chế còn tồn tại; từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo giáo dục nghề nghiệp TP. Hồ Chí Minh theo hướng hiện đại, chuyên nghiệp và hội nhập quốc tế.

Từ khóa: Giáo dục nghề nghiệp; phát triển nhà giáo; chất lượng dạy nghề; đào tạo nghề; TP. Hồ Chí Minh.

Abstract: Vocational education plays a crucial role in training technical personnel to support socioeconomic development. Ho Chi Minh City is facing an urgent need to improve the quality of vocational training to meet labor demands in high-tech industries, modern services, and the digital economy. This article analyzes the current status of the vocational education teaching staff, identifies achievements and existing limitations; and proposes solutions to improve the quality of Ho Chi Minh City’s vocational education teaching staff toward modernization, professionalism, and international integration.

Keywords: Vocational education; teacher development; vocational training quality; vocational training; Ho Chi Minh City.

1. Đặt vấn đề

Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, quá trình chuyển đổi số và hội nhập quốc tế đang làm thay đổi mạnh mẽ thị trường lao động và yêu cầu về chất lượng nguồn nhân lực. Trong bối cảnh đó, giáo dục nghề nghiệp giữ vai trò quan trọng trong đào tạo lao động có kỹ năng nghề, năng lực thực hành và khả năng thích ứng với môi trường sản xuất hiện đại. Chất lượng đào tạo nghề phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó đội ngũ nhà giáo là lực lượng nòng cốt, trực tiếp quyết định hiệu quả đào tạo và năng lực nghề nghiệp của người học. Nhà giáo giáo dục nghề nghiệp không chỉ truyền đạt kiến thức mà còn hướng dẫn kỹ năng thực hành, hình thành tư duy nghề nghiệp và khả năng thích ứng công nghệ cho học sinh, sinh viên. Là địa phương có tốc độ phát triển kinh tế nhanh và nhu cầu lớn về lao động kỹ thuật, TP. Hồ Chí Minh luôn chú trọng phát triển hệ thống giáo dục nghề nghiệp thông qua đổi mới chương trình đào tạo, tăng cường ứng dụng công nghệ và mở rộng hợp tác với doanh nghiệp. Công tác xây dựng đội ngũ nhà giáo cũng từng bước được quan tâm thông qua hoạt động đào tạo, bồi dưỡng và chuẩn hóa trình độ chuyên môn.

Tuy nhiên, trước yêu cầu phát triển mới, đội ngũ nhà giáo giáo dục nghề nghiệp vẫn còn nhiều hạn chế. Một số ngành nghề mới và lĩnh vực công nghệ cao còn thiếu giáo viên có chuyên môn sâu và kinh nghiệm thực tiễn. Năng lực ứng dụng công nghệ số, kỹ năng nghề và phương pháp giảng dạy của một bộ phận giáo viên chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục nghề nghiệp. Bên cạnh đó, chính sách đãi ngộ, cơ hội phát triển nghề nghiệp và điều kiện tiếp cận môi trường sản xuất hiện đại còn nhiều khó khăn, ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo và khả năng thu hút nhân lực chất lượng cao tham gia giảng dạy. Vì vậy, việc nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo giáo dục nghề nghiệp theo hướng hiện đại, chuyên nghiệp và hội nhập quốc tế là yêu cầu cấp thiết. Điều này đòi hỏi các giải pháp đồng bộ về cơ chế chính sách, đào tạo, bồi dưỡng, chuyển đổi số, hợp tác doanh nghiệp và hợp tác quốc tế nhằm phát triển toàn diện đội ngũ nhà giáo, góp phần đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực kỹ thuật chất lượng cao trong giai đoạn hiện nay.

2. Thực trạng đội ngũ nhà giáo giáo dục nghề nghiệp tại TP. Hồ Chí Minh

2.1. Thành tích đạt được

Hệ thống giáo dục nghề nghiệp tại TP. Hồ Chí Minh đã có nhiều chuyển biến tích cực, đặc biệt trong công tác xây dựng và phát triển đội ngũ nhà giáo. Những kết quả đạt được đã góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng đào tạo nghề, đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực kỹ thuật cho thành phố và khu vực phía Nam.

Một là, quy mô và trình độ đội ngũ nhà giáo từng bước được nâng cao. “Sau sáp nhập, đến nay thành phố có 478 cơ sở giáo dục nghề nghiệp với hơn 198.000 người học, tổng số cán bộ quản lý, nhà giáo hơn 20.000 người”1. Đây là lực lượng có vai trò trực tiếp trong việc đào tạo nguồn nhân lực kỹ thuật cho thị trường lao động. Những năm gần đây, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp đã chú trọng công tác chuẩn hóa đội ngũ giáo viên theo quy định của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, đồng thời, từng bước nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề và năng lực sư phạm cho giáo viên. Tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn về trình độ đào tạo ngày càng tăng; nhiều giáo viên đã chủ động học tập nâng cao trình độ sau đại học nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục nghề nghiệp. Bên cạnh đó, đội ngũ giáo viên có chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia và quốc tế cũng từng bước được mở rộng, đặc biệt ở các ngành nghề kỹ thuật và công nghệ cao. Điều này cho thấy, nhận thức của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp về vai trò của đội ngũ giáo viên đã có sự chuyển biến tích cực, từ chú trọng số lượng sang nâng cao chất lượng và năng lực nghề nghiệp thực tiễn. Ngoài ra, cơ cấu đội ngũ giáo viên cũng từng bước được bổ sung theo hướng phù hợp hơn với nhu cầu phát triển kinh tế của thành phố. Một số cơ sở đào tạo đã chủ động tuyển dụng kỹ sư, chuyên gia kỹ thuật từ doanh nghiệp tham gia giảng dạy nhằm nâng cao tính thực tiễn của chương trình đào tạo.

Hai là, công tác đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn và kỹ năng sư phạm được chú trọng. Nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục nghề nghiệp trong thời kỳ chuyển đổi số, nhiều cơ sở đào tạo đã tích cực tổ chức các chương trình bồi dưỡng chuyên môn, kỹ năng nghề và phương pháp giảng dạy hiện đại cho đội ngũ giáo viên. Nội dung bồi dưỡng không chỉ tập trung cập nhật kiến thức chuyên môn mà còn chú trọng đến kỹ năng sư phạm, kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin và khả năng tổ chức dạy học theo hướng tích hợp. Nhiều khóa tập huấn về chuyển đổi số, xây dựng bài giảng điện tử, sử dụng hệ thống quản lý học tập trực tuyến (LMS), phần mềm mô phỏng kỹ thuật và thiết bị công nghệ mới đã được triển khai rộng rãi. Qua đó, giáo viên từng bước thích ứng với môi trường đào tạo hiện đại, nâng cao hiệu quả giảng dạy và khả năng tương tác với người học. Bên cạnh các chương trình bồi dưỡng trong nước, nhiều cơ sở giáo dục nghề nghiệp tại TP. Hồ Chí Minh đã tăng cường hợp tác quốc tế với các tổ chức và đối tác nước ngoài nhằm tổ chức đào tạo, chuyển giao công nghệ và tiếp cận mô hình giáo dục nghề nghiệp tiên tiến. Thông qua các chương trình này, giáo viên có cơ hội tiếp cận phương pháp đào tạo hiện đại, tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc tế và môi trường làm việc chuyên nghiệp.

Ba là, phương pháp giảng dạy từng bước được đổi mới theo hướng tăng cường thực hành và ứng dụng công nghệ. Nhiều cơ sở đào tạo đã triển khai mô hình dạy học tích hợp giữa lý thuyết và thực hành, giúp người học vừa nắm vững kiến thức nền tảng vừa rèn luyện kỹ năng nghề trong quá trình học tập. Đồng thời, việc ứng dụng công nghệ số trong giảng dạy ngày càng được mở rộng. Các bài giảng điện tử, học liệu số, lớp học trực tuyến và hệ thống quản lý đào tạo đã được triển khai tại nhiều cơ sở giáo dục nghề nghiệp. Một số trường đã đầu tư phòng học thông minh, phòng mô phỏng kỹ thuật số và các thiết bị công nghệ phục vụ đào tạo thực hành. Điều này không chỉ góp phần đổi mới phương pháp giảng dạy mà còn nâng cao tính linh hoạt, khả năng tự học và khả năng tiếp cận công nghệ mới của người học. Việc đổi mới phương pháp đào tạo cũng giúp giáo viên thay đổi vai trò từ người truyền đạt kiến thức sang người hướng dẫn, hỗ trợ và tổ chức hoạt động học tập cho học sinh, sinh viên. Đây là xu hướng phù hợp với yêu cầu phát triển giáo dục nghề nghiệp hiện đại và hội nhập quốc tế.

Bốn là, mối quan hệ hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp ngày càng được mở rộng. Trong những năm gần đây, nhiều cơ sở giáo dục nghề nghiệp tại TP. Hồ Chí Minh đã chú trọng tăng cường hợp tác với doanh nghiệp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo và gắn đào tạo với nhu cầu sử dụng lao động thực tế. Sự hợp tác này được thể hiện thông qua nhiều hình thức như phối hợp xây dựng chương trình đào tạo, tổ chức thực tập sản xuất, liên kết đào tạo theo đơn đặt hàng của doanh nghiệp và mời chuyên gia kỹ thuật tham gia giảng dạy. Thông qua hoạt động hợp tác với doanh nghiệp, giáo viên có điều kiện tiếp cận môi trường sản xuất thực tế, cập nhật công nghệ mới, quy trình kỹ thuật hiện đại và yêu cầu nghề nghiệp của thị trường lao động. Đây là yếu tố quan trọng giúp đội ngũ giáo viên nâng cao kỹ năng thực hành và điều chỉnh nội dung giảng dạy phù hợp với thực tiễn sản xuất. Ngoài ra, sự tham gia của doanh nghiệp còn góp phần nâng cao hiệu quả đào tạo thông qua việc hỗ trợ trang thiết bị thực hành, học bổng và cơ hội việc làm cho người học sau tốt nghiệp. Điều này tạo ra mối liên kết chặt chẽ hơn giữa nhà trường và thị trường lao động, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn thành phố.

2.2. Hạn chế

Bên cạnh những kết quả đạt được, đội ngũ nhà giáo giáo dục nghề nghiệp tại TP. Hồ Chí Minh vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế, ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo và khả năng đáp ứng nhu cầu nhân lực trong bối cảnh phát triển kinh tế số và hội nhập quốc tế.

Một là, tình trạng thiếu hụt giáo viên ở các ngành nghề trọng điểm. Sự phát triển nhanh chóng của khoa học – công nghệ và nhu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã làm xuất hiện nhiều ngành nghề mới đòi hỏi trình độ kỹ thuật cao như tự động hóa, robot, trí tuệ nhân tạo (AI), công nghệ bán dẫn, logistics và thương mại điện tử. Tuy nhiên, đội ngũ giáo viên có chuyên môn sâu và kinh nghiệm thực tiễn ở các ngành nghề này hiện còn thiếu hụt đáng kể. Nguyên nhân chủ yếu là do nguồn nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực công nghệ hiện đại thường có xu hướng làm việc tại doanh nghiệp với mức thu nhập hấp dẫn hơn so với môi trường giáo dục nghề nghiệp. Điều này dẫn đến khó khăn trong tuyển dụng và giữ chân giáo viên có trình độ cao tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp. Sự thiếu hụt giáo viên ở các ngành nghề trọng điểm không chỉ ảnh hưởng đến quy mô tuyển sinh mà còn hạn chế khả năng triển khai các chương trình đào tạo theo chuẩn quốc tế, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng nguồn nhân lực kỹ thuật của thành phố.

Hai là, năng lực công nghệ và kỹ năng sư phạm của đội ngũ giáo viên chưa đồng đều. Mặc dù nhiều giáo viên đã chủ động cập nhật kiến thức và công nghệ mới, song vẫn còn một bộ phận giáo viên gặp khó khăn trong việc ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số vào giảng dạy. Kỹ năng sử dụng phần mềm mô phỏng, thiết kế học liệu số, quản lý lớp học trực tuyến và khai thác nền tảng số phục vụ đào tạo còn hạn chế. Bên cạnh đó, phương pháp giảng dạy của một số giáo viên vẫn mang tính truyền thống, thiên về lý thuyết, chưa chú trọng phát triển năng lực thực hành, và kỹ năng nghề cho người học. Điều này làm giảm tính hấp dẫn và hiệu quả của quá trình đào tạo nghề. Sự chênh lệch về năng lực công nghệ và kỹ năng sư phạm giữa các nhóm giáo viên cũng tạo ra khoảng cách về chất lượng đào tạo giữa các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, đặc biệt giữa các trường có điều kiện đầu tư tốt với các trường còn khó khăn về nguồn lực.

Ba là, chế độ đãi ngộ chưa tương xứng với đặc thù nghề nghiệp. Một trong những khó khăn lớn hiện nay là chế độ tiền lương, phụ cấp và các chính sách hỗ trợ đối với giáo viên giáo dục nghề nghiệp chưa thật sự phù hợp với đặc thù nghề nghiệp. So với yêu cầu công việc phải thường xuyên cập nhật công nghệ, rèn luyện kỹ năng nghề và tham gia thực hành sản xuất, mức thu nhập hiện nay của giáo viên nghề vẫn còn thấp. Trong khi đó, tại các doanh nghiệp, đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ và kỹ thuật cao, người lao động có tay nghề thường được hưởng mức thu nhập và chế độ đãi ngộ tốt hơn. Điều này khiến nhiều giáo viên giỏi chuyển sang làm việc tại doanh nghiệp hoặc không gắn bó lâu dài với nghề dạy học. Ngoài ra, các chính sách hỗ trợ nghiên cứu khoa học, đào tạo nâng cao trình độ và khuyến khích đổi mới sáng tạo trong giảng dạy vẫn chưa được triển khai đồng bộ, làm giảm động lực phát triển nghề nghiệp của đội ngũ giáo viên.

Bốn là, cơ hội phát triển nghề nghiệp của giáo viên còn hạn chế. Mặc dù công tác bồi dưỡng giáo viên đã được quan tâm, song cơ hội tham gia các chương trình đào tạo chuyên sâu, thực tập tại doanh nghiệp hoặc giao lưu học thuật quốc tế của giáo viên vẫn còn hạn chế. Nhiều giáo viên chưa có điều kiện tiếp cận công nghệ sản xuất tiên tiến và các mô hình đào tạo hiện đại của thế giới. Bên cạnh đó, lộ trình phát triển nghề nghiệp của giáo viên giáo dục nghề nghiệp chưa thật sự rõ ràng. Công tác đánh giá, bổ nhiệm và quy hoạch đội ngũ còn nặng về tiêu chí hành chính, chưa gắn chặt với năng lực nghề nghiệp và hiệu quả đào tạo thực tế. Điều này ảnh hưởng đến động lực phấn đấu, sáng tạo và tự học của giáo viên trong quá trình công tác.

3. Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh

Thứ nhất, tăng cường gắn kết giữa cơ sở giáo dục nghề nghiệp và doanh nghiệp.

Trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư và quá trình chuyển đổi số đang làm thay đổi nhanh chóng cơ cấu ngành nghề, yêu cầu kỹ năng lao động và phương thức sản xuất, việc tăng cường mối liên kết giữa cơ sở giáo dục nghề nghiệp và doanh nghiệp trở thành yêu cầu mang tính chiến lược nhằm nâng cao chất lượng đào tạo và phát triển đội ngũ nhà giáo theo hướng thực tiễn, hiện đại. Thực tế cho thấy, một trong những hạn chế của giáo dục nghề nghiệp hiện nay là chương trình đào tạo và kỹ năng nghề của giáo viên ở một số lĩnh vực chưa theo kịp tốc độ đổi mới công nghệ và nhu cầu thực tế của doanh nghiệp. Vì vậy, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp cần xây dựng cơ chế hợp tác chặt chẽ, lâu dài và ổn định với doanh nghiệp trong toàn bộ quá trình đào tạo, từ xây dựng chuẩn đầu ra, cập nhật chương trình đào tạo, tổ chức thực hành, thực tập đến đánh giá năng lực người học. Sự tham gia trực tiếp của doanh nghiệp sẽ giúp hoạt động đào tạo bám sát nhu cầu thị trường lao động, hạn chế tình trạng chênh lệch giữa kiến thức đào tạo và yêu cầu thực tiễn sản xuất.

Đặc biệt, cần đẩy mạnh mô hình giáo viên thực tập tại doanh nghiệp theo định kỳ hằng năm, tạo điều kiện để giáo viên trực tiếp tham gia vào quy trình sản xuất, vận hành thiết bị và tiếp cận công nghệ mới tại doanh nghiệp. Thông qua môi trường làm việc thực tế, giáo viên có cơ hội nâng cao kỹ năng nghề, cập nhật kiến thức chuyên môn và hiểu rõ hơn yêu cầu về kỹ năng, tác phong lao động trong bối cảnh sản xuất hiện đại. Đây là giải pháp quan trọng giúp đội ngũ giáo viên đổi mới nội dung và phương pháp giảng dạy theo hướng gắn với thực tiễn, từ đó nâng cao chất lượng đào tạo nghề. Bên cạnh đó, cần khuyến khích doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào hoạt động giáo dục nghề nghiệp thông qua hỗ trợ trang thiết bị thực hành, tài trợ học liệu, tiếp nhận học sinh – sinh viên thực tập, cử chuyên gia tham gia giảng dạy và phối hợp đánh giá kỹ năng nghề. Việc tăng cường mối liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp không chỉ góp phần nâng cao năng lực đội ngũ nhà giáo mà còn tạo điều kiện để người học tiếp cận môi trường sản xuất thực tế, đáp ứng tốt hơn yêu cầu của thị trường lao động trong giai đoạn hiện nay.

Thứ hai, hoàn thiện chính sách đãi ngộ và phát triển nghề nghiệp.

Để xây dựng đội ngũ nhà giáo giáo dục nghề nghiệp có chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu đổi mới và hội nhập quốc tế, việc hoàn thiện cơ chế đãi ngộ và phát triển nghề nghiệp cần được xem là giải pháp mang tính nền tảng và lâu dài. Trong thực tế, giáo viên giáo dục nghề nghiệp không chỉ thực hiện nhiệm vụ giảng dạy lý thuyết mà còn phải thường xuyên cập nhật công nghệ, hướng dẫn thực hành và thích ứng với sự thay đổi nhanh chóng của môi trường sản xuất. Tuy nhiên, chế độ đãi ngộ hiện nay vẫn chưa thực sự tương xứng với đặc thù nghề nghiệp, nhất là đối với giáo viên giảng dạy các ngành công nghệ cao, ngành nghề độc hại hoặc lĩnh vực yêu cầu kỹ năng thực hành chuyên sâu. Vì vậy, TP. Hồ Chí Minh cần nghiên cứu xây dựng các chính sách đặc thù nhằm nâng cao thu nhập, cải thiện điều kiện làm việc và tạo động lực nghề nghiệp cho đội ngũ giáo viên. Bên cạnh chế độ tiền lương, cần bổ sung các chính sách hỗ trợ như thu nhập tăng thêm, phụ cấp trách nhiệm, hỗ trợ nghiên cứu khoa học, hỗ trợ học tập nâng cao trình độ chuyên môn và khuyến khích giáo viên tham gia các kỳ thi kỹ năng nghề trong nước và quốc tế. Những chính sách này không chỉ góp phần ổn định đời sống mà còn tạo điều kiện để giáo viên yên tâm gắn bó lâu dài với nghề, từ đó nâng cao chất lượng đào tạo.

Song song với chính sách đãi ngộ, cần xây dựng lộ trình phát triển nghề nghiệp rõ ràng, minh bạch và gắn với năng lực thực tế của giáo viên. Công tác đánh giá, bổ nhiệm và xét nâng hạng chức danh nghề nghiệp cần dựa trên trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề, hiệu quả giảng dạy và khả năng đổi mới phương pháp đào tạo thay vì chủ yếu dựa vào thâm niên công tác. Điều này sẽ tạo động lực để giáo viên chủ động học tập, nâng cao trình độ và thích ứng với yêu cầu đổi mới giáo dục nghề nghiệp trong thời đại số. Đồng thời, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp cần có cơ chế tuyển dụng linh hoạt, tạo điều kiện thu hút chuyên gia, kỹ sư, nghệ nhân và lao động có tay nghề cao từ doanh nghiệp tham gia giảng dạy dưới nhiều hình thức phù hợp. Việc gắn kết giữa nhà trường và doanh nghiệp không chỉ góp phần bổ sung nguồn nhân lực chất lượng cao cho hoạt động giảng dạy mà còn giúp giáo viên và người học tiếp cận sát hơn với công nghệ, quy trình sản xuất và yêu cầu thực tiễn của thị trường lao động hiện nay.

Thứ ba, đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng và đánh giá giáo viên.

Trong bối cảnh đổi mới giáo dục nghề nghiệp theo hướng mở, linh hoạt và hội nhập quốc tế, công tác đào tạo, bồi dưỡng giáo viên cần được đổi mới theo hướng thực tiễn và đáp ứng yêu cầu phát triển công nghệ. Các chương trình bồi dưỡng cần được thiết kế theo từng nhóm ngành nghề cụ thể, chú trọng cập nhật công nghệ mới, kỹ năng nghề hiện đại, phương pháp giảng dạy tích hợp và kỹ năng ứng dụng công nghệ số trong đào tạo. Đồng thời, cần tăng cường đào tạo ngoại ngữ và kỹ năng mềm cho giáo viên nhằm nâng cao khả năng hội nhập quốc tế.

Bên cạnh hoạt động bồi dưỡng, việc xây dựng hệ thống đánh giá năng lực giáo viên theo hướng toàn diện và khách quan là yêu cầu cần thiết. Hệ thống đánh giá cần dựa trên nhiều tiêu chí như trình độ chuyên môn, kỹ năng thực hành nghề, hiệu quả giảng dạy, mức độ ứng dụng công nghệ, khả năng nghiên cứu khoa học và mức độ hài lòng của người học, doanh nghiệp. Kết quả đánh giá cần được sử dụng như một công cụ quản lý và phát triển đội ngũ, làm căn cứ cho công tác đào tạo, bổ nhiệm, quy hoạch cán bộ và thực hiện chế độ chính sách phù hợp.

Thứ tư, đẩy mạnh chuyển đổi số trong giáo dục nghề nghiệp.

Chuyển đổi số đang trở thành xu hướng tất yếu trong giáo dục và đào tạo, đặc biệt đối với giáo dục nghề nghiệp trong bối cảnh phát triển kinh tế số và xã hội số. Do đó, việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong giảng dạy và quản lý đội ngũ giáo viên là giải pháp quan trọng nhằm nâng cao chất lượng đào tạo. Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp cần tăng cường đầu tư hạ tầng công nghệ, xây dựng hệ thống học liệu số, phòng học thông minh, phòng mô phỏng kỹ thuật và nền tảng quản lý đào tạo trực tuyến. Đồng thời, cần xây dựng cơ sở dữ liệu quản lý năng lực giáo viên nhằm theo dõi quá trình đào tạo, bồi dưỡng và phát triển nghề nghiệp của từng cá nhân.

Cần tổ chức các chương trình đào tạo kỹ năng số cho giáo viên, giúp giáo viên thành thạo trong thiết kế bài giảng điện tử, sử dụng phần mềm mô phỏng, tổ chức lớp học trực tuyến và khai thác dữ liệu phục vụ giảng dạy. Việc ứng dụng công nghệ số không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả đào tạo mà còn tạo điều kiện để giáo viên đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng hiện đại và linh hoạt hơn.

Thứ năm, tăng cường hợp tác quốc tế và tiếp cận chuẩn đào tạo tiên tiến.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư diễn ra mạnh mẽ, hợp tác quốc tế trong giáo dục nghề nghiệp không chỉ là xu hướng tất yếu mà còn là giải pháp quan trọng nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo. Đối với TP. Hồ Chí Minh – trung tâm kinh tế, khoa học và công nghệ lớn của cả nước – việc tiếp cận các mô hình đào tạo tiên tiến và tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc tế có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Vì vậy, thành phố cần tiếp tục mở rộng hợp tác với các quốc gia có nền giáo dục nghề nghiệp phát triển như: Liên bang Đức, Nhật Bản, Hàn Quốc, Úc và Singapore nhằm học tập kinh nghiệm quản lý, đổi mới phương pháp đào tạo và tiếp cận công nghệ hiện đại.

Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp cần tạo điều kiện để giáo viên tham gia các chương trình đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, trao đổi học thuật, thực tập tại doanh nghiệp và hội thảo quốc tế ở nước ngoài. Thông qua quá trình tiếp cận môi trường đào tạo và sản xuất hiện đại, giáo viên không chỉ nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề và năng lực ngoại ngữ mà còn phát triển tư duy đổi mới, kỹ năng hội nhập và khả năng thích ứng với yêu cầu của thị trường lao động quốc tế. Đồng thời, việc từng bước áp dụng các tiêu chuẩn nghề quốc tế vào chương trình đào tạo, phương pháp giảng dạy và hệ thống đánh giá giáo viên sẽ góp phần chuẩn hóa đội ngũ nhà giáo theo hướng hiện đại, chuyên nghiệp.

4. Kết luận

Nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo là nhiệm vụ trọng tâm, có vai trò quyết định đối với sự phát triển giáo dục nghề nghiệp tại TP. Hồ Chí Minh trong bối cảnh chuyển đổi số, hội nhập quốc tế và yêu cầu ngày càng cao của thị trường lao động. Đội ngũ giáo viên không chỉ cần vững chuyên môn, kỹ năng nghề mà còn phải có năng lực sư phạm, khả năng ứng dụng công nghệ và tư duy đổi mới sáng tạo. Để thực hiện hiệu quả mục tiêu này, cần có sự phối hợp đồng bộ giữa cơ quan quản lý nhà nước, cơ sở giáo dục nghề nghiệp, doanh nghiệp và các tổ chức quốc tế trong xây dựng chính sách, đầu tư nguồn lực và phát triển đội ngũ giáo viên. Đồng thời, mỗi giáo viên cần chủ động học tập, bồi dưỡng chuyên môn và nâng cao năng lực nghề nghiệp. Khi được phát triển theo hướng hiện đại, chuyên nghiệp và hội nhập quốc tế, đội ngũ nhà giáo giáo dục nghề nghiệp sẽ góp phần quan trọng trong đào tạo nguồn nhân lực kỹ thuật chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của TP. Hồ Chí Minh trong giai đoạn mới.

Chú thích:
1. TP. Hồ Chí Minh mở rộng hệ thống giáo dục nghề nghiệp sau khi sáp nhập. https://thuonghieucongluan.com.vn/tp-hcm-mo-rong-he-thong-giao-duc-nghe-nghiep-sau-sap-nhap-a302001.html, ngày 25/01/2026.
Tài liệu tham khảo:
1. Thành ủy TP. Hồ Chí Minh (2023). Kế hoạch số 267-KH/TU ngày 21/9/2023 về việc tăng cường một số biện pháp thực hiện Chỉ thị số 21-CT/TW của Ban Bí thư về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh.
2. Ủy ban nhân dân TP. Hồ Chí Minh (2023). Kế hoạch số 1910/KH-UBND ngày 10/5/2023 về triển khai thực hiện Chiến lược phát triển giáo dục nghề nghiệp giai đoạn 2023 – 2030, tầm nhìn đến năm 2045 trên địa bàn Thành phố.
3. Ủy ban nhân dân TP. Hồ Chí Minh (2023). Quyết định số 2250/QĐ-UBND ngày 22/6/2023 về việc ban hành Kế hoạch triển khai Chương trình chuyển đổi số trong giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
4. Ủy ban nhân dân TP. Hồ Chí Minh (2023). Quyết định số 2673/QĐ-UBND ngày 29/6/2023 về việc ban hành Kế hoạch đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, bảo đảm cung ứng và đáp ứng nhu cầu tái cơ cấu các ngành, lĩnh vực kinh tế trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
5. Ủy ban nhân dân TP. Hồ Chí Minh (2024). Quyết định số 82/QĐ-UBND ngày 08/01/2024 về ban hành Chương trình hành động của Ủy ban nhân dân TP. Hồ Chí Minh về thực hiện Kế hoạch số 267-KH/TU ngày 21/9/2023 của Thành ủy TP. Hồ Chí Minh về tăng cường một số biện pháp thực hiện Chỉ thị số 21-CT/TW của Ban Bí thư về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.