Challenges in sustainable poverty reduction in Nghe An province at present
ThS. Đậu Trọng Chương, TS. Nguyễn Đức Trí
Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng
TS. Phạm Duyên Minh, ThS Lưu Ngọc Được
Trường Sĩ quan Chính trị, Bộ Quốc phòng
(Quanlynhanuoc.vn) – Dù đạt tốc độ tăng trưởng ấn tượng trong năm 2025 là 8,44% song Nghệ An vẫn đối mặt với thách thức lớn khi tỷ lệ hộ nghèo đa chiều còn cao (9,07%). Điều này cho thấy, kết quả giảm nghèo chưa thực sự bền vững, nguy cơ tái nghèo luôn hiện hữu. Những hạn chế, bất cập này đến từ nhiều nguyên nhân khác nhau và đang đặt ra những thách thức mới. Bài viết tập trung làm rõ các thách thức từ bối cảnh quốc tế, điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội đến năng lực thực thi chính sách đối với quá trình giảm nghèo bền vững trên địa bàn tỉnh Nghệ An hiện nay.
Từ khóa: Dịch vụ xã hội cơ bản; giảm nghèo bền vững; thách thức; Nghệ An.
Abstract: Although Nghe An Province achieved an impressive economic growth rate of 8.44% in 2025, it still faces significant challenges as the multidimensional poverty rate remains relatively high (9.07%). This indicates that poverty reduction results have not been truly sustainable, with a constant risk of households falling back into poverty. These limitations and shortcomings stem from various causes and are posing new challenges. This article focuses on clarifying the challenges to sustainable poverty reduction in Nghe An Province at present, ranging from international context, natural conditions, and socio-economic factors to the capacity for policy implementation.
Keywords: Basic social services; sustainable poverty reduction; challenges; Nghe An.
1. Đặt vấn đề
Những năm qua, cùng với việc thúc đẩy phát triển kinh tế, Nghệ An luôn coi trọng thực hiện chính sách an sinh xã hội nói chung, giảm nghèo bền vững nói riêng, nhờ đó “đời sống vật chất, tinh thần của người dân không ngừng được nâng lên; tình hình an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm, nhất là tại các vùng nghèo, đặc biệt khó khăn”1. Tuy nhiên, kết quả giảm nghèo chưa thực sự bền vững: thu nhập bình quân đầu người của hộ nghèo, hộ cận nghèo còn thấp, số hộ nghèo về thu nhập cao và biến động thất thường; khả năng tiếp cận và thụ hưởng một số dịch vụ xã hội cơ bản của hộ nghèo, hộ cận nghèo còn hạn chế; việc phòng ngừa tái nghèo, tái cận nghèo và phát sinh nghèo, cận nghèo mới chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra. Quá trình giảm nghèo bền vững vẫn đang tiếp tục đối diện với những thách thức không nhỏ.
2. Những thách thức đối với quá trình giảm nghèo bền vững của tỉnh Nghệ An
Một là, toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế tạo áp lực không nhỏ đến quá trình giảm nghèo bền vững.
Toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế tạo thời cơ và tiền đề quan trọng để cả nước nói chung, Nghệ An nói riêng thúc đẩy tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội đặc biệt là xóa đói, giảm nghèo, hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững. Tuy nhiên, không phải nhóm xã hội nào cũng có khả năng tiếp cận và hưởng lợi như nhau. Bên cạnh thời cơ, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế cũng đặt ra những thách thức lớn về nguồn lực đầu tư (nhất là vốn và khoa học, công nghệ), năng lực, cam kết thực hiện… Do vậy, nếu không khắc phục được những hạn chế về trình độ, kỹ năng, năng lực tài chính, khả năng ứng phó và tiếng nói trong xã hội, người nghèo ở Nghệ An có thể bỏ lỡ các cơ hội quan trọng do quá trình này mang lại.
Trước những thách thức của cục diện thế giới2, đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức lớn; quá trình giảm nghèo bền vững nói chung của cả nước và tỉnh Nghệ An nói riêng sẽ bị chịu tác động mạnh mẽ từ các xu hướng chủ đạo của nền kinh tế thế giới, như: chuyển đổi số, kinh tế xanh và sự dịch chuyển các chuỗi cung ứng. Trong đó, thách thức của chuyển đổi số ảnh hưởng đến nhu cầu đối với lao động phổ thông, gây áp lực trực tiếp lên nhóm lao động nghèo tại các vùng nông thôn Nghệ An vốn chủ yếu trình độ thấp, chưa qua đào tạo. Đặc biệt là khoảng cách giàu nghèo giữa khu vực đô thị và các xã nông thôn, miền núi đặc biệt khó khăn trên địa bàn tỉnh sẽ ngày càng giãn rộng do sự bất bình đẳng trong tiếp cận cơ hội việc làm hiện đại. Các hộ nghèo, hộ cận nghèo của tỉnh cũng gặp nhiều thách thức trong việc tiếp cận dịch vụ công trực tuyến và các nền tảng thương mại điện tử. Bên cạnh đó, còn nhiều rào cản mang tính đặc thù về địa lý và điều kiện kinh tế, tỷ lệ hộ nghèo thiếu hụt chỉ số sử dụng dịch vụ viễn thông vẫn ở mức 31,40% (tương đương 10.228 hộ), trong khi chỉ số thiếu hụt về tài sản phục vụ tiếp cận thông tin chiếm tới 21,18% (tương đương 6.979 hộ)3.
Đồng thời, xu hướng phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn với các hàng rào kỹ thuật khắt khe về môi trường đã, đang và sẽ tiếp tục đặt ra thách thức cho các sản phẩm nông nghiệp chủ lực của tỉnh Nghệ An. Các thị trường quốc tế thắt chặt tiêu chuẩn về nguồn gốc, chỉ số phát thải và hướng tới sự phát triển xanh,… đòi hỏi các mô hình sinh kế của người nghèo phải chuyển đổi từ canh tác truyền thống sang sản xuất sạch, hữu cơ. Đây là rào cản lớn đối với các hộ nghèo, hộ cận nghèo vốn thiếu hụt về vốn và công nghệ, nhưng cũng là cơ hội để Nghệ An nâng cao giá trị gia tăng cho nông sản vùng sâu, vùng xa, qua đó mở ra hướng đi mới để người nghèo tự vươn lên bảo đảm sinh kế, giảm nghèo.
Cùng với đó, sự dịch chuyển chuỗi cung ứng toàn cầu đang thúc đẩy Nghệ An tái cấu trúc toàn diện nền kinh tế, mở ra làn sóng đầu tư FDI mạnh mẽ vào các khu công nghiệp tại Nghệ An, đặc biệt là các khu công nghiệp mới thành lập. Điều này tạo ra dòng dịch chuyển lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp, dịch vụ giúp các hộ nghèo, hộ cận nghèo đa dạng hóa thu nhập nhưng đồng thời cũng kéo theo sự gia tăng chi phí vật tư đầu vào sản xuất, chi phí vận chuyển, trực tiếp làm giảm hiệu quả, sức cạnh tranh của nông sản ở địa phương.
Hai là, điều kiện tự nhiên của tỉnh có yếu tố chưa thực sự thuận lợi, tiếp tục tác động xấu đến quá trình giảm nghèo.
Tỉnh Nghệ An sở hữu vị trí địa lý đặc biệt quan trọng: phía Đông giáp Biển Đông, phía Tây giáp Lào, phía Bắc giáp tỉnh Thanh Hóa và phía Nam giáp tỉnh Hà Tĩnh. Địa hình Nghệ An rất đa dạng và phức tạp, trải dài từ miền núi cao, trung du đến đồng bằng ven biển. Khoảng 83% diện tích tự nhiên là đồi núi, phần còn lại là đồng bằng ven biển. Tỉnh có hệ thống sông ngòi tương đối dày đặc đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp nước cho nông nghiệp và sinh hoạt. Về khí hậu, Nghệ An nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc và gió mùa Tây Nam. Nguồn tài nguyên thiên nhiên của Nghệ An cũng khá phong phú, đa dạng, bao gồm tài nguyên đất (đất phù sa ở đồng bằng, đất feralit ở miền núi), tài nguyên rừng với hệ sinh thái đa dạng, tài nguyên biển và khoáng sản (đá vôi, thiếc, quặng sắt, than đá…)4. Nghệ An có thể phát triển một nền kinh tế đa dạng về ngành nghề, từ nông – lâm – ngư nghiệp đến công nghiệp và du lịch, góp phần tạo sinh kế bền vững, giải quyết việc làm tại chỗ, nâng cao thu nhập và giảm nghèo bền vững.
Tuy nhiên, việc sở hữu những đặc điểm địa lý, tự nhiên và khí hậu đặc thù, khiến Nghệ An trở thành một trong những địa phương gặp nhiều khó khăn trong phát triển kinh tế – xã hội, từ đó tác động trực tiếp đến tiến trình giảm nghèo bền vững. Phần lớn diện tích là đồi núi, địa hình chia cắt phức tạp khiến việc phát triển hạ tầng giao thông và cung cấp dịch vụ công ở các vùng sâu, vùng xa gặp rất nhiều khó khăn. Tài nguyên thiên nhiên phân bố không đồng đều đang làm gia tăng áp lực về việc làm, dẫn đến hiện tượng di cư lao động, gây ra tình trạng thiếu bền vững trong phát triển sinh kế tại chỗ.
Cùng với đó, “các tổn thất và thiệt hại do biến đổi khí hậu gây ra có xu hướng gia tăng, làm cản trở các nỗ lực phát triển bền vững, xóa đói, giảm nghèo và phát triển kinh tế – xã hội”5. Nghệ An cũng là một trong những tỉnh chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu, thiên tai, bão lũ. Điển hình như: năm 2021, đã xảy ra 18 đợt không khí lạnh, 4 đợt rét đậm rét hại, 31 đợt dông, lốc, sét, mưa đá và mưa lớn, 12 đợt mưa diện rộng, 7 đợt nắng nóng, 3 đợt thiên tai lớn: bão số 2, 6, 8, làm thiệt hại và ảnh hưởng 337 nhà do sạt, lở đất, 3.939 nhà bị ngập, 8.102 hộ phải di dời do ngập lụt và ảnh hưởng của sạt lở, thiệt hại 698,966 tỷ đồng6. Năm 2024, có 16 đợt không khí lạnh, 2 đợt rét đậm, rét hại, 11 đợt nắng nóng gay gắt, 36 trận lốc, mưa đá, sét, mưa lớn; gây thiệt hại cho người dân, phải di dời khẩn cấp, gây thiệt hại về sản xuất nông nghiệp và các công trình hạ tầng,… 401,23 tỷ đồng7. Từ đầu năm 2025 đến tháng 10/2025, Nghệ An liên tiếp hứng chịu các hiện tượng thời tiết cực đoan, đặc biệt là bão số 3, 5, 10, gây thiệt hại khoảng 8.500 tỷ đồng. Chỉ tính riêng bão số 3, đã làm 377 nhà bị sập, vùi lấp, trôi hoàn toàn, 1.387 nhà bị hư hỏng, tốc mái, 4.865 nhà bị ngập nặng, 25 điểm trường tê liệt, hàng chục nghìn diện tích lúa, cây trồng bị hư hại, ngập úng, hàng chục nghìn con gia súc, gia cầm bị chết, 110 vị trí bị sạt lở ta luy8… Biến đổi khí hậu và thiên tai đã và sẽ tiếp tục phá hủy cơ sở hạ tầng, tài sản và sinh kế của hộ nghèo, cận nghèo, hộ mới thoát nghèo, đồng thời khiến cho “việc triển khai các chính sách xã hội trên địa bàn tỉnh gặp nhiều khó khăn”9, từ đó hạn chế tính bền vững của thành quả giảm nghèo, buộc tỉnh phải liên tục huy động nguồn lực để khắc phục hậu quả thay vì đầu tư dài hạn và đẩy nhiều hộ vừa thoát nghèo trở lại vòng tái nghèo chỉ trong thời gian ngắn.
Ba là, cơ chế, chính sách giảm nghèo bền vững của trung ương còn nhiều bất cập chưa được giải quyết dứt điểm.
Cơ chế, chính sách giảm nghèo bền vững ở Việt Nam hiện nay chính là cơ sở pháp lý quan trọng để triển khai thực hiện các chương trình, dự án. Do vậy, quá trình giảm nghèo bền vững ở tỉnh Nghệ An được thực hiện theo cơ chế lồng ghép các chương trình, dự án có liên quan để nâng cao hiệu quả, tránh chồng chéo, phân tán nguồn lực;…, từ đó tạo “cú hích” giúp người nghèo trên địa bàn tỉnh có cơ hội, động lực và mục tiêu để vươn lên thoát nghèo bền vững và ngược lại.
Hiện “các văn bản của Trung ương chưa đồng bộ và đang tiếp tục sửa đổi, bổ sung”10, nhất là giai đoạn đầu, hệ thống văn bản hướng dẫn của trung ương chậm, làm ảnh hưởng đến công tác chỉ đạo triển khai thực hiện của các địa phương; nội dung hướng dẫn không rõ ràng, cụ thể, thiếu thực tiễn (hầu hết là các văn bản quy phạm pháp luật); các công trình cơ sở hạ tầng trên địa bàn các xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, an toàn khu chậm được giải quyết so với quy định của Luật Đầu tư công và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan. Một số nội dung hỗ trợ của các chương trình mục tiêu quốc gia còn trùng lặp, đối tượng hỗ trợ còn chồng chéo, bất hợp lý, dẫn đến quá trình tổ chức thực hiện giảm nghèo bền vững tại tỉnh còn lúng túng, kết quả chưa cao, chưa bền vững.
Bốn là, năng lực của các chủ thể tham gia giảm nghèo bền vững của tỉnh còn nhiều hạn chế.
Giảm nghèo bền vững đòi hỏi sự tham gia vào cuộc của cả hệ thống chính trị, cộng đồng xã hội và bản thân người nghèo. Sự lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn của cấp ủy đảng, chính quyền tỉnh Nghệ An được các cơ quan, ban, ngành phối hợp nhịp nhàng trong việc triển khai các chương trình, dự án; cùng với sự đồng hành của doanh nghiệp, cộng đồng, các tổ chức chính trị xã hội, lực lượng vũ trang… để tạo điều kiện thuận lợi để người nghèo trên địa bàn tỉnh có động lực, có mục tiêu vươn lên thoát nghèo bền vững.
Thực tế cho thấy, thời gian đầu, Nghệ An còn chậm trễ trong xây dựng cơ chế, chính sách cụ thể, dẫn đến chậm giải ngân kinh phí. Một số chính sách hỗ trợ giảm nghèo bền vững còn nhiều bất cập, chưa phù hợp với thực tiễn đặc thù của vùng miền núi, dân tộc thiểu số; việc hỗ trợ đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho đồng bào dân tộc thiểu số và người nghèo tại các vùng đặc biệt khó khăn hiệu quả chưa cao; mức hỗ trợ xây dựng mới nhà ở (80 triệu đồng) và sửa chữa (40 triệu đồng) là quá ít để bảo đảm tiêu chí diện tích sử dụng tối thiểu 30m2, “3 cứng” và tuổi thọ trên 20 năm11. Việc trợ giúp xã hội cho người nghèo mới chỉ bảo đảm hỗ trợ được một phần nhu cầu thiết yếu tối thiểu. Tỉnh cũng chưa chú trọng đúng mức đến chính sách đối với các hộ mới thoát nghèo. Quá trình triển khai thực hiện, việc bố trí cán bộ còn nhiều bất cập, nhất là trình độ, năng lực của cán bộ cấp xã còn hạn chế; công tác phối hợp triển khai các chương trình chưa thực sự hiệu quả, dẫn đến tình trạng chồng chéo, bỏ sót đối tượng… Tất cả những hạn chế này đã tạo “điểm nghẽn” cản trở việc giải ngân, giảm hiệu quả đầu tư và là một trong những nguyên nhân quan trọng nhất dẫn đến tình trạng giảm nghèo thiếu bền vững.
Cùng với đó, nhận thức, trách nhiệm của một số người nghèo còn hạn chế, một bộ phận người nghèo vẫn còn tư tưởng không muốn thoát nghèo để hưởng chính sách của Nhà nước. Bên cạnh đó, trình độ, kỹ năng, kinh nghiệm của người nghèo ở Nghệ An chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra. Điều đáng lo ngại, vẫn còn những hộ nghèo đông con, thiếu vốn sản xuất và kinh doanh, trong gia đình có người mắc tệ nạn xã hội như nghiện ma túy, nghiện rượu, cờ bạc, mại dâm nhưng cũng không chịu lao động. Đến cuối năm 2025, mặc dù đã có ít nhất 1 thành viên trong độ tuổi lao động (thuộc hơn 80.000 hộ nghèo, hộ cận nghèo) có việc làm bền vững, song vì tổng nhân khẩu thuộc các hộ này lên tới 342.833 người, đã tạo áp lực lớn về gánh nặng người phụ thuộc. Đã vậy, Nghệ An vẫn có tới 4.383 hộ nghèo (8.725 nhân khẩu) và 4.202 hộ cận nghèo (10.387 nhân khẩu) không có khả năng lao động, lớn hơn hầu hết các tỉnh trong vùng12. Thực tế này khiến họ không thể tận dụng hiệu quả các nguồn lực hỗ trợ để tự vươn lên thoát nghèo và dễ tái nghèo khi các chính sách hỗ trợ kết thúc.
Năm là, điều kiện phát triển kinh tế – xã hội, nhất là ở vùng miền núi, dân tộc thiểu số còn nhiều khó khăn,
Trên địa bàn tỉnh Nghệ An hiện nay có 47 dân tộc thiểu số sinh sống chủ yếu tại 668 thôn (bản) đặc biệt khó khăn thuộc 79 xã dân tộc thiểu số và miền núi13, đối tượng thụ hưởng chính sách rất lớn. Tình hình kinh tế tại các địa phương, nhất là ở miền núi còn nhiều khó khăn, địa bàn nông thôn rộng, sản xuất canh tác nông, lâm nghiệp còn manh mún. Hiệu quả đầu tư sản xuất nông nghiệp còn thấp, rủi ro cao nên việc thu hút đầu tư còn hạn chế; cơ sở hạ tầng nông nghiệp – nông thôn còn thiếu, chưa đồng bộ; việc ứng dụng tiến bộ kỹ thuật và cơ giới hóa vào sản xuất còn hạn chế cũng khiến tỷ lệ hộ nghèo và nguy cơ tái nghèo; phát sinh nghèo mới ở khu vực miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn cao.
3. Đề xuất một số giải pháp
Để phấn đấu đến năm 2035, thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn tăng ít nhất 1,5 lần so với năm 2030, duy trì tỷ lệ giảm nghèo đa chiều từ 0,5 -1,5%/năm, xã nghèo giảm ít nhất 3%/năm, có ít nhất 30% số xã nghèo thoát khỏi tình trạng nghèo14, thời gian tới cần:
Thứ nhất, chủ động hội nhập, thu hẹp khoảng cách số và hỗ trợ người nghèo thích ứng hiệu quả với các xu hướng kinh tế mới. Để giúp người nghèo không bị bỏ lại phía sau trước làn sóng toàn cầu hóa, tỉnh Nghệ An cần khẩn trương đầu tư đồng bộ hạ tầng viễn thông tại các vùng lõi nghèo, đồng thời, tổ chức các chương trình đào tạo kỹ năng số căn bản cho người dân, tạo tiền đề để hướng dẫn họ chuyển đổi mô hình sinh kế, chủ động đưa nông sản địa phương lên các sàn thương mại điện tử lớn và ứng dụng phương thức thanh toán điện tử. Song song với đó, cần hỗ trợ vốn và kỹ thuật để người dân chuyển dịch từ canh tác truyền thống sang sản xuất sạch, hữu cơ nhằm vượt qua các rào cản khắt khe của xu hướng kinh tế xanh. Tận dụng mạnh mẽ làn sóng đầu tư FDI vào các khu công nghiệp để liên kết đào tạo nghề theo địa chỉ, định hướng chuyển dịch lao động nghèo nông thôn sang khu vực công nghiệp, dịch vụ một cách bền vững.
Thứ hai, tập trung đầu tư hạ tầng chiến lược thích ứng với biến đổi khí hậu và quy hoạch lại không gian sinh kế theo đặc thù địa lý. Tỉnh cần ưu tiên nguồn lực ngân sách kết hợp xã hội hóa để nâng cấp hệ thống giao thông kết nối, cơ sở hạ tầng nông thôn tại vùng sâu, vùng xa, biên giới, vùng đặc biệt khó khăn; đẩy mạnh đầu tư các công trình phòng, chống thiên tai trọng điểm, sạt lở, ngập lụt và xây dựng bản đồ cảnh báo rủi ro khí hậu đến cấp xã nhằm bảo vệ tối đa tài sản, tư liệu sản xuất của người dân trước các “cú sốc” thời tiết cực đoan. Đồng thời, cần thực hiện quy hoạch lại không gian sinh kế bám sát đặc điểm tự nhiên tại chỗ, trọng tâm là thay đổi tập quán sản xuất cũ, phát triển mạnh kinh tế dưới tán rừng và xây dựng các vùng chuyên canh dược liệu quý gắn với chế biến sâu, từ đó tạo việc làm ổn định và giảm thiểu tình trạng di cư lao động tự phát.
Thứ ba, tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách và hoàn thiện quy trình lồng ghép hiệu quả các Chương trình mục tiêu quốc gia. Chủ động rà soát, kịp thời kiến nghị các cơ quan Trung ương sớm sửa đổi, ban hành đồng bộ hệ thống văn bản hướng dẫn triển khai. Quá trình thực hiện tại địa phương phải phân định rõ ràng đối tượng, nội dung hỗ trợ giữa các chương trình để tránh trùng lặp hoặc bỏ sót, đồng thời đơn giản hóa quy trình lồng ghép vốn và phân cấp mạnh mẽ cho cấp cơ sở nhằm tạo sự linh hoạt trong quản lý đầu tư công. Đặc biệt, tỉnh cần đẩy nhanh tiến trình số hóa công tác quản lý thông qua việc xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu về nghèo đa chiều liên thông hoàn toàn với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, bảo đảm tính chính xác, minh bạch và kịp thời trong điều hành chính sách.
Thứ tư, nâng cao năng lực bộ máy thực thi, đổi mới phương thức an sinh và khơi dậy khát vọng tự vươn lên thoát nghèo của người dân. Nhằm nâng cao hiệu quả giải ngân và chất lượng giảm nghèo, tỉnh cần tập trung bồi dưỡng, nâng cao năng lực quản lý dự án cho đội ngũ cán bộ cơ sở. Về mặt chính sách, cần đổi mới tư duy từ hỗ trợ “cho không” sang hỗ trợ có điều kiện kèm cam kết đối ứng. Đối với nhóm hộ nghèo không có khả năng lao động, tỉnh cần chuyển họ sang đối tượng bảo trợ xã hội dài hạn với mức trợ cấp phù hợp. Tiếp tục làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục để xóa bỏ tâm lý ỷ lại, cam chịu, tư tưởng không muốn thoát nghèo, khơi dậy ý chí tự lực vươn lên thoát nghèo của người dân, gắn với việc duy trì chính sách chuyển tiếp từ 2 – 3 năm sau thoát nghèo để tạo vùng đệm an toàn cho các hộ mới thoát nghèo.
Thứ năm, tập trung nguồn lực thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội vùng miền núi, đồng bào dân tộc thiểu số. Đối với khu vực đặc biệt khó khăn có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, giải pháp cốt lõi là phải tập trung khắc phục tình trạng sản xuất manh mún bằng cách khuyến khích và hỗ trợ thành lập các hợp tác xã kiểu mới, tổ hợp tác làm cầu nối liên kết chặt chẽ giữa doanh nghiệp và người dân. Tỉnh cần đẩy mạnh chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật, cơ giới hóa đồng bộ vào sản xuất nông, lâm nghiệp và đưa các loại giống cây trồng, vật nuôi có năng suất cao vào canh tác nhằm giảm thiểu rủi ro, tăng năng lực tích lũy cho hộ nghèo. Ban hành các cơ chế, chính sách ưu đãi đặc thù để thu hút các doanh nghiệp lớn đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao và chế biến sâu tại các xã miền núi phía Tây, qua đó vừa giải quyết việc làm tại chỗ, vừa bảo đảm bao tiêu sản phẩm ổn định cho đồng bào.
4. Kết luận
Những rào cản từ bối cảnh quốc tế, cơ chế, chính sách của Nhà nước cùng đặc thù về điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội và năng lực của các chủ thể tham gia giảm nghèo bền vững chính là những “điểm nghẽn” nội tại cần sớm tháo gỡ. Để đạt được các mục tiêu chiến lược đến năm 2035, Nghệ An cần có sự đầu tư nguồn lực tập trung, đồng thời, đòi hỏi sự quyết liệt trong khâu thực thi của bộ máy chính quyền địa phương, khơi dậy được ý chí tự lực, khát vọng vươn lên của chính chủ thể người nghèo. Nhận diện đúng và giải quyết kịp thời các thách thức này chính là chìa khóa để bảo đảm thành quả giảm nghèo của tỉnh đi vào thực chất và bền vững.
Chú thích:
1, 10, 11, 14. UBND tỉnh Nghệ An (2025). Báo cáo số 675/BC-UBND ngày 15/8/2025, tình hình triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới và giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021 – 2025, đề xuất định hướng triển khai trong giai đoạn 2026 – 2035.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập I. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 77 – 78.
4. Thống kê tỉnh Nghệ An (2025). Báo cáo số 152/BC-TCTK ngày 31/12/2025 về tình hình kinh tế – xã hội tháng 12 và năm 2025.
5. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2022). Báo cáo Kế hoạch quốc gia thích ứng biến đổi khí hậu giai đoạn 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050, tr. 36.
6. UBND Nghệ An (2022). Thông báo số 237/TB-UBND ngày 13/4/2022 Kết luận của đồng chí Hoàng Nghĩa Hiếu, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh tại Hội nghị tổng kết công tác phòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn năm 2021, triển khai nhiệm vụ năm 2022.
7. Thống kê tỉnh Nghệ An (2025). Niên giám thống kê tỉnh Nghệ An năm 2024. H. NXB Thống kê, tr. 657.
8. Văn phòng Thường trực Ban Chỉ huy Phòng, chống thiên tai – tìm kiếm cứu nạn và Phòng thủ dân sự tỉnh Nghệ An (2025). Báo cáo số 56/BC-VP.PCT ngày 26/7/2025 về tình hình diễn biến, công tác chỉ đạo ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai do bão số 3 và mưa, lũ hoàn lưu bão gây ra trên địa bàn tỉnh Nghệ An.
9. Tỉnh ủy Nghệ An (2022). Báo cáo số 183-BC/TU ngày 21/6/2022 tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa XI một số vấn đề chính sách xã hội giai đoạn 2012 – 2020 trên địa bàn tỉnh Nghệ An.
3, 12. Bộ Nông nghiệp và Môi trường (2026). Quyết định số 806/QĐ-BNNMT ngày 11/3/2026 công bố kết quả rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2025 theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2022 – 2025.
13. Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An (2026), Quyết định số 1085//QĐ-UBND ngày 30/3/2026, Phê duyệt danh sách thôn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thôn đặc biệt khó khăn; xã, phường vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, xã phường khu vực I, II, III giai đoạn 2026 – 2030 trên địa bàn tỉnh Nghệ An.



