The role of science, technology and innovation in rapid and sustainable economic growth in the Southeast region of Vietnam
ThS. Nguyễn Thị Phương Thủy
Trường Đại học Công nghệ kỹ thuật TP. Hồ Chí Minh
(Quanlynhanuoc.vn) – Vùng Đông Nam Bộ là đầu tàu kinh tế của cả nước nhưng đang đối mặt với thách thức lớn khi tốc độ tăng trưởng GRDP năm 2024 chỉ đạt 6,38%, thấp hơn mức bình quân quốc gia. Mô hình tăng trưởng truyền thống dựa trên thâm dụng vốn và lao động giá rẻ đã bộc lộ giới hạn rõ nét. Bài viết phân tích vai trò, cơ chế tác động và mức độ đóng góp của khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đối với tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững của vùng. Trên cơ sở đánh giá thực trạng nguồn lực, hạ tầng, hệ sinh thái khởi nghiệp và chuyển đổi số, bài viết đề xuất các giải pháp hoàn thiện thể chế điều phối cấp vùng, tập trung nguồn lực, khung pháp lý thử nghiệm, liên kết nghiên cứu – doanh nghiệp, phát triển nhân lực chất lượng cao và hạ tầng số đồng bộ.
Từ khóa: Khoa học, công nghệ; đổi mới sáng tạo; tăng trưởng bền vững; vùng Đông Nam Bộ.
Abstract: The Southeast Region is the economic locomotive of Vietnam; however, it is facing significant challenges as its Gross Regional Domestic Product (GRDP) growth rate in 2024 reached only 6.38%, lower than the national average. The traditional growth model, which relies heavily on capital accumulation and low-cost labor, has revealed its inherent limitations. This article examines the role, mechanisms of influence, and contributions of science, technology and innovation (STI) to rapid and sustainable economic growth in the region. Based on an assessment of the current status of resources, infrastructure, the innovation and startup ecosystem, and digital transformation, the article proposes a number of policy recommendations, including strengthening regional governance mechanisms, concentrating resources, developing regulatory sandboxes, enhancing research-industry linkages, fostering high-quality human resources, and building synchronized digital infrastructure.
Keywords: Science and technology; innovation; sustainable growth; Southeast region of Vietnam.
1. Đặt vấn đề
Suốt ba thập kỷ đổi mới, vùng Đông Nam Bộ đã tạo dựng nền tảng kinh tế vượt trội so với mọi vùng kinh tế khác trong cả nước. Với diện tích chỉ chiếm khoảng 7,5% lãnh thổ quốc gia và khoảng 17,3% dân số, vùng đóng góp hơn 30% GDP và xấp xỉ 44% tổng thu ngân sách nhà nước1. Tuy nhiên, giai đoạn 2011 – 2022, tăng trưởng GRDP của vùng chỉ đạt bình quân 5,50%/năm, thấp hơn mức bình quân cả nước (6,05%/năm). Năm 2024, tốc độ tăng GRDP của vùng ước đạt 6,38%, tiếp tục thấp hơn mức trung bình quốc gia 7,09%2. Đây là tín hiệu cho thấy, mô hình tăng trưởng truyền thống dựa trên thâm dụng lao động và gia công lắp ráp đã đến giới hạn.
Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 07/10/2022 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế – xã hội vùng Đông Nam Bộ đã xác định lấy khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo làm động lực tăng trưởng chủ yếu, đặt mục tiêu tốc độ tăng năng suất lao động đạt khoảng 7%/năm giai đoạn 2021 – 2030 và đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng đạt khoảng 56%. Đặc biệt, Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị tiếp tục khẳng định “phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại” – định hướng chiến lược này đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với vùng Đông Nam Bộ về chuyển đổi mô hình tăng trưởng.
Từ ngày 01/7/2025, thực hiện Nghị quyết số 76/2025/UBTVQH15 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, vùng Đông Nam Bộ hoàn thành tổ chức lại đơn vị hành chính còn 3 tỉnh, thành phố: TP. Hồ Chí Minh, thành phố Đồng Nai (hợp nhất từ tỉnh Đồng Nai và tỉnh Bình Phước) và tỉnh Tây Ninh (hợp nhất từ tỉnh Tây Ninh và tỉnh Long An). Sự tổ chức lại này tạo ra cả cơ hội lẫn thách thức lớn trong công tác quản lý nhà nước về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số ở cấp vùng.
2. Thực trạng ứng dụng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo tại vùng Đông Nam Bộ
Thứ nhất, các nguồn lực cơ sở vật chất, khoa học, công nghệ và nhân lực chất lượng cao.
(1) Về hạ tầng khoa học, công nghệ và hạ tầng số.
Khu Công nghệ cao tại TP. Hồ Chí Minh là một trong những khu công nghệ cao lớn nhất và tiên tiến nhất cả nước. Đến cuối tháng 6/2022, Khu công nghệ cao đã thu hút 160 dự án còn hiệu lực với sự hiện diện của các tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới, như: Intel, Jabil (Hoa Kỳ), Samsung (Hàn Quốc), Nidec và NTT (Nhật Bản). Công viên phần mềm Quang Trung (QTSC) sau hơn 22 năm phát triển đã thu hút hơn 150 doanh nghiệp, được tổ chức KPMG xếp vị trí thứ 3 trong số 8 khu công nghệ tại châu Á. Tháng 9/2024, Trung tâm Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (C4IR) chính thức khánh thành, đánh dấu bước tiến quan trọng trong việc xây dựng hạ tầng tư duy cho cách mạng công nghiệp 4.03.
Tại tỉnh Đồng Nai (trở thành thành phố Đồng Nai trực thuộc Trung ương kể từ ngày 30/4/2026), hạ tầng số đã được đầu tư tương đối bài bản. Tính đến tháng 9/2025, toàn tỉnh có 7.241 trạm BTS, trong đó 647 trạm 5G tại các khu vực trung tâm; 100% xã, phường được phủ sóng 4G; tỷ lệ hộ gia đình có đường Internet cáp quang đạt 94%; tỷ lệ thuê bao Internet băng rộng đạt 136%4. Tỉnh triển khai Khu Công nghệ thông tin tập trung Long Thành – định hướng thu hút trung tâm dữ liệu siêu lớn, doanh nghiệp thiết kế bán dẫn, phát triển hệ sinh thái công nghiệp công nghệ số gắn với sân bay quốc tế Long Thành. Đồng Nai cũng là một trong những địa phương triển khai mạng 5G sớm nhất cả nước (tháng 02/2021). Trung tâm Điều hành Thông minh (IOC) được vận hành chính thức từ tháng 9/2020, tích hợp dữ liệu từ 11 lĩnh vực quan trọng và kết nối 577 camera giám sát, là nền tảng để lãnh đạo tỉnh theo dõi và điều hành dựa trên dữ liệu theo thời gian thực5. Đặc biệt, Khu Công nghệ cao Đồng Nai với diện tích 497 ha tại xã Xuân Đường, huyện Cẩm Mỹ đang trong lộ trình chuyển đổi để thu hút các dự án công nghệ cao, bán dẫn, sản xuất chip, trí tuệ nhân tạo (AI) và thiết bị tự động hóa theo Quyết định số 586/QĐ-TTg ngày 03/7/2024 của Thủ tướng Chính phủ – đây là hạt nhân công nghệ chiến lược của tỉnh và của toàn vùng trong giai đoạn tới.
(2) Về nguồn nhân lực khoa học, công nghệ.
Về quy mô, vùng Đông Nam Bộ sở hữu đội ngũ nhân lực khoa học, công nghệ đứng thứ hai cả nước. Chỉ riêng TP. Hồ Chí Minh, hơn 100 trường đại học và cao đẳng có hoạt động đổi mới sáng tạo, tạo ra hệ sinh thái tri thức hiếm có trong khu vực. Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh đóng vai trò xương sống trong hệ thống này.
Tại Đồng Nai, chương trình “Bình dân học vụ số” năm 2025 đã bồi dưỡng kiến thức và nâng cao năng lực thiết kế vi mạch, công nghệ vi chế tạo linh kiện bán dẫn cho 24 giảng viên các trường đại học, cao đẳng; tổ chức hội nghị phổ cập kiến thức và kỹ năng ứng dụng AI cho hơn 7.500 cán bộ, công chức, viên chức, chiến sĩ công an và 1.500 người đồng bào dân tộc thiểu số. Đến tháng 11/2025, tổng số cán bộ, công chức, viên chức, người dân và tổ công nghệ số cộng đồng đã được tập huấn đạt 153.007 người; 24.742 học viên đăng ký tham gia sát hạch kiến thức ứng dụng AI, trong đó 20.509 người hoàn thành và được cấp giấy chứng nhận trực tuyến7.
(3) Đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&D).
Trong giai đoạn 2021 – 2025, Đồng Nai đã triển khai 56 nhiệm vụ khoa học, công nghệ các cấp. Tỷ lệ giải ngân chi sự nghiệp khoa học, công nghệ từ 40,08 – 60,31%, mức trung bình đạt khoảng 51,58%. Năm 2025, tổng ngân sách dành cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của Đồng Nai đạt 995 tỷ đồng (bao gồm 381 tỷ đồng chi thường xuyên và 614 tỷ đồng chi đầu tư phát triển). Năm 2026, tỉnh Đồng Nai dự toán tổng chi ngân sách nhà nước cho lĩnh vực này là 1.542.260 triệu đồng, trong đó chi sự nghiệp 486.820 triệu đồng, chi đầu tư phát triển 936.162 triệu đồng và vốn điều lệ Quỹ Phát triển khoa học, công nghệ 100 tỷ đồng8.
Về phía doanh nghiệp, tỷ lệ đầu tư cho R&D vẫn còn hạn chế. Trong số ít doanh nghiệp đã lập quỹ phát triển khoa học, công nghệ, phần lớn trích quỹ nhưng không sử dụng, phản ánh vấn đề cấu trúc: đa số doanh nghiệp trong vùng hoạt động ở công nghệ trung bình, chưa xem đầu tư R&D là yếu tố chiến lược. Hiện Đồng Nai có 16 doanh nghiệp khoa học, công nghệ và 88 doanh nghiệp đổi mới sáng tạo9.
Thứ hai, hoạt động đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
(1) Hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo.
TP. Hồ Chí Minh là trung tâm đầu não của hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tại Việt Nam và có vị thế ngày càng được ghi nhận trên bản đồ toàn cầu. Theo xếp hạng Startupblink năm 2023, hệ sinh thái khởi nghiệp TP. Hồ Chí Minh đứng thứ 111 thế giới, thứ 3 Đông Nam Á về giá trị hệ sinh thái10. Tháng 10/2024, Trung tâm Khởi nghiệp sáng tạo TP. Hồ Chí Minh chính thức ra đời với sứ mệnh lấy doanh nghiệp làm trung tâm.
Tại Đồng Nai, hoạt động khởi nghiệp được triển khai bài bản. Trong giai đoạn 2021 – 2024, tỉnh tổ chức 4 cuộc thi khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, thu hút 175 hồ sơ hợp lệ với số lượng hồ sơ nộp tăng gần 10% mỗi năm; tổ chức thường niên Ngày hội Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo (Techfest Đồng Nai) với sự tham gia của gần 500 đại biểu mỗi năm. Năm 2025, sự kiện Techfest Đồng Nai tổ chức từ ngày08 – 10/10/2025 với Techmart Đồng Nai quy mô 200 gian hàng và các hội nghị chuyên đề thu hút trên 400 đại biểu thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW. Chỉ số đổi mới sáng tạo địa phương (PII) của Đồng Nai năm 2025 đạt hạng 12/34 tỉnh, thành phố, cải thiện đáng kể so với hạng 13/63 năm 2023 và 19/63 năm 202411. Hiện nay, Đồng Nai có 3 trung tâm có hoạt động liên quan đến đổi mới sáng tạo, 4 đơn vị có bộ phận/phòng/trung tâm đổi mới sáng tạo và 7 đơn vị có câu lạc bộ khởi nghiệp.
(2) Chuyển đổi tại các tỉnh trong vùng.
Tại TP. Hồ Chí Minh, chuyển đổi số được thúc đẩy toàn diện ở cả ba trụ cột: chính quyền số, kinh tế số và xã hội số. Thành phố đặt mục tiêu trở thành đô thị thông minh hàng đầu Đông Nam Á, tận dụng lợi thế của hệ sinh thái Fintech, thương mại điện tử và nền kinh tế số phát triển.
Tại Đồng Nai, chuyển đổi số đang được triển khai thực chất và có chiều sâu. Năm 2023, Bộ chỉ số phục vụ người dân, doanh nghiệp của tỉnh xếp hạng 4/63 toàn quốc, đến tháng 11/2025, đạt 92,15 điểm, xếp thứ 3/34 tỉnh, thành phố. Từ ngày 01/7/2025, toàn bộ dịch vụ công trực tuyến được thực hiện trên Cổng Dịch vụ công Quốc gia; 100% cơ quan hành chính nhà nước xử lý hồ sơ công việc trên môi trường mạng; 11.646 chữ ký số được cấp toàn tỉnh; khoảng 600.000 chữ ký số công cộng đã được cấp cho người dân12. Năm 2024, tỷ trọng kinh tế số trong GRDP của Đồng Nai đạt 10%, với mục tiêu đạt 30% vào năm 203013.
Tại tỉnh Tây Ninh, mô hình chuyển đổi số tích hợp bốn trụ cột – con người, công nghệ, kinh doanh và yếu tố nền tảng được triển khai dựa trên kinh nghiệm quốc tế từ Daedeok Innopolis (Hàn Quốc) và Brainport Eindhoven (Hà Lan). Vùng đổi mới sáng tạo Bình Dương, Trung tâm VSIC (Việt Nam – Singapore) thành lập năm 2023 và Block71 Saigon là những hạt nhân của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo tích hợp. Diễn đàn Cộng đồng thông minh thế giới (ICF) xếp Bình Dương vào Top 7 cộng đồng có chiến lược phát triển thành phố thông minh tiêu biểu năm 202114.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo ở vùng Đông Nam bộ vẫn còn một số hạn chế, như: việc sáp nhập đơn vị hành chính tạo ra áp lực đồng bộ hóa hệ thống số ở quy mô lớn trong thời gian ngắn, vượt quá năng lực xử lý thông thường của bộ máy hành chính; tình trạng liên kết vùng về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo còn mang tính hình thức; hạn chế trong hệ thống chính sách và thể chế cho thử nghiệm những công nghệ mới đang gây ra nhiều trở ngại cho quá trình đổi mới sáng tạo của Vùng. Khoảng cách giữa nghiên cứu khoa học và ứng dụng thực tiễn còn lớn. Kết quả nghiên cứu từ các trung tâm đổi mới sáng tạo trong trường đại học phần lớn dừng lại ở báo cáo và công bố học thuật, không vượt qua được “thung lũng chết” để trở thành sản phẩm có thị trường, trong khi tỷ lệ doanh nghiệp sẵn sàng đầu tư cho R&D và đổi mới công nghệ vẫn còn thấp so với tiềm năng của vùng.
Những hạn chế nêu trên bắt nguồn từ những nguyên nhân chủ yếu sau: sự thiếu vắng một chủ thể điều phối cấp vùng có thẩm quyền và nguồn lực chuyên biệt, ngân sách khoa học, công nghệ bị phân tán theo từng địa phương, không đủ khối lượng để giải quyết các bài toán chiến lược có quy mô vùng. Sự không đồng bộ giữa tiến độ sắp xếp hành chính và tiến độ chuẩn hóa thể chế quản lý đã gây khó khăn cho công tác vận hành, đồng thời, chưa tạo ra được hành lang pháp lý ổn định để các doanh nghiệp yên tâm đầu tư, kinh doanh. Thể chế và các chính sách, pháp luật chậm được ban hành, đổi mới để phù hợp với tình hình cũng là một trong những điểm nghẽn, ảnh hưởng tới hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của Vùng. Bên cạnh đó, thiếu hụt cơ chế trung gian hiệu quả kết nối cơ sở nghiên cứu với thị trường. Đồng thời, nguồn nhân lực khoa học, công nghệ chất lượng cao chưa đáp ứng được yêu cầu của các ngành công nghệ chiến lược đang nổi lên. Hạ tầng số chưa đồng đều và chưa đủ năng lực để hỗ trợ một hệ sinh thái kinh tế số toàn diện ở quy mô vùng.
3. Giải pháp nâng cao vai trò của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số với phát triển kinh tế bền vững vùng Đông Nam Bộ
Thứ nhất, hoàn thiện thể chế và nâng cao năng lực điều phối khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo cấp vùng. Vấn đề căn bản nhất hiện nay không phải là thiếu chính sách mà là thiếu một cơ quan điều phối có thực quyền đủ sức gắn kết ba tỉnh, thành phố trong một tầm nhìn khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạothống nhất. Mô hình hội đồng điều phối vùng hiện nay đã được thiết lập về hình thức, tuy nhiên, chủ yếu đóng vai trò tham vấn, thiếu thẩm quyền phê duyệt ngân sách và không có cơ chế ràng buộc thực thi. Để khắc phục thực trạng này, cần sớm thành lập Hội đồng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo vùng Đông Nam Bộ với thẩm quyền thực. Trong bối cảnh vùng vừa hoàn thành sắp xếp lại đơn vị hành chính theo Nghị quyết số 76/2025/UBTVQH15, ưu tiên hàng đầu của giai đoạn này là xây dựng nền tảng dữ liệu dùng chung cấp vùng và chuẩn hóa quy trình quản lý khoa học, công nghệ theo mô hình chính quyền địa phương hai cấp, tạo ra nền tảng số liên thông thực chất thay vì tình trạng “ốc đảo dữ liệu” như hiện nay.
Thứ hai, tái cơ cấu ngân sách khoa học, công nghệ theo hướng tập trung có trọng điểm và ưu tiên đầu tư chiều sâu. Cần thiết lập cơ chế tập trung hóa một tỷ lệ đáng kể trong tổng ngân sách khoa học, công nghệ của ba tỉnh, thành phố vào một quỹ chung cấp vùng, tập trung đầu tư vào các lĩnh vực có tác động lan tỏa rộng, như: hạ tầng logistics thông minh, nền tảng dữ liệu mở cấp vùng và chương trình đào tạo nhân lực bán dẫn quy mô lớn. Các địa phương trong vùng rất khó tự lực hoàn toàn trong giai đoạn chuyển đổi mô hình tăng trưởng và cơ chế chia sẻ nguồn lực theo chiều dọc từ trung ương xuống địa phương, lẫn chiều ngang giữa các tỉnh trong vùng, do đó, cần được thể chế hóa rõ ràng hơn. Song song với nguồn lực công, cần có chính sách khuyến khích doanh nghiệp trích lập và sử dụng thực chất Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ nội bộ, gắn với cơ chế kiểm tra, giám sát và ưu đãi thuế đủ mạnh để thay đổi hành vi đầu tư R&D của khu vực tư nhân.
Thứ ba, xây dựng khung pháp lý kịp thời để thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong các lĩnh vực công nghệ mới. Hiện nay, nhiều lĩnh vực có hàm lượng công nghệ cao, như: tài chính số, trí tuệ nhân tạo (AI) ứng dụng trong y tế, giao thông thông minh và nền tảng giao dịch dữ liệu bất động sản đang vận hành trong tình trạng thiếu hành lang pháp lý rõ ràng. Khoảng trống thể chế này không đơn thuần là vấn đề kỹ thuật lập pháp mà tạo ra rủi ro pháp lý trực tiếp, khiến doanh nghiệp trong nước e ngại mở rộng đầu tư.
Cần triển khai cơ chế thử nghiệm có kiểm soát, tập trung vào các lĩnh vực công nghệ có tác động lan tỏa cao nhất, được lựa chọn dựa trên tiêu chí quy mô thị trường, mức độ sẵn sàng của hệ sinh thái và khả năng nhân rộng chính sách. Cơ chế này cần được thiết kế với giới hạn thời gian, phạm vi địa lý và điều kiện tham gia minh bạch, tạo ra không gian thử nghiệm hợp pháp. Cùng với đó, việc công bố lộ trình pháp lý có cam kết thời hạn cụ thể sẽ phát đi tín hiệu thị trường đủ rõ để nhà đầu tư mạo hiểm và nhân tài công nghệ định giá được rủi ro và đưa ra quyết định phân bổ nguồn lực dài hạn. Đồng thời, toàn bộ quá trình vận hành sandbox cần được gắn với hệ thống thu thập dữ liệu thực nghiệm có hệ thống, biến mỗi chu kỳ thử nghiệm thành căn cứ thực tiễn để hoàn thiện quy định và mở rộng mô hình ra toàn vùng và cả nước.
Thứ tư, thể chế hóa cơ chế liên kết giữa cơ sở nghiên cứu và doanh nghiệp theo mô hình đặt hàng có cam kết cụ thể về kết quả. Cần chuyển sang mô hình đặt hàng ngược – doanh nghiệp xác định bài toán công nghệ cụ thể, cơ sở nghiên cứu cạnh tranh để cung cấp giải pháp, Nhà nước đóng vai trò bảo lãnh rủi ro nghiên cứu và tạo điều kiện thử nghiệm. Mô hình hợp tác “ba nhà” giữa Nhà nước, nhà doanh nghiệp và nhà trường cần được nhân rộng trong toàn vùng và quan trọng hơn, phải được thể chế hóa thành cơ chế phối hợp định kỳ, có ngân sách và lộ trình rõ ràng, thoát khỏi sự phụ thuộc vào ý chí cá nhân lãnh đạo hay các sự kiện đơn lẻ. Sàn giao dịch công nghệ cấp vùng cần được vận hành như một hạ tầng trung gian thực sự, không chỉ đăng tải thông tin mà còn cung cấp dịch vụ tư vấn, môi giới và hỗ trợ pháp lý cho các giao dịch chuyển giao công nghệ.
Thứ năm, xây dựng chiến lược phát triển nhân lực khoa học, công nghệ chất lượng cao gắn với nhu cầu của các ngành công nghệ chiến lược. Cần xây dựng chương trình đào tạo kỹ sư bán dẫn và AI tập trung, quy mô lớn tại các trường đại học kỹ thuật trọng điểm, trong đó các tập đoàn đầu tư trực tiếp nước ngoài đang hoạt động không chỉ là đối tác tài trợ mà phải tham gia trực tiếp vào thiết kế chương trình và chuẩn đầu ra, gắn cam kết tuyển dụng với quá trình đào tạo. Đồng thời, cần triển khai cơ chế đãi ngộ đột phá để thu hút chuyên gia khoa học, công nghệ.
Thứ sáu, đầu tư phát triển hạ tầng số đồng bộ và hiện đại, tạo nền tảng vật chất cho hệ sinh thái kinh tế số vùng. Về hạ tầng cứng, cần khẩn trương triển khai trạm phân phối cáp quang quốc tế (PoP) tại Khu Công nghệ thông tin Long Thành, kết nối trực tiếp với trạm cập bờ cáp quang biển quốc tế, tạo thành siêu xa lộ Internet quốc tế tốc độ cao phục vụ các trung tâm dữ liệu siêu lớn, đây là điều kiện tiên quyết để thu hút các tập đoàn công nghệ toàn cầu đặt cơ sở hạ tầng dữ liệu tại vùng. Về hạ tầng mềm, cần đẩy nhanh triển khai Hệ thống Trợ lý Ảo sử dụng AI cho cán bộ, công chức toàn vùng nhằm nâng cao năng suất quản trị công và nâng cấp hệ thống giám sát an toàn, an ninh mạng (SOC) cấp vùng.
4. Kết luận
Vùng Đông Nam Bộ đang đứng trước một bước ngoặt phát triển mang tính thế hệ. Quá trình sắp xếp lại đơn vị hành chính không chỉ đặt ra yêu cầu bức thiết về đồng bộ hóa thể chế và hệ thống quản lý khoa học, công nghệ, mà còn mở ra cơ hội tái cấu trúc cơ chế điều phối vùng theo chiều sâu. Hành lang pháp lý như: Nghị quyết 57-NQ/TW, Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo năm 2025 vàcác nghị định thu hút chuyên gia đã tạo nền tảng đủ vững để hành động. Vì vậy cần nâng cao năng lực thực thi, như: khả năng phối hợp liên ngành, phân bổ nguồn lực có trọng tâm và quyết tâm của hệ thống quản lý nhà nước trong việc chuyển hóa định hướng chiến lược thành các chương trình hành động cụ thể, có địa chỉ và có trách nhiệm giải trình rõ ràng. Đó là điều kiện tiên quyết để vùng Đông Nam Bộ hiện thực hóa vai trò đầu tàu đổi mới sáng tạo của cả nước trong giai đoạn phát triển mới.
Chú thích:
1. Bộ Chính trị (2022). Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 07/10/2022 về phát triển kinh tế – xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Đông Nam Bộ đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
2. Đông Nam Bộ dẫn đầu cả nước về thu nhập bình quân đầu người. https://tuoitrethudo.vn/dong-nam-bo-dan-dau-ca-nuoc-ve-thu-nhap-binh-quan-dau-nguoi-266678.html
3. Khu Công nghệ cao thành phố Hồ Chí Minh. https://www.redsunland.vn/bds-cong-nghiep/khu-cong-nghe-cao-thanh-pho-ho-chi-minh/
4, 7, 9, 11, 12. Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Đồng Nai (2026). Báo cáo kiểm điểm công tác chỉ đạo, điều hành năm 2025, phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp chỉ đạo điều hành năm 2026.
5, 8, 13. Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai (2026). Báo cáo đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số giai đoạn 2021 – 2025; kế hoạch dự toán ngân sách khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số năm 2026.
6. Giáo dục Đông Nam Bộ đặt mục tiêu không hạn chế sự phát triển của trường tư thục. https://giaoduc.net.vn/giao-duc-dong-nam-bo-dat-muc-tieu-khong-han-che-su-phat-trien-cua-truong-tu-thuc-post234510.gd
10, 14. Lấy khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo làm động lực tăng trưởng: Những dấu ấn, bài học kinh nghiệm ở vùng Đông Nam Bộ. https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/thuc-tien-kinh-nghiem1/-/2018/1089102/lay-khoa-hoc—cong-nghe-va-doi-moi-sang-tao-lam-dong-luc-tang-truong–nhung-dau-an%2C-bai-hoc-kinh-nghiem-o-vung-dong-nam-bo.aspx



