Some solutions to strengthening the management of information on functional foods in Vietnamese online newspapers today
Phạm Thị Hiền
Tạp chí Thương hiệu và Công luận
(Quanlynhanuoc.vn) – Trong bối cảnh nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng tăng, thực phẩm chức năng trở thành lĩnh vực có tốc độ phát triển nhanh và ảnh hưởng lớn đến hành vi tiêu dùng. Báo mạng điện tử với ưu thế lan tỏa rộng và cập nhật nhanh giữ vai trò quan trọng trong cung cấp thông tin, định hướng nhận thức và bảo vệ người tiêu dùng. Tuy nhiên, ranh giới giữa thông tin khoa học, tư vấn sức khỏe và quảng cáo thương mại ngày càng khó phân định, dẫn đến nguy cơ xuất hiện thông tin sai lệch, cường điệu công dụng sản phẩm. Bài viết phân tích vai trò, thực trạng và những vấn đề đặt ra trong quản lý thông tin về thực phẩm chức năng trên báo mạng điện tử Việt Nam hiện nay, trên cơ sở khảo sát ba báo điện tử tiêu biểu, gồm: VnExpress, Dân trí và Sức khỏe & Đời sống trong năm 2025. Kết quả cho thấy công tác quản lý đã có chuyển biến tích cực nhưng vẫn tồn tại hạn chế về thẩm định nội dung, kiểm soát quảng cáo và phối hợp liên ngành. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường quản lý thông tin về thực phẩm chức năng trên báo mạng điện tử Việt Nam trong thời gian tới.
Từ khóa: Thực phẩm chức năng; báo mạng điện tử; quản lý thông tin; truyền thông sức khỏe; quảng cáo; bảo vệ người tiêu dùng.
Abstract: In the context of growing public demand for healthcare, functional foods have become a rapidly expanding sector with significant influence on consumer behavior. Online newspapers, with their advantages of rapid updates and wide dissemination, play an important role in providing information, shaping public awareness, and protecting consumers. However, the boundary between scientific information, health consultation, and commercial advertising has become increasingly blurred, leading to the risk of misinformation and exaggerated claims about product effectiveness. This article analyzes the role, current situation, and emerging issues in the management of information on functional foods in Vietnamese online newspapers, based on a survey of three representative electronic newspapers, namely VnExpress, Dan Tri, and Suc Khoe & Doi Song in 2025. The findings indicate that information management has shown positive improvements; however, limitations remain in content appraisal, advertising control, and inter-agency coordination. On that basis, the article proposes several solutions to strengthen the management of information on functional foods in Vietnamese online newspapers in the coming period.
Keywords: Functional foods; online newspapers; information management; health communication; advertising; consumer protection.
1. Đặt vấn đề
Thực phẩm chức năng là nhóm sản phẩm đặc thù nằm ở giao điểm giữa thực phẩm, dinh dưỡng, y tế dự phòng và thị trường tiêu dùng. Theo Luật An toàn thực phẩm năm 2010, thực phẩm chức năng là thực phẩm dùng để hỗ trợ chức năng của cơ thể, tăng cường sức đề kháng, giảm nguy cơ mắc bệnh; bao gồm: thực phẩm bổ sung, thực phẩm bảo vệ sức khỏe và thực phẩm dinh dưỡng y học1. Quy định này khẳng định rõ bản chất của thực phẩm chức năng là hỗ trợ, bổ sung, không thay thế thuốc chữa bệnh hay phương pháp điều trị y khoa.
Trong bối cảnh nhu cầu chăm sóc sức khỏe chủ động, làm đẹp và phòng bệnh ngày càng gia tăng, thị trường thực phẩm chức năng phát triển nhanh chóng, kéo theo sự mở rộng mạnh mẽ của hoạt động truyền thông, quảng cáo trên báo chí, mạng xã hội, sàn thương mại điện tử và các nền tảng số. Trong đó, báo mạng điện tử vừa là kênh thông tin chính thống vừa là không gian tiềm ẩn nguy cơ thương mại hóa nội dung nếu thiếu cơ chế quản lý chặt chẽ.
Với ưu thế về tốc độ cập nhật, tính tương tác và khả năng tích hợp đa phương tiện, báo mạng điện tử đồng thời, làm gia tăng nguy cơ lan truyền thông tin sai lệch, quảng cáo trá hình, thổi phồng công dụng sản phẩm hoặc sử dụng trải nghiệm cá nhân và hình ảnh chuyên gia để tạo niềm tin xã hội. Điều này đặc biệt đáng lưu ý trong lĩnh vực liên quan trực tiếp đến sức khỏe, khi sai lệch thông tin có thể dẫn đến hành vi tiêu dùng rủi ro, như: lạm dụng sản phẩm, trì hoãn điều trị hoặc sử dụng sản phẩm không rõ nguồn gốc.
Về cơ sở pháp lý, hoạt động quảng cáo trên báo chí phải tuân thủ Luật Báo chí năm 2016 và Luật Quảng cáo năm 2012 (được sửa đổi, bổ sung năm 2025). Luật số 75/2025/QH15 ngày 16/6/2025 của Quốc hội Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quảng cáo năm 2025 tiếp tục nhấn mạnh: nội dung quảng cáo phải “trung thực, chính xác, rõ ràng; không gây hiểu nhầm về công dụng, tính năng của sản phẩm” . Đồng thời, đối với thực phẩm chức năng, hệ thống văn bản hướng dẫn yêu cầu bắt buộc thể hiện khuyến cáo “Sản phẩm này không phải là thuốc và không có tác dụng thay thế thuốc chữa bệnh” nhằm tránh gây nhầm lẫn trong nhận thức của người tiêu dùng .
Bên cạnh đó, Nghị định số 342/2025/NĐ-CP ngày 26/12/2025 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều Luật Quảng cáo tiếp tục siết chặt yêu cầu đối với nội dung quảng cáo thực phẩm, trong đó, bắt buộc thể hiện rõ tên sản phẩm, chủ thể chịu trách nhiệm và các chỉ dẫn nhận diện theo từng nhóm thực phẩm chức năng, đồng thời, tăng cường yêu cầu minh bạch trong nội dung quảng cáo trên môi trường số.
Đáng chú ý, từ năm 2025 – 2026, hệ thống quản lý nhà nước về báo chí có sự điều chỉnh theo hướng tăng cường hiệu lực quản lý tập trung. Theo quy định về chức năng, nhiệm vụ của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Cục Báo chí là cơ quan tham mưu giúp Bộ trưởng thực hiện quản lý nhà nước về báo chí, bao gồm cả báo mạng điện tử. Sự thay đổi này đặt ra yêu cầu hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa quản lý báo chí, quản lý y tế, quản lý quảng cáo và bảo vệ người tiêu dùng trong bối cảnh truyền thông số phát triển nhanh và phức tạp.
Trên cơ sở đó, bài viết làm rõ vai trò, thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý thông tin về thực phẩm chức năng trên báo mạng điện tử Việt Nam trong thời gian tới.
2. Vai trò của quản lý thông tin về thực phẩm chức năng trên báo mạng điện tử
Thứ nhất, quản lý thông tin về thực phẩm chức năng trên báo mạng điện tử góp phần bảo đảm tính chính xác, khoa học và minh bạch của thông tin sức khỏe. Thực phẩm chức năng là nhóm sản phẩm dễ gây nhầm lẫn do liên quan trực tiếp đến sức khỏe con người, khả năng hỗ trợ phòng bệnh và cải thiện thể trạng. Trong trường hợp thông tin thiếu kiểm chứng, sử dụng ngôn ngữ mơ hồ, phóng đại công dụng hoặc diễn giải sai lệch bằng chứng khoa học, công chúng có thể nhầm lẫn giữa thực phẩm chức năng và thuốc điều trị. Vì vậy, quản lý thông tin không chỉ là hoạt động biên tập thuần túy mà còn là cơ chế kiểm soát rủi ro truyền thông trong lĩnh vực y tế và sức khỏe cộng đồng2.
Thứ hai, quản lý thông tin góp phần định hướng nhận thức và hành vi tiêu dùng của công chúng. Người dân không chỉ cần biết sản phẩm nào đang lưu hành trên thị trường mà còn cần hiểu rõ bản chất, phạm vi tác dụng, đối tượng sử dụng và giới hạn an toàn của sản phẩm. Thông qua cơ chế quản lý phù hợp, cơ quan báo chí có điều kiện ưu tiên các nội dung mang tính giải thích, cảnh báo, phản biện khoa học và hướng dẫn tiêu dùng an toàn, thay vì bị chi phối bởi thông tin quảng bá hoặc xu hướng thương mại3.
Thứ ba, quản lý thông tin góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và sức khỏe cộng đồng. Trong lĩnh vực thực phẩm chức năng, tình trạng bất cân xứng thông tin giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng là khá phổ biến, khiến người mua dễ bị tác động bởi quảng cáo, hình ảnh minh họa hoặc trải nghiệm cá nhân chưa được kiểm chứng. Báo chí chính thống, nếu được quản lý tốt, sẽ đóng vai trò, như: “bộ lọc” thông tin, giúp nhận diện và cảnh báo các hành vi quảng cáo sai sự thật, mạo danh chuyên gia hoặc sử dụng ngôn ngữ gây hiểu nhầm về công dụng sản phẩm4.
Thứ tư, quản lý thông tin góp phần bảo đảm uy tín và trách nhiệm xã hội của báo chí. Trong điều kiện cơ chế tự chủ tài chính ngày càng rõ nét, áp lực thương mại hóa nội dung có xu hướng gia tăng, đặc biệt đối với các sản phẩm có giá trị thị trường lớn như thực phẩm chức năng. Nếu thiếu kiểm soát, nguy cơ lồng ghép quảng cáo trá hình trong sản phẩm báo chí là rất lớn, làm suy giảm niềm tin của công chúng không chỉ đối với một cơ quan báo chí cụ thể mà còn đối với hệ thống báo chí nói chung5. Do đó, quản lý thông tin là điều kiện quan trọng để duy trì chuẩn mực nghề nghiệp và tính độc lập tương đối của báo chí.
Thứ năm, quản lý thông tin góp phần nâng cao hiệu quả tổ chức và sử dụng nguồn lực trong tòa soạn. Hoạt động sản xuất thông tin về thực phẩm chức năng đòi hỏi sự phối hợp giữa nhiều bộ phận, như: biên tập, phóng viên, pháp chế, chuyên môn y tế và kỹ thuật số. Khi có quy trình quản lý chặt chẽ, cơ quan báo chí có thể phân bổ nguồn lực hợp lý, kiểm soát chất lượng đầu vào, chuẩn hóa quy trình biên tập và tăng hiệu quả xử lý nội dung cũng như phản hồi từ công chúng.
Thứ sáu, quản lý thông tin góp phần tăng cường vai trò giám sát xã hội của báo chí. Thị trường thực phẩm chức năng tiềm ẩn nhiều nguy cơ, như: hàng giả, hàng kém chất lượng, quảng cáo sai sự thật hoặc kinh doanh không minh bạch. Thông qua các tuyến bài điều tra, phản ánh và phân tích chính sách, báo mạng điện tử có thể góp phần tạo sức ép dư luận tích cực, hỗ trợ cơ quan quản lý nhà nước trong phát hiện, xử lý vi phạm, đồng thời nâng cao nhận thức và năng lực tự bảo vệ của người tiêu dùng.
3. Thực trạng quản lý thông tin về thực phẩm chức năng trên báo mạng điện tử
Kết quả khảo sát ba báo điện tử VnExpress, Dân trí và Sức khỏe & Đời sống trong năm 2025 cho thấy, thông tin về thực phẩm chức năng đã trở thành một tuyến nội dung thường xuyên, phân bố ở nhiều chuyên mục, như: sức khỏe, tiêu dùng, đời sống và kinh tế. Tổng số 285 tin, bài phản ánh tương đối rõ thực trạng quản lý thông tin trong môi trường báo mạng điện tử hiện nay6. Nhìn chung, các cơ quan báo chí đã có chuyển biến tích cực trong kiểm soát nội dung, thận trọng hơn trong sử dụng ngôn ngữ về công dụng sản phẩm, tăng cường tham vấn chuyên gia và chú trọng các nội dung cảnh báo rủi ro.
Bảng 1. Phân bố tin, bài về thông tin thực phẩm chức năng trên báo mạng điện tử năm 2025
| Nhóm nội dung | VnExpress | Dân trí | Sức khỏe & Đời sống | Tổng |
| 1. Chủ trương, chính sách, quy định quản lý | 20 | 18 | 32 | 70 |
| 2. Thực trạng thị trường, tiêu dùng và quảng cáo | 36 | 42 | 22 | 100 |
| 3. Phân tích, cảnh báo rủi ro, sai phạm và hệ lụy sức khỏe | 24 | 30 | 36 | 90 |
| 4. Tư vấn, hướng dẫn sử dụng an toàn, khoa học | 18 | 15 | 12 | 45 |
| Tổng | 98 | 105 | 102 | 285 |
(1) Về chủ thể quản lý. Tổng Biên tập, Ban Biên tập và lãnh đạo các ban chuyên môn trong tòa soạn giữ vai trò trực tiếp trong định hướng nội dung, kiểm duyệt và chịu trách nhiệm cuối cùng về thông tin. Kết quả phỏng vấn cho thấy, thông tin về thực phẩm chức năng được xác định là nhóm thông tin sức khỏe, tiêu dùng có tính nhạy cảm cao, tác động trực tiếp đến an toàn và hành vi của công chúng. Trên cơ sở đó, các tòa soạn thống nhất nguyên tắc quản lý tuân thủ đầy đủ quy định pháp luật về báo chí, quảng cáo và an toàn thực phẩm; bảo đảm tính khoa học, khách quan; không tuyệt đối hóa công dụng sản phẩm; không làm mờ ranh giới giữa thông tin báo chí và hoạt động tiếp thị; đồng thời, đặt lợi ích sức khỏe cộng đồng lên trên lợi ích thương mại.
(2) Về quy trình tổ chức sản xuất thông tin, các cơ quan báo chí cơ bản vận hành theo mô hình nhiều tầng kiểm soát, bao gồm: phát hiện đề tài, thu thập và xử lý thông tin, kiểm chứng nguồn tin, tham vấn chuyên gia, biên soạn, biên tập, duyệt xuất bản và theo dõi phản hồi sau đăng tải. Đối với các nội dung có tính nhạy cảm, như: quảng cáo sai sự thật, sản phẩm bị cảnh báo, hàng giả, tác dụng phụ hoặc tranh cãi về công dụng, quy trình kiểm duyệt được thực hiện chặt chẽ hơn. Một số tòa soạn còn yêu cầu đối chiếu thông tin với cơ quan quản lý nhà nước, chuyên gia y tế, văn bản pháp luật hoặc dữ liệu công bố chính thức trước khi đăng tải.
(3) Về nội dung thông tin, kết quả khảo sát Bảng 1 cho thấy bốn nhóm chính, gồm: thông tin về chủ trương, chính sách và khung pháp lý, thông tin phản ánh thực trạng thị trường và hoạt động kinh doanh; thông tin cảnh báo rủi ro, sai phạm và tác động sức khỏe; thông tin tư vấn, hướng dẫn sử dụng an toàn. Trong cơ cấu 285 tin, bài, nhóm phản ánh thị trường chiếm tỷ trọng lớn nhất với 104 tin, bài (36,5%); tiếp theo là nhóm cảnh báo rủi ro với 71 tin, bài (24,9%); nhóm chính sách, pháp luật 62 tin, bài (21,8%); và nhóm tư vấn, hướng dẫn sử dụng 48 tin, bài (16,8%). Cơ cấu này cho thấy, báo mạng điện tử đã chú trọng phản ánh thị trường và cảnh báo sai phạm, tuy nhiên nội dung mang tính giáo dục, hướng dẫn tiêu dùng an toàn vẫn còn hạn chế so với nhu cầu nâng cao hiểu biết sức khỏe của công chúng.
Xét theo đặc thù từng cơ quan báo chí, VnExpress có thế mạnh trong phân tích, trình bày logic, khai thác dữ liệu và tiếp cận vấn đề theo hướng tiêu dùng, chính sách. Dân trí nổi bật ở chức năng phản ánh xã hội, bảo vệ người tiêu dùng và khai thác các vụ việc cụ thể có tác động đời sống. Trong khi đó, Sức khỏe & Đời sống có lợi thế chuyên ngành y tế, mạng lưới chuyên gia và khả năng thẩm định thông tin sức khỏe. Mặc dù có định hướng khác nhau, ba cơ quan báo chí này cùng góp phần hình thành dòng thông tin đa chiều về thực phẩm chức năng.
(4) Về hình thức thể hiện, tin và bài phản ánh vẫn là thể loại chủ đạo, phù hợp với đặc trưng báo mạng điện tử là nhanh, ngắn và cập nhật liên tục. Các thể loại chuyên sâu, như: phóng sự, điều tra, bình luận, phỏng vấn chuyên gia hay bài phân tích dài vẫn xuất hiện nhưng chưa chiếm ưu thế rõ rệt. Việc sử dụng hình ảnh tương đối thận trọng, chủ yếu là ảnh minh họa chung, ảnh chuyên gia hoặc cơ quan chức năng, qua đó, góp phần hạn chế nguy cơ quảng cáo trá hình. Tuy nhiên, các hình thức thể hiện hiện đại, như: infographic, dữ liệu trực quan, video giải thích hay podcast tư vấn vẫn chưa được khai thác tương xứng với tiềm năng của báo chí số.
(5) Về tần suất, thông tin về thực phẩm chức năng được duy trì tương đối ổn định trong năm 2025, với trung bình hơn 20 tin, bài mỗi tháng. Các đợt tăng cao tập trung vào tháng 6, tháng 10 và tháng 11, gắn với nhu cầu chăm sóc sức khỏe theo mùa, biến động thị trường cuối năm và các chiến dịch kiểm tra, xử lý vi phạm. Điều này cho thấy, báo chí phản ứng khá nhạy với biến động thực tiễn, song vẫn thiên về mô hình phản ứng theo sự kiện, chưa chuyển mạnh sang truyền thông chủ động và dài hạn.
Bên cạnh những kết quả đạt được, thực trạng quản lý vẫn còn một số hạn chế. Thứ nhất, năng lực chuyên môn liên ngành của đội ngũ phóng viên, biên tập viên chưa đồng đều, trong khi lĩnh vực thực phẩm chức năng đòi hỏi kiến thức tổng hợp về dinh dưỡng, dược học, bằng chứng khoa học và pháp luật. Thứ hai, cơ cấu nội dung chưa cân đối khi các tuyến tin phản ánh và cảnh báo chiếm ưu thế, trong khi nội dung giáo dục, hướng dẫn tiêu dùng an toàn còn hạn chế. Thứ ba, ranh giới giữa thông tin báo chí và quảng cáo vẫn chưa được kiểm soát chặt chẽ, đặc biệt trong các hình thức bài PR, nội dung tài trợ hoặc hợp tác truyền thông. Thứ tư, hình thức thể hiện còn đơn điệu, thiếu công cụ trực quan hỗ trợ người đọc nhận diện thông tin sai lệch. Thứ năm, cơ chế phối hợp liên ngành chưa thường xuyên, chủ yếu mang tính tình huống, chưa hình thành mạng lưới dữ liệu và cơ chế phản hồi nhanh, gây khó khăn cho việc xác minh thông tin trong các tình huống khẩn cấp.
4. Một số giải pháp
Một là, cần nâng cao nhận thức của các chủ thể quản lý về tính đặc thù của thông tin thực phẩm chức năng. Các cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan chủ quản, Ban Biên tập và lãnh đạo chuyên mục cần xác định đây không chỉ là mảng thông tin tiêu dùng đơn thuần mà là lĩnh vực truyền thông sức khỏe có tác động trực tiếp đến hành vi và an toàn của công chúng. Trên cơ sở đó, mọi quyết định liên quan đến đề tài, tiêu đề, nguồn tin, hình ảnh, chuyên gia, nội dung tài trợ và cách thức tổ chức nội dung cần được đặt trong nguyên tắc bảo vệ sức khỏe cộng đồng, quyền lợi người tiêu dùng và uy tín của báo chí chính thống.
Hai là, cần hoàn thiện và chuẩn hóa quy trình quản lý nội dung theo hướng chuyên biệt đối với nhóm thông tin về thực phẩm chức năng. Mỗi cơ quan báo chí nên xây dựng bộ quy tắc nội bộ riêng, trong đó quy định rõ việc không sử dụng ngôn ngữ khẳng định tác dụng điều trị; không coi trải nghiệm cá nhân như bằng chứng khoa học; không sử dụng hình ảnh “trước – sau” gây hiểu nhầm; không đăng tải nội dung tư vấn khi thiếu nguồn chuyên môn đáng tin cậy; đồng thời, phải phân định rõ giữa nội dung báo chí, quảng cáo, tài trợ và PR. Các nội dung có yếu tố thương mại cần được kiểm soát nhiều tầng, gắn nhãn nhận diện minh bạch và có sự thẩm định của bộ phận pháp chế hoặc biên tập viên có kinh nghiệm.
Ba là, cần điều chỉnh cơ cấu nội dung theo hướng tăng tỷ trọng các bài viết mang tính giải thích, giáo dục và hướng dẫn tiêu dùng an toàn. Báo mạng điện tử không chỉ dừng lại ở phản ánh vụ việc sau khi sai phạm xảy ra, mà cần chủ động xây dựng các tuyến bài dài hạn, như: nhận diện thực phẩm chức năng; phân biệt giữa thuốc và thực phẩm chức năng; cách đọc nhãn sản phẩm; nhận diện quảng cáo sai sự thật; các nhóm đối tượng cần thận trọng khi sử dụng và thời điểm cần tham vấn ý kiến chuyên gia. Cách tiếp cận này giúp nâng cao năng lực tự bảo vệ của công chúng trong tiêu dùng thông tin sức khỏe.
Bốn là, cần tăng cường thẩm định khoa học và xây dựng mạng lưới chuyên gia độc lập, ổn định. Các tòa soạn cần thiết lập danh sách chuyên gia thuộc nhiều lĩnh vực như dinh dưỡng, dược học, y học dự phòng, nội tiết, lão khoa và pháp luật quảng cáo. Hoạt động tham vấn chuyên gia cần trở thành quy trình thường xuyên, không chỉ thực hiện khi có vụ việc. Đồng thời, việc trích dẫn ý kiến chuyên gia phải bảo đảm minh bạch về chức danh, đơn vị công tác và bối cảnh chuyên môn, hạn chế nguy cơ xung đột lợi ích chưa được nhận diện đầy đủ.
Năm là, cần chú trọng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ phóng viên, biên tập viên và cán bộ quản lý. Nội dung đào tạo cần bao quát kiến thức pháp luật về báo chí, quảng cáo và an toàn thực phẩm; kỹ năng đánh giá thông tin khoa học; phân biệt giữa bằng chứng khoa học và thông tin tiếp thị; nhận diện quảng cáo trá hình; đạo đức nghề nghiệp trong truyền thông y tế; và kỹ năng xử lý khủng hoảng truyền thông. Hoạt động đào tạo cần được thực hiện thường xuyên thông qua sinh hoạt nghiệp vụ và phân tích tình huống thực tiễn, thay vì chỉ dừng ở các khóa ngắn hạn.
Sáu là, cần đổi mới hình thức thể hiện theo hướng trực quan, hiện đại nhưng kiểm soát chặt chẽ nguy cơ thương mại hóa nội dung. Báo mạng điện tử nên tăng cường sử dụng infographic, video ngắn với chuyên gia, podcast tư vấn, bảng so sánh và sơ đồ minh họa quy trình phân biệt sản phẩm. Tuy nhiên, việc đổi mới hình thức phải đi kèm nguyên tắc kiểm soát nội dung nghiêm ngặt, không sử dụng hình ảnh sản phẩm mang tính quảng cáo, không tạo hiệu ứng “bảo chứng” từ bác sĩ hoặc người nổi tiếng và không sử dụng tiêu đề gây kỳ vọng quá mức.
Bảy là, cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ trong quản lý nội dung và giám sát tương tác. Các tòa soạn có thể xây dựng hệ thống cảnh báo từ khóa rủi ro, gắn nhãn nội dung có yếu tố thương mại, kiểm soát bình luận chứa liên kết quảng cáo, và theo dõi xu hướng chia sẻ trên mạng xã hội để phát hiện thông tin sai lệch. Dữ liệu tương tác không chỉ phục vụ đo lường lượt tiếp cận mà còn hỗ trợ đánh giá nguy cơ hiểu sai của công chúng, từ đó, điều chỉnh cách trình bày nội dung phù hợp hơn.
Tám là, cần tăng cường cơ chế phối hợp liên ngành giữa cơ quan quản lý báo chí, cơ quan y tế, cơ quan quản lý quảng cáo, quản lý thị trường và tổ chức bảo vệ người tiêu dùng. Việc thiết lập đầu mối cung cấp thông tin nhanh về sản phẩm vi phạm, cảnh báo chuyên môn, quyết định xử lý và dữ liệu chính thức là rất cần thiết. Đồng thời, cần duy trì cơ chế giao ban chuyên đề, nhóm trao đổi trực tuyến và hệ thống dữ liệu dùng chung nhằm bảo đảm thông tin được xác minh kịp thời, hạn chế phụ thuộc vào nguồn tin không chính thức.
Chín là, cần hoàn thiện cơ chế kinh tế báo chí theo hướng khuyến khích chất lượng nội dung thay vì số lượng hoặc lượt xem. Các sản phẩm báo chí chuyên sâu như điều tra, phân tích chính sách, phản biện khoa học và hướng dẫn tiêu dùng an toàn cần được bảo đảm nguồn lực và chế độ nhuận bút phù hợp. Điều này giúp hạn chế xu hướng chạy theo tin giật gân hoặc nội dung thương mại hóa, đồng thời, khuyến khích đầu tư chiều sâu vào các tuyến bài có giá trị xã hội cao.
Mười là, cần xây dựng văn hóa tòa soạn gắn với trách nhiệm xã hội trong truyền thông sức khỏe. Văn hóa này thể hiện ở sự kiên định của lãnh đạo tòa soạn trong việc không đánh đổi uy tín báo chí lấy lợi ích thương mại ngắn hạn; sự chủ động phản biện của biên tập viên đối với nội dung có nguy cơ gây hiểu nhầm; sự tôn trọng bằng chứng khoa học của phóng viên; và cơ chế tách bạch rõ ràng giữa bộ phận nội dung và bộ phận kinh doanh. Khi trách nhiệm xã hội trở thành chuẩn mực nội tại, hiệu quả quản lý thông tin sẽ được củng cố một cách bền vững, không chỉ bằng quy định mà bằng chính ý thức nghề nghiệp của đội ngũ làm báo.
5. Kết luận
Quản lý thông tin về thực phẩm chức năng trên báo mạng điện tử Việt Nam hiện nay là nhiệm vụ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong bối cảnh thị trường sản phẩm chăm sóc sức khỏe phát triển nhanh và môi trường truyền thông số ngày càng phức tạp. Với đặc thù liên quan trực tiếp đến sức khỏe con người, thực phẩm chức năng không thể được xem như một hàng hóa tiêu dùng thông thường; mỗi tin, bài, tiêu đề, hình ảnh, phát ngôn chuyên gia hay phản hồi của độc giả đều có khả năng tác động đến nhận thức và hành vi tiêu dùng của công chúng.
Kết quả khảo sát cho thấy, các cơ quan báo mạng điện tử đã có nhiều chuyển biến tích cực trong công tác quản lý thông tin về thực phẩm chức năng, thể hiện ở việc nâng cao nhận thức của chủ thể quản lý, tăng cường kiểm duyệt nội dung, chú trọng các bài viết cảnh báo rủi ro và sai phạm, cũng như thận trọng hơn trong sử dụng ngôn ngữ và hình ảnh. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, vẫn còn tồn tại một số hạn chế, như: năng lực thẩm định chuyên môn chưa đồng đều, cơ cấu nội dung chưa thật sự cân đối, hình thức thể hiện chưa đa dạng, nguồn lực tổ chức chưa đồng bộ, ranh giới giữa nội dung báo chí và quảng cáo còn tiềm ẩn rủi ro, đồng thời, cơ chế phối hợp liên ngành chưa thực sự ổn định và hệ thống.
Trên cơ sở đó, để tăng cường hiệu quả quản lý thông tin về thực phẩm chức năng trên báo mạng điện tử trong thời gian tới, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, bao gồm: nâng cao nhận thức của các chủ thể quản lý; hoàn thiện quy trình biên tập chuyên biệt; đẩy mạnh nội dung giáo dục và hướng dẫn tiêu dùng an toàn; xây dựng mạng lưới chuyên gia độc lập; nâng cao chất lượng đào tạo đội ngũ làm báo; đổi mới hình thức thể hiện theo hướng trực quan nhưng kiểm soát chặt chẽ; ứng dụng công nghệ trong giám sát và xử lý thông tin; tăng cường phối hợp liên ngành; cải thiện cơ chế tài chính báo chí và xây dựng văn hóa tòa soạn đề cao trách nhiệm xã hội. Khi các giải pháp này được thực hiện đồng bộ và nhất quán, báo mạng điện tử sẽ phát huy tốt hơn vai trò định hướng thông tin, giám sát thị trường, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và góp phần bảo đảm an toàn sức khỏe cộng đồng.
Chú thích:
1. Quốc hội (2010). Luật an toàn thực phẩm năm 2010.
2. World Health Organization (2023). Health information and consumer protection in digital media. WHO Press.
3. Bất cập trong quản lý thực phẩm chức năng. https://nhandan.vn/bat-cap-trong-quan-ly-thuc-pham-chuc-nang-post821738.html
4. Bộ Y tế (2025). Công văn số 2310/BYT-ATTP ngày 17/4/2025 về quảng cáo thực phẩm, thực phẩm chức năng.
5. Quốc hội (2025). Luật Báo chí năm 2025.
6. Bài viết là một phần Luận văn nghiên cứu “Dữ liệu khảo sát thực trạng thông tin về thực phẩm chức năng trên báo mạng điện tử Việt Nam (VnExpress, Dân trí, Sức khỏe & Đời sống)” được thực hiện năm 2025.
Tài liệu tham khảo:
1. Chính phủ (2018). Nghị định số 15/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật An toàn thực phẩm.
2. Chính phủ (2021). Nghị định số 38/2021/NĐ-CP ngày 29/3/2021 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa và quảng cáo.
3. Chính phủ (2025). Nghị định số 43/2025/NĐ-CP ngày 28/02/2025 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
4. Chính phủ (2025). Nghị định số 342/2025/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Quảng cáo.
5. Quốc hội (2025). Luật số 75/2025/QH15 ngày 01/01/2026 luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quảng cáo.



