ThS. Hát Sạ Đy Si La Vông
NCS tại Học viện An ninh nhân dân
(Quanlynhanuoc.vn) – Người nước ngoài đến các tỉnh miền Trung nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân (CHDCND) Lào ngày càng tăng về số lượng, đã mang lại những giá trị tích cực về du lịch, kinh tế và giao lưu văn hóa, qua đó thúc đẩy hội nhập quốc tế của các tỉnh miền Trung nói riêng và nước CHDCND Lào nói chung. Thời gian qua, công tác quản lý cư trú của người nước ngoài đã đạt được những kết quả tích cực, góp phần hiệu quả vào phát triển kinh tế – xã hội. Bài viết bàn về một số thực trạng công tác quản lý người nước ngoài tại các tỉnh miền Trung nước CHDCND Lào; từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện công tác quản lý người nước ngoài tại các tỉnh miền Trung nước CHDCND Lào trong thời gian tới.
Từ khóa: Quản lý người nước ngoài; các tỉnh miền Trung; nước CHDCND Lào.
Abstract: The number of foreign visitors to the central provinces of the Lao People’s Democratic Republic (LPDR) has been steadily increasing, bringing positive benefits in terms of tourism, the economy, and cultural exchange, thereby promoting the international integration of the central provinces in particular and the LPDR as a whole. In recent years, managing the residence of foreign nationals has yielded positive results and contributed to socioeconomic development. This article discusses current issues in managing foreign nationals in the central provinces of the Lao PDR and proposes several solutions to improve their management in the coming period.
Keywords: Foreign resident management; central provinces; Lao People’s Democratic Republic.
1. Khái quát về khu vực miền Trung nước CHDCND Lào
Các tỉnh miền Trung nằm ở đồng bằng sông Mê Kông, có địa bàn tương đối bằng phẳng và nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế – xã hội. Phía Bắc giáp tỉnh Luông Pha Bang, Xiêng Khoảng, phía Tây giáp Xay Nha Bu Ly và 7 tỉnh của Thái Lan là: Lơi, Nong Khai, Bưng Kan, Nạ Khon Phạ Nôm, Múc Đa Hản, Um Nạt Chạ Lơn và Ou Bôn Lạt Sạ Tha Ny, phía Nam giáp tỉnh Sa Lạ Văn và phía Đông giáp 3 tỉnh của Việt Nam là Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị (trước ngày 01/7/2025 là hai tỉnh Quảng Bình và Quảng Trị).
Các tỉnh miền Trung có diện tích lớn, chiếm 1/3 diện tích của Lào, gồm: Thủ đô Viêng Chăn (3.920 km²), tỉnh Viêng Chăn (15.927 km²), tỉnh Xay Sổm Bun (8.551 km²), tỉnh Bo Lị Khăm Xay (14.863 km²), tỉnh Khăm Muộn (16.315 km²) và tỉnh Sạ Văn Nạ Khệt (21.774 km²). Tổng diện tích các tỉnh miền Trung là 81.033 km². Trong đó, thủ đô Viêng Chăn là trung tâm chính trị, kinh tế và văn hóa của Nước CHDCND Lào. Đây cũng là địa bàn trung chuyển, đầu mối giao thông quan trọng khi có đường Quốc lộ 13 nối từ miền Bắc đến miền Nam Lào, có 3 đường quốc lộ lớn, trọng điểm là quốc lộ số 9, số 12 và quốc lộ số 8 nối Việt Nam với Thái Lan, đường cao tốc nối Thủ đô Viêng Chăn – tỉnh Viêng Chăn – tỉnh Luông Pha Bang, đường sắt tốc độ cao thủ đô Viêng Chăn – Trung Quốc, có cảng hàng không quốc tế Wattay là càng hàng không lớn nhất của Lào. Ngoài ra, các tỉnh miền Trung còn có hệ thống đường thủy sông Cửu Long xuyên từ Bắc đến Nam.
Tính đến năm 2025, dân số các tỉnh miền Trung đạt hơn 3,2 triệu người. Mật độ dân số khoảng 39 người/km², trong đó dân số tỉnh Sạ Văn Nạ Khệt đông nhất với trên 1,1 triệu người. Thủ đô Viêng Chăn có khoảng 906.000 người, mật độ dân số đạt 231 người/km². Các tỉnh còn lại có mật độ dân số trung bình chỉ từ 20 đến 45 người/km². Các tỉnh miền Trung là địa bàn cư trú của nhiều dân tộc khác nhau, nhưng chủ yếu là 3 dân tộc chính, gồm: dân tộc Lào, dân tộc H’Mông và dân tộc Phu Thay. Người Lào thường sống tập trung ở thủ đô Viêng Chăn và các trung tâm tỉnh, chủ yếu làm nghề trồng trọt và chăn nuôi. Người H’Mông tập trung ở tỉnh Xay Sổm Bun, tỉnh Viêng Chăn…Người Phu Thay tập trung đông nhất ở tỉnh Khăm Muôn và Sạ Văn Nạ Khệt. Điều này tạo nên sự giao thoa văn hóa bản địa ở các tỉnh miền Trung, mang đậm nét đặc trưng của bản sắc dân tộc.
Các tỉnh miền Trung có 75% diện tích là đồng bằng, nên tập trung đông người sinh sống. Nghề nghiệp chủ yếu gắn với nông nghiệp. Địa bàn các tỉnh miền Trung cũng có nhiều tôn giáo. Đây là trung tâm Phật giáo lớn của Lào, với hơn 1.000 ngôi chùa, 302 di tích lịch sử và hơn 100 làng nghề truyền thống. Các tỉnh miền Trung của Lào cũng là những trung tâm kinh tế năng động nhất nước. Điều đó được thể hiện ở việc khu vực này có tới 23 khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế cửa khẩu (chiếm hơn 60% số khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế cửa khẩu của Lào).
Các tỉnh miền Trung cũng có giao thông xuyên quốc gia sang Việt Nam, tới tận cảng Vũng Áng thuộc tỉnh Hà Tĩnh. Các tỉnh miền Trung cũng là địa bàn có hoạt động du lịch và cơ sở hạ tầng du lịch phát triển nhất, với tới 503 khách sạn, nhà nghỉ dưỡng, resort, cùng 23 khu du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng tự nhiên và nhân tạo. Trong đó, có 13 khách sạn từ 4 sao trở lên. Các tỉnh miền Trung cũng có 4/11 trường thuộc hệ thống các trường đại học do Bộ Giáo dục và Đào tạo của Lào quản lý trực tiếp (lớn nhất là Đại học Quốc gia Lào), nơi thường xuyên có khoảng từ 2 – 3 nghìn sinh viên, giáo viên và chuyên gia nước ngoài đến học tập và cư trú. Những đặc điểm này là điều kiện thuận lợi để thu hút ngày càng nhiều người nước ngoài đến cư trú và hoạt động trên địa bàn các tỉnh miền Trung.
2. Công tác quản lý cư trú người nước ngoài tại các tỉnh miền trung nước CHDCND Lào
Trong những năm qua, với chủ trương đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại, Đảng và Nhà nước Lào đã ban hành nhiều chính sách như miễn thị thực, tăng thời hạn thị thực nhằm tăng cường hợp tác quốc tế, thu hút đầu tư và phát triển du lịch trong nhiều lĩnh vực. Lào đã thực hiện miễn thị thực cho thành viên tổ bay của trên 20 nước và vùng lãnh thổ, thực hiện đơn phương miễn thị thực cho công dân sử dụng hộ chiếu phổ thông của 16 quốc gia; miễn thị thực đối với người nước ngoài nhập cảnh, cư trú tại một số đặc khu kinh tế, khu kinh tế cửa khẩu và người nước ngoài là công dân các nước có hiệp định miễn thị thực song với Lào. Với chính sách trên, số lượng người nước ngoài nhập cảnh vào Lào nói chung, và các tỉnh miền Trung của Lào nói riêng, liên tục gia tăng, ngày càng đa dạng về thành phần quốc tịch và mục đích nhập cảnh.
Tính riêng từ sau đại dịch Covid-19, trong giai đoạn từ năm 2022 đến 2025, Lào đã đón hơn 68.000 lượt người nước ngoài nhập cảnh và cư trú với các mục đích khác nhau. Trung bình mỗi năm tăng khoảng 2.500 người nước ngoài (tương đương khoảng 21%). Số lượng người nước ngoài đến các tỉnh miền Trung ngày càng nhiều đã mang lại những giá trị tích cực về du lịch, kinh tế và giao lưu văn hóa, qua đó thúc đẩy hội nhập quốc tế của các tỉnh miền Trung Lào nói riêng và của nước Lào nói chung. Tuy nhiên, lực lượng chức năng đã phát hiện, xử lý hàng chục nghìn người nước ngoài vi phạm pháp luật về xuất nhập cảnh; vi phạm pháp luật về tôn giáo; sử dụng chứng nhận tạm trú quá thời hạn; hoạt động trái mục đích nhập cảnh…
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác quản lý cư trú của người nước ngoài tại các tỉnh miền Trung của Lào vẫn còn những hạn chế, bất cập, điển hình như: chính sách, pháp luật chưa theo kịp với sự thay đổi nhanh chóng của tình hình thực tiễn đặc biệt những quy định liên quan đến đầu tư, kinh doanh, làm việc, du lịch, thăm thân, học tập, kết hôn, quản lý các loại hình kinh doanh dịch vụ lưu trú vẫn còn thiếu, chưa bao quát, dẫn đến khó khăn trong triển khai. Cơ chế phối hợp trong một số lĩnh vực vẫn còn chồng chéo hoặc chưa rõ ràng về việc phân công trách nhiệm giữa Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, Bộ Ngoại giao, Bộ Công an… và chính quyền địa phương. Đặc biệt, trước nguy cơ an ninh phi truyền thống như hoạt động tội phạm xuyên quốc gia, tội phạm ma túy, tội phạm sử dụng công nghệ cao, tội buôn bán người, tội phạm lừa đảo, chiếm đoạt tài sản, lao động trái phép vẫn diễn biến phức tạp, tiềm ẩn nguy cơ đối với dịch bệnh và an sinh xã hội.
Những tồn tại, hạn chế xuất phát từ một số nguyên nhân cơ bản, như: (1) Hệ thống quy định của pháp luật liên quan đến quản lý người nước ngoài tại Lào còn có những bất cập. (2) Công tác phối hợp giữa các sở, ngành của chính quyền địa phương trong một số trường hợp chưa thường xuyên, chưa chặt chẽ. (3) Cơ sở hạ tầng và trang thiết bị phục vụ công tác quản lý cư trú của người nước ngoài vẫn còn nhiều hạn chế. Kinh phí cho công tác quản lý cư trú của người nước ngoài vẫn được sử dụng chung với kinh phí thường xuyên, chưa có nguồn riêng dành cho công tác này. (4) Nhận thức của một số cán bộ, công chức nhà nước các tỉnh miền Trung của Lào trong quá trình thực hiện nhiệm vụ còn chưa đầy đủ, chưa thống nhất trong hành động. Trình độ ngoại ngữ của cán bộ thực hiện quản lý cư trú đối với người nước ngoài tại các tỉnh miền Trung của Lào vẫn còn những hạn chế nhất định. (5) Công tác hợp tác quốc tế trong quản lý người nước ngoài tại các tỉnh miền Trung của nước CHDCND Lào vẫn còn thiếu chủ động.
Ngoài ra, số lượng người nước ngoài đến địa bàn các tỉnh miền Trung của Lào ngày càng tăng với thành phần quốc tịch và mục đích nhập cảnh đa dạng. Phạm vi địa bàn các tỉnh miền Trung rộng; dân cư phân bố không đồng đều, chủ yếu tập trung ở các thành phố lớn và các trung tâm kinh tế của địa phương. Công tác quản lý cư trú của người nước ngoài tại các tỉnh miền Trung của Lào có mối quan hệ chặt chẽ với chính sách đối ngoại của các nước. Trong khi đó, các chính sách này thường xuyên thay đổi, tác động chi phối lớn đến số lượng, thành phần và hoạt động của người nước ngoài tại Lào nói chung và tại các tỉnh miền Trung của Lào nói riêng…
3. Một số giải pháp
Một là, hoàn thiện thể chế, pháp luật phục vụ công tác quản lý cư trú của người nước ngoài, đáp ứng yêu cầu trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng của Lào. Trong đó, việcchủ động tham mưu xây dựng, hoàn thiện pháp luật liên quan đến quản lý cư trú của người nước ngoài tại Lào phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật của Lào, cũng như các điều ước quốc tế có liên quan mà CHDCND Lào là thành viên. Bên cạnh đó, việc xây dựng thể chế, chính sách phải hướng đến việc bảo đảm yêu cầu tạo điều kiện thuận lợi cho người nước ngoài nhập cảnh, cư trú hợp pháp; tạo môi trường thông thoáng, minh bạch cho các hoạt động cư trú hợp pháp của người nước ngoài, qua đó góp phần thúc đẩy kinh tế, văn hóa và du lịch.
Để thực hiện các nội dung trên, các cơ quan chức năng cần phải: (1) Tăng cường rà soát, phát hiện các bất cập, chồng chéo giữa các văn bản pháp luật liên quan đến việc quản lý người nước ngoài. Tổ chức đánh giá sự phù hợp của các quy định pháp luật với thực tiễn. (2) Thường xuyên sơ kết, tổng kết thực tiễn tổ chức thi hành pháp luật về quản lý nhà nước nói chung, quản lý cư trú của người nước ngoài nói riêng. Xác định những bất cập trong quy định pháp luật để điều chỉnh. (3) Nghiên cứu kinh nghiệm xây dựng pháp luật liên quan đến quản lý cư trú của người nước ngoài từ các nước láng giềng và các quốc gia có trình độ quản lý phát triển, như: Singapore, Việt Nam, Trung Quốc, Thái Lan…
Hai là, tăng cường quan hệ phối hợp giữa các lực lượng, đặc biệt là lực lượng Công an, với các cơ quan, ban, ngành và chính quyền địa phương trong việc quản lý cư trú của người nước ngoài tại các tỉnh miền Trung của Lào. Trong đó, tập trung củng cố, hoàn thiện các quy định liên quan đến chức năng, nhiệm vụ, quy chế phối hợp theo hướng rõ ràng, cụ thể, rõ việc, rõ trách nhiệm. Nâng cao trách nhiệm của các cơ quan, ban ngành trong việc phối hợp trao đổi thông tin cư trú của người nước ngoài khi làm việc với các tổ chức, đơn vị thuộc cơ quan mình. Tránh tình trạng buông lỏng hoặc đùn đẩy trách nhiệm cho lực lượng chuyên ngành trong việc thực hiện các quy định của pháp luật về quản lý cư trú của người nước ngoài tại Lào nói chung, tại các tỉnh miền Trung của Lào nói riêng.
Cần tiến hành các hoạt động cụ thể như: (1) Rà soát các quy định liên quan đến chức năng, nhiệm vụ của các bộ, ngành trong quản lý cư trú của người nước ngoài, hiện đang phân tán trong các văn bản quy phạm pháp luật khác nhau. (2) Xây dựng các đề án, kế hoạch cụ thể; đánh giá thực trạng tổ chức, triển khai mô hình tổ chức bộ máy liên quan đến hiệu năng, hiệu lực quản lý nhà nước nói chung, quản lý cư trú của người nước ngoài nói riêng, đặc biệt là thực trạng quản lý cư trú của người nước ngoài tại các tỉnh miền Trung của Lào. (3) Tổ chức các đoàn công tác chuyên ngành thuộc các đơn vị chuyên trách quản lý người nước ngoài đi học tập kinh nghiệm về tổ chức bộ máy và xây dựng quy định pháp luật liên quan đến quản lý cư trú của người nước ngoài.
Ba là, tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, cải cách hành chính trong công tác quản lý cư trú của người nước ngoài tại các tỉnh miền Trung của CHDCND Lào.Việc ứng dụng công nghệ trong quản lý cư trú của người nước ngoài sẽ giúp nâng cao tính khoa học và độ chính xác. Công nghệ giúp thu thập, lưu trữ, xử lý và phân tích dữ liệu một cách tự động, giảm thiểu sai sót do con người, đồng thời cung cấp thông tin chính xác, kịp thời, tiết kiệm thời gian, công sức và nhân lực. Việc ứng dụng hệ thống điện tử và cơ sở dữ liệu sẽ giúp đơn giản hóa các thủ tục hành chính, giảm thời gian chờ đợi và thời gian xử lý hồ sơ, từ đó tiết kiệm chi phí và nguồn lực. Đồng thời, giúp các cơ quan quản lý dễ dàng chia sẻ thông tin, kiểm soát và theo dõi hoạt động cư trú của người nước ngoài theo thời gian thực, từ đó tăng cường hiệu lực và hiệu quả quản lý.
Để tăng cường ứng dụng khoa học, công nghệ, thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong quản lý cư trú của người nước ngoài tại các tỉnh miền Trung của Lào thời gian tới, cần tập trung thực hiện các nội dung trọng tâm sau:
(1) Tập trung xây dựng và hoàn thiện cơ sở dữ liệu quốc gia về người nước ngoài. Bên cạnh việc xây dựng cơ sở dữ liệu, cần đầu tư vào các công nghệ tiên tiến để nâng cao hiệu quả quản lý. Trong đó, cần xây dựng hệ thống “một cửa” trực tuyến. Tích hợp các thủ tục hành chính liên quan đến cư trú của người nước ngoài vào một hệ thống trực tuyến.
(2) Đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu, nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý cư trú của người nước ngoài. Việc ứng dụng công nghệ đòi hỏi cán bộ phải có năng lực vận hành và sử dụng thành thạo các công cụ hiện đại. Do đó, cần có các chương trình đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu về công nghệ thông tin và phân tích dữ liệu.
(3) Đẩy mạnh đơn giản hóa và minh bạch hóa thủ tục hành chính thông qua việc rà soát, đơn giản hóa các thủ tục hành chính liên quan đến việc cấp thị thực, gia hạn tạm trú, cấp giấy phép lao động và các loại giấy tờ khác. Đồng thời, cần minh bạch hóa quy trình, công bố công khai các yêu cầu, hồ sơ, thời gian và chi phí xử lý trên các cổng thông tin điện tử. Việc này không chỉ tạo niềm tin mà còn giúp ngăn chặn những tiêu cực, tham nhũng có thể xảy ra.
(4) Tập trung xây dựng mô hình “một cửa” liên thông. Đây là mô hình hiệu quả, đã được nhiều nước áp dụng, trong đó có Việt Nam. Theo đó, cần tích hợp các thủ tục hành chính liên quan đến cư trú của người nước ngoài vào một đầu mối duy nhất, có thể là trung tâm dịch vụ công hoặc một hệ thống trực tuyến. Mô hình này cần được xây dựng trên nền tảng công nghệ thông tin, với cơ sở dữ liệu liên thông giữa các cơ quan quản lý như Công an, Ngoại giao, Lao động và Kế hoạch – Đầu tư.
Bốn là, tăng cường các hoạt động hợp tác quốc tế trong quản lý cư trú của người nước ngoài tại các tỉnh miền Trung của CHDCND Lào.Theo đó, cần tăng cường các cơ chế trao đổi thông tin liên quan đến công tác quản lý người nước ngoài với các quốc gia khác. Việc này không chỉ giới hạn ở việc trao đổi thông tin về các trường hợp vi phạm mà còn bao gồm thông tin về các xu hướng và phương thức hoạt động mới của tội phạm có yếu tố nước ngoài. Tăng cường ký kết các thỏa thuận, hiệp định hợp tác liên quan đến quản lý cư trú của người nước ngoài tại các tỉnh miền Trung của Lào.
Tăng cường hợp tác theo cơ chế đa phương giúp giải quyết các vấn đề chung, mang tính toàn cầu và tạo ra một diễn đàn để trao đổi kinh nghiệm trong quản lý cư trú của người nước ngoài tại Lào nói chung và tại các tỉnh miền Trung của Lào nói riêng. Ưu tiên, thúc đẩy hợp tác song phương với các nước láng giềng trong quản lý cư trú của người nước ngoài tại các tỉnh miền Trung của Lào. Các tỉnh miền Trung của Lào có đường biên giới dài với các quốc gia láng giềng như Thái Lan và Việt Nam.
Chú trọng và tăng cường kiểm soát người nước ngoài ngay từ cửa khẩu. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ sinh trắc học và hệ thống phân tích dữ liệu tại các cửa khẩu nhằm phát hiện sớm các trường hợp người nước ngoài có nguy cơ cao. Tăng cường năng lực cán bộ trong việc thực hiện các hoạt động hợp tác quốc tế liên quan đến quản lý cư trú của người nước ngoài tại các tỉnh miền Trung của Lào. Trong đó, chú trọng đào tạo chuyên sâu về kiến thức nghiệp vụ, ngoại ngữ và kỹ năng đàm phán, giao tiếp cho đội ngũ cán bộ tham gia vào quá trình này. Tăng cường trao đổi đoàn công tác với các nước có kinh nghiệm để học hỏi các mô hình, cách thức đàm phán và ký kết thỏa thuận hiệu quả.
4. Kết luận
Quản lý cư trú người nước ngoài tại các tỉnh miền Trung nước CHDCND Lào cơ bản đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Tuy nhiên, với sự phát triển của kinh tế, xã hội, trong thời gian tới, hoạt động này vẫn tiềm ẩn nhiều yếu tố chưa ổn định. Chính vì vậy, việc thực hiện đồng bộ các giải pháp trên sẽ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý cư trú của người nước ngoài tại các tỉnh miền Trung nước CHDCND Lào nói chung và cả nước nói chung.
Tài liệu tham khảo:
1. Đảng Nhân dân Cách mạng Lào (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII. NXB Quốc gia,thủ đô Viêng Chăn.
2. Bộ Công an Lào (2015-2025). Báo cáo chuyên đề của Cục Quản lý người nước ngoài về tình hình hoạt động và kết quả thực hiện công tác quản lý người nước ngoài lao động tại Lào giai đoạn 2015 – 2025, tại Thủ đô Viêng Chăn.



