The Leadership of the Communist Party of Vietnam in safeguarding the Party’s ideological foundation in the new context
TS. Phạm Thị Thùy
Trường Đại học Điện lực
(Quanlynhanuoc.vn) – Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là một nội dung quan trọng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Ðảng. Trong bối cảnh tình hình thế giới và trong nước có những diễn biến phức tạp, khó lường, đặc biệt là lợi dụng sự phát triển của internet và các phương tiện mạng xã hội, các thế lực thù địch ra sức ngụy tạo và lan truyền những luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch với mưu đồ chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa. Do đó, công tác đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong giai đoạn mới là hết sức cần thiết.
Từ khóa: Bảo vệ nền tảng tư tưởng; đấu tranh; phản bác; quan điểm thù địch.
Abstract: Safeguarding the Party’s ideological foundation and combating and refuting erroneous and hostile viewpoints constitute an important component of Party building and rectification. Amid increasingly complex and unpredictable developments in both the international and domestic situations, hostile forces have taken advantage of the rapid growth of the Internet and social media platforms to fabricate and disseminate distorted, false, and hostile narratives aimed at undermining the Party, the State, and the socialist regime. Therefore, combating and refuting erroneous and hostile viewpoints and safeguarding the Party’s ideological foundation in the new period are extremely necessary tasks.
Keywords: Safeguarding the Party’s ideological foundation; struggle; refutation; hostile viewpoints.
1. Đặt vấn đề
Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng luôn phải đối mặt với nhiều âm mưu, thủ đoạn chống phá, công kích của các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị. Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay, khi mà xu thế đang ngày càng thay đổi, sự tiến bộ của công nghệ thông tin và truyền thông số trong cách mạng công nghiệp 4.0 cùng với những biến động phức tạp của tình hình thế giới, các thế lực thù địch càng ráo riết đẩy mạnh chống phá trên mọi mặt trận, trọng tâm của chúng là đưa hàng loạt âm mưu, thủ đoạn tinh vi và thâm độc để chống phá chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối đổi mới của Đảng.
2. Những thách thức mới trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch giai đoạn hiện nay
Không từ một thủ đoạn nào, các thế lực phản động, thù địch luôn tìm cách gây nhiễu, tạo khoảng trống ý thức hệ trong cán bộ, đảng viên, kích động, thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” hòng làm lung lay niềm tin của Nhân dân vào Đảng, vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Thủ đoạn mà các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị thường tập trung là: phủ nhận, xuyên tạc vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng như giá trị khoa học, thời đại, cách mạng, nhân văn của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; chống phá, xuyên tạc quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trên tất cả lĩnh vực, đặc biệt xoáy sâu vào những vấn đề nhạy cảm, như dân tộc, tôn giáo, nhân quyền, biển, đảo; lợi dụng hạn chế, yếu kém trong quản lý xã hội, sơ hở, thiếu sót trong quản lý, điều hành đất nước hoặc những vấn đề bức xúc, khiếu kiện kéo dài chưa được giải quyết để lôi kéo, kích động người dân tham gia các hoạt động biểu tình, gây mất an ninh, trật tự, an toàn xã hội…
Nội dung chống phá của các thế lực thù địch thường tập trung trên các lĩnh vực chủ yếu sau:
(1) Về kinh tế, chúng xuyên tạc, chống phá đường lối phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của nước ta. Các thế lực thù địch âm mưu làm cho nền kinh tế nước ta phát triển chệch định hướng xã hội chủ nghĩa. Chúng đã bóp méo các nguyên lý kinh tế cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, đối lập định hướng xã hội chủ nghĩa với phát triển kinh tế thị trường tạo ra nền tảng vật chất, xã hội hình thành nền “chính trị dân chủ” và “xã hội dân sự” kiểu tư bản chủ nghĩa.
(2) Về văn hóa, chúng lợi dụng các vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền để chống phá cách mạng Việt Nam; gieo rắc tư tưởng sùng bái lối sống, văn hóa phương Tây; o bế các cây viết, khuynh hướng, xu hướng văn hóa – văn nghệ cực đoan, phản động; phát tán những tác phẩm cổ vũ sự chống đối, xúc phạm những giá trị văn hóa truyền thống, đòi “giải thiêng thần tượng”, “hạ bệ thần tượng”. Các thế lực thù địch lợi dụng các vấn đề dân chủ, nhân quyền để lôi kéo, dụ dỗ một bộ phận quần chúng thực hiện các hành vi chống đối chính quyền; tìm cách khoét sâu vào những yếu kém, sơ hở, mất cảnh giác của ta để bóp méo, xuyên tạc, tạo ra sự hoài nghi, lung lay trong tư tưởng của đảng viên và nhân dân ta.
(3) Về ngoại giao, các thế lực phản động tìm cách cản trở Việt Nam mở rộng quan hệ quốc tế, mặt khác, lôi kéo, mua chuộc các đối tác từ bên ngoài để gây sức ép, tác động vào bên trong đất nước; quốc tế hóa những vấn đề nội bộ của Việt Nam; xuyên tạc đường lối đối ngoại, độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển đa dạng hóa, đa phương hóa của Việt Nam.
Phương thức của các thế lực thù nhắm đến là tận dụng công cụ truyền thông, báo chí, không gian mạng để đẩy mạnh hoạt động chống phá về tư tưởng. Theo báo cáo Digital Việt Nam 2025, tổng cộng có 127 triệu kết nối di động đang hoạt động tại Việt Nam vào đầu năm 2025, tương đương 126% dân số. Việt Nam có 79,8 triệu người sử dụng internet vào đầu năm 2025, với tỷ lệ 78,8% dân số có kết nối trực tuyến. Số lượng tài khoản mạng xã hội tại Việt Nam đạt 76,2 triệu vào tháng 01/2025, tương đương 75,2% tổng dân số1. Với sự phát triển nhanh chóng của internet, mạng xã hội ở Việt Nam như hiện nay, nếu biết khai thác, sử dụng hợp lý có thể mang lại hiệu quả rất lớn trong tuyên truyền chính trị và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Song nếu không quản lý chặt chẽ thì internet và mạng xã hội cũng trở thành phương tiện hàng đầu để các thế lực thù địch tiến hành phá hoại tư tưởng, chống phá công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Chúng tăng cường thực hiện nhiều chiêu thức khác nhau, như xuất bản tài liệu, ấn phẩm sách báo, tạp chí, tập san, tờ rơi…; thành lập trang web, blog, các kênh phát thanh truyền hình có chương trình tiếng Việt; tổ chức hội thảo, tọa đàm, hội thi… thậm chí núp bóng danh nghĩa yêu nước, bảo vệ dân chủ, nhân quyền, vì dân tộc, vì đất nước, thúc đẩy hình thành các hội, nhóm, tổ chức chống phá Đảng, Nhà nước.
Hiện nay, có hàng nghìn hội nhóm phản động mới xuất hiện trên mạng xã hội, các trang phản động, như: Người Việt Online, “Nhật ký yêu nước”, “Dân làm báo”… do các thế lực thù địch, phản động và những phần tử đối lập, bất mãn chính trị ở trong và ngoài nước điều hành nhằm mục đích xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, thành quả của cách mạng; lợi dụng những mặt trái của cơ chế thị trường, bất cập trong công tác cán bộ, lãnh đạo, quản lý, các thế lực thù địch đã tạo dựng các trang web, blog các tài khoản cá nhân trên mạng xã hội. Thông qua đó, chúng phát tán video, hình ảnh, thông tin cắt ghép, bịa đặt hoặc có một phần sự thật nhưng đã bị bóp méo, xuyên tạc không đúng với nội dung thông tin gốc hoặc có một phần sự thật nhưng được “thêm thắt” đưa tin với dụng ý xấu.
Đặc biệt, chúng xem thanh niên là đối tượng chủ yếu, từ đó triệt để lợi dụng các phương tiện truyền thông để tuyên truyền, lôi kéo, kích động, chống phá. Một số trí thức trẻ, học sinh, sinh viên bị ảnh hưởng, kích động đã đăng các bình luận, hùa theo tư tưởng phản động, nói xấu chế độ, đề cao cái gọi là “xã hội dân sự”, “tự do ngôn luận”… dẫn đến vi phạm pháp luật. Đặc biệt, lợi dụng quá trình chuyển đổi số, các thế lực thù địch đã số hóa các dữ liệu không có thật, xuyên tạc lịch sử, bôi nhọ Đảng, lãnh đạo Đảng và Nhà nước…; thiết lập cơ sở dữ liệu, sử dụng công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI), internet kết nối vạn vật (IoT), dữ liệu lớn (Big Data)… để tạo ra các dữ liệu, tài liệu giả theo kiểu “có giá trị như thật”, “minh chứng lịch sử”, “nguồn gốc của mọi nguồn gốc”, “tài liệu mật”… nhằm chống Đảng và Nhà nước ta.
Lực lượng chống phá cũng rất đa dạng, phức tạp, tập trung ở ba nhóm đối tượng chính2: một bộ phận những người nghiên cứu lý luận, thực tiễn trên thế giới, bài xích tư tưởng xã hội chủ nghĩa trong cuộc đấu tranh ý thức hệ giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản; lực lượng phản động, tàn dư của chế độ ngụy quyền trước đây đang sinh sống, lưu vong ở nước ngoài kết hợp với một số đối tượng chống đối, bất mãn ở trong nước. Nhóm này có số lượng đông đảo, manh động và chống phá trực diện, quyết liệt nhằm thực hiện âm mưu phá hoại công cuộc đổi mới và sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta; thậm chí là một bộ phận cán bộ, đảng viên bất mãn, cơ hội, suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.
3. Thực tiễn bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch của toàn đảng, toàn dân trong những năm qua
3.1. Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam
Trong tiến trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn nhất quán xác định bảo vệ nền tảng tư tưởng là vấn đề có tính nguyên tắc, mang ý nghĩa sống còn đối với sự tồn vong của Đảng và chế độ. Không chỉ dừng lại ở định hướng chung, các chủ trương của Đảng ngày càng được cụ thể hóa, phát triển cả về nhận thức lý luận và phương thức tổ chức thực hiện, phù hợp với bối cảnh mới, đặc biệt là sự tác động mạnh mẽ của toàn cầu hóa và chuyển đổi số. Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) không chỉ đặt ra yêu cầu tăng cường đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch mà còn nhấn mạnh tính chủ động và tầm nhìn chiến lược trong triển khai nhiệm vụ này, đồng thời khằng định cần “chủ động chuẩn bị các phương án, biện pháp cụ thể, sát với tình hình; xây dựng lý luận sắc bén để đấu tranh, phản bác có hiệu quả với các quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc nền tảng tư tưởng, cương lĩnh, đường lối lãnh đạo của Đảng, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước và khối đại đoàn kết toàn dân tộc”3. Điểm nổi bật là sự chuyển hướng từ tư duy bị động sang chủ động, từ chỉ “chống” sang kết hợp hài hòa giữa “phòng” và “xây”. Điều này đòi hỏi không chỉ phản bác các luận điệu sai trái mà còn phải củng cố nền tảng lý luận vững chắc, tạo sức đề kháng từ bên trong xã hội. Việc xác định đây vừa là nhiệm vụ “cấp bách”, vừa mang tính “lâu dài” cho thấy, Đảng nhận thức sâu sắc tính liên tục, bền bỉ của cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, đòi hỏi phải có chiến lược tổng thể và giải pháp phù hợp trong từng giai đoạn.
Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị đánh dấu bước phát triển quan trọng trong nhận thức lý luận khi lần đầu tiên xác định đầy đủ, toàn diện nội hàm của nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, khẳng định: “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng là bảo vệ Ðảng, bảo vệ Cương lĩnh chính trị, đường lối lãnh đạo của Ðảng; bảo vệ Nhân dân, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc”4. Theo đó, nhiệm vụ này được nâng từ phạm vi công tác tư tưởng lên tầm nhiệm vụ chính trị trọng tâm, mang ý nghĩa chiến lược đối với sự phát triển của đất nước. Bên cạnh đó, Nghị quyết số 35-NQ/TW đặc biệt coi trọng vai trò của giáo dục chính trị tư tưởng và việc củng cố niềm tin trong xã hội. Việc làm cho chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc không chỉ mang ý nghĩa lý luận mà còn là giải pháp căn bản, lâu dài nhằm nâng cao “sức đề kháng” của xã hội, góp phần ngăn chặn và làm suy giảm hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch.
Đến Đại hội XIII (năm 2021), nhận thức của Đảng về bảo vệ nền tảng tư tưởng tiếp tục được nâng lên một tầm cao mới, thể hiện ở sự gắn kết chặt chẽ, hữu cơ giữa nhiệm vụ này với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng một cách toàn diện. Đảng không chỉ nhấn mạnh yêu cầu kiên định về lập trường tư tưởng mà còn đặc biệt chú trọng đến việc củng cố nội lực từ bên trong, coi đây là yếu tố then chốt quyết định hiệu quả của cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng. Trong đó, vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên được xác định là một trong những giải pháp trọng tâm, có ý nghĩa trực tiếp trong việc củng cố niềm tin của Nhân dân và nâng cao sức chiến đấu của tổ chức đảng, của từng đảng viên. Điều này không chỉ mang ý nghĩa về đạo đức, lối sống mà còn có tác động sâu sắc đến lĩnh vực tư tưởng, bởi lẽ hành động, thái độ và phẩm chất của đội ngũ cán bộ, đảng viên chính là minh chứng sinh động, thuyết phục nhất cho tính đúng đắn của đường lối, chủ trương của Đảng.
Thực tiễn cũng chỉ rõ, khi đội ngũ cán bộ, đảng viên, đặc biệt là người đứng đầu, giữ vững bản lĩnh chính trị, gương mẫu trong công việc và cuộc sống, sẽ tạo hiệu ứng lan tỏa tích cực, góp phần củng cố niềm tin xã hội trước các thông tin sai lệch, xuyên tạc. Ngược lại, nếu xảy ra biểu hiện suy thoái, thiếu gương mẫu thì không chỉ làm giảm uy tín của tổ chức đảng mà còn tạo “kẽ hở” để các thế lực thù địch lợi dụng, xuyên tạc và kích động.
Đại hội XIV của Đảng (năm 2026) tiếp tục kế thừa và phát triển tư duy về bảo vệ nền tảng tư tưởng trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cao hơn về chất lượng và tính bền vững. Việc nhấn mạnh “bốn kiên định”: “Kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về đường lối đổi mới; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; kiên định các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng trong xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”5 không chỉ thể hiện sự nhất quán về lập trường tư tưởng mà còn đặt ra yêu cầu cao về tính sáng tạo, linh hoạt trong vận dụng vào thực tiễn. Điểm mới nổi bật là Đảng không chỉ dừng lại ở việc “giữ vững” mà còn nhấn mạnh đến “phát triển” nền tảng tư tưởng, phù hợp với bối cảnh biến đổi nhanh chóng của thời đại. Điều này cho thấy, tư duy lý luận của Đảng ngày càng năng động, gắn chặt với thực tiễn nhằm bảo đảm tính thuyết phục và sức sống của hệ tư tưởng trong đời sống xã hội.
Đặc biệt, Đại hội XIV của Đảng đề cao vai trò của công tác nghiên cứu, phát triển lý luận, năng lực dự báo và tầm nhìn chiến lược. Đây được xem là những yếu tố then chốt giúp Đảng chủ động định hướng dư luận xã hội, dẫn dắt nhận thức, thay vì chỉ phản ứng trước các thông tin sai lệch. Việc nâng cao năng lực “đi trước, đón đầu” trong lĩnh vực tư tưởng không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch mà còn củng cố vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong bối cảnh mới.
Nhìn chung, các chủ trương của Đảng về bảo vệ nền tảng tư tưởng đã có sự phát triển rõ nét theo hướng: từ nhận thức đến hành động, từ bị động sang chủ động, từ đấu tranh đơn lẻ sang tổng thể, hệ thống. Điều này phản ánh sự thích ứng kịp thời của Đảng trước những biến đổi nhanh chóng của bối cảnh trong nước và quốc tế, đồng thời khẳng định vai trò lãnh đạo toàn diện, xuyên suốt của Đảng trong bảo vệ nền tảng tư tưởng và định hướng phát triển đất nước.
3.2. Những kết quả đạt được
Thực tế những năm qua, công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch đã được triển khai ngày càng bài bản, đồng bộ và đi vào chiều sâu, đạt được nhiều kết quả quan trọng. Điều đáng chú ý là sự chuyển biến rõ nét cả về nhận thức, phương thức tổ chức thực hiện và sự tham gia của toàn xã hội, tạo nên sức mạnh tổng hợp trong cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng.
Trước hết, việc quán triệt sâu sắc quan điểm coi đây là nhiệm vụ của toàn bộ hệ thống chính trị đã góp phần nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Từ Trung ương đến địa phương, các cấp, các ngành đã chủ động triển khai nhiều giải pháp phù hợp, giúp các tầng lớp nhân dân hiểu rõ hơn bản chất, âm mưu và thủ đoạn của các thế lực thù địch. Nhờ đó, khả năng nhận diện, phân biệt đúng – sai, thật – giả ngày càng được nâng cao, góp phần củng cố “sức đề kháng” tư tưởng trong xã hội.
Một kết quả nổi bật là Đảng đã vận dụng hiệu quả phương châm kết hợp giữa “xây” và “chống”, trong đó “xây” giữ vai trò nền tảng, “chống” mang tính cấp bách. Việc đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục lý luận chính trị, bồi dưỡng lòng yêu nước, kết hợp với đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái đã tạo ra sự thống nhất giữa nhận thức và hành động. Đồng thời, các hình thức đấu tranh ngày càng đa dạng, từ tuyên truyền, giáo dục, phản biện khoa học đến xử lý nghiêm các hành vi vi phạm, góp phần nâng cao tính răn đe và hiệu quả thực tiễn.
Đặc biệt, việc phát huy vai trò của Nhân dân trong xây dựng “thế trận lòng dân” đã trở thành một điểm sáng. Thực tiễn cho thấy, khi niềm tin của Nhân dân được củng cố, sức mạnh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng được nhân lên rõ rệt. Điển hình như vụ việc tại Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk (ngày 11/6/2023), mặc dù các đối tượng khủng bố có tổ chức, sử dụng vũ khí nguy hiểm nhằm gây rối an ninh, trật tự, song với tinh thần đoàn kết và ý thức trách nhiệm cao, nhân dân địa phương đã tích cực phối hợp với lực lượng chức năng, góp phần nhanh chóng ổn định tình hình. Hành động dũng cảm của người dân Trần Đình Thuận trong việc cứu cán bộ bị thương6 là minh chứng sinh động cho sức mạnh của “thế trận lòng dân” trong thực tiễn.
Cùng với đó, công tác tuyên truyền trên không gian mạng có nhiều chuyển biến tích cực. Sự xuất hiện của các trang, nhóm như “Đấu tranh chống luận điệu xuyên tạc”, “Chống luận điệu xuyên tạc”, “Tiếng nói thế hệ trẻ”, “Thông tin chống phản động”… với số lượng lớn người tham gia7 cho thấy, sự lan tỏa mạnh mẽ của tinh thần trách nhiệm xã hội trong cộng đồng. Đây không chỉ là kênh thông tin mà còn là diễn đàn để người dân thể hiện quan điểm, góp phần hình thành “mặt trận tư tưởng” rộng khắp trên không gian mạng.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, vẫn còn tồn tại một số hạn chế cần được nhìn nhận nghiêm túc. Trước hết, nhận thức của một bộ phận cán bộ, đảng viên về vai trò, tầm quan trọng của công tác này chưa thật sự sâu sắc; vẫn còn biểu hiện thiếu chủ động, ngại va chạm, né tránh trách nhiệm. Một số trường hợp suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đã ảnh hưởng tiêu cực đến uy tín của Đảng và làm suy giảm niềm tin của Nhân dân.
Hiện nay, phương thức, giải pháp triển khai còn mang tính hình thức, chưa theo kịp yêu cầu thực tiễn, đặc biệt trong môi trường số. Việc xây dựng “thế trận lòng dân” ở một số nơi chưa đạt hiệu quả như kỳ vọng; công tác nêu gương chưa thực sự nổi bật, thiếu tính lan tỏa. Việc phối hợp giữa các cơ quan và chính quyền địa phương trong phản ứng trước các thông tin sai lệch đôi khi chưa kịp thời, tạo khoảng trống để các thế lực thù địch lợi dụng. Ngoài ra, quá trình số hóa dữ liệu còn chậm, thiếu đồng bộ, dẫn đến nguy cơ bị lợi dụng để tạo dựng thông tin giả, xuyên tạc lịch sử, bóp méo sự thật. Đây là thách thức lớn trong bối cảnh công nghệ số phát triển nhanh chóng, đòi hỏi phải có giải pháp đồng bộ, hiện đại và kịp thời hơn trong thời gian tới.
4. Nâng cao hiệu quả đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng
Thứ nhất, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị tư tưởng.
Cần nâng cao chất lượng, tính thuyết phục và sức lan tỏa của công tác tuyên truyền theo hướng hiện đại, linh hoạt, phù hợp với từng nhóm đối tượng, đặc biệt là thế hệ trẻ. Nội dung tuyên truyền không chỉ dừng lại ở việc truyền đạt lý luận mà cần gắn với thực tiễn sinh động của đất nước, làm rõ giá trị khoa học và thực tiễn của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối đổi mới của Đảng. Đồng thời, cần chủ động chiếm lĩnh không gian mạng bằng việc tăng cường thông tin tích cực, xây dựng các sản phẩm truyền thông hấp dẫn, dễ tiếp cận; kết hợp hiệu quả giữa “xây” và “chống”, giữa định hướng dư luận và phản bác thông tin sai trái.
Bên cạnh đó, cần đổi mới phương thức truyền tải theo hướng tăng tính tương tác, đối thoại và tiếp nhận đa chiều thay vì truyền thông một chiều như trước đây. Việc ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn trong phân tích xu hướng dư luận sẽ giúp nâng cao hiệu quả định hướng thông tin. Đồng thời, đội ngũ làm công tác tuyên truyền cần được đào tạo cả về trình độ lý luận và kỹ năng truyền thông hiện đại. Chỉ khi nội dung đúng, cách truyền đạt phù hợp và hình thức hấp dẫn thì công tác giáo dục chính trị tư tưởng mới tạo được sức thuyết phục sâu rộng trong xã hội.
Thứ hai, tiếp tục hoàn thiện cơ sở lý luận và nâng cao chất lượng nội dung đấu tranh.
Cần đẩy mạnh nghiên cứu, phát triển và hệ thống hóa lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trong bối cảnh mới; làm rõ những vấn đề thực tiễn đặt ra trong quá trình đổi mới, hội nhập và chuyển đổi số. Việc cung cấp các luận cứ khoa học, bằng chứng thực tiễn có giá trị sẽ là cơ sở quan trọng để nâng cao tính thuyết phục trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái. Đồng thời, cần gắn công tác này với việc thực hiện hiệu quả các nghị quyết của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) nhằm ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái tư tưởng, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.
Việc bổ sung và phát triển lý luận phải xuất phát từ thực tiễn, lấy thực tiễn làm cơ sở kiểm nghiệm tính đúng đắn của các quan điểm khoa học. Cần khuyến khích hoạt động tổng kết thực tiễn, nghiên cứu các vấn đề mới phát sinh để kịp thời giải đáp những câu hỏi đặt ra trong đời sống xã hội. Một hệ thống lý luận vững chắc không chỉ giúp định hướng nhận thức mà còn tạo nền tảng khoa học cho quá trình phản bác các quan điểm sai trái. Đây là yêu cầu có tính lâu dài nhằm bảo đảm sự phát triển ổn định và bền vững về tư tưởng.
Thứ ba, nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện và kỷ luật, kỷ cương trong Đảng.
Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, bảo đảm mọi tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên chấp hành nghiêm các quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước, nhất là kỷ luật phát ngôn và bảo vệ bí mật thông tin. Kiên quyết xử lý nghiêm các hành vi vi phạm, qua đó nâng cao tính răn đe và củng cố niềm tin của Nhân dân. Đồng thời, phát huy vai trò, trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, tạo sức lan tỏa trong toàn hệ thống chính trị.
Xây dựng cơ chế đánh giá, kiểm tra thường xuyên gắn với trách nhiệm cá nhân và trách nhiệm tập thể trong thực hiện nhiệm vụ. Kỷ luật nghiêm minh phải đi đôi với nâng cao ý thức tự giác, tinh thần trách nhiệm và đạo đức công vụ của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Việc thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình sẽ góp phần ngăn ngừa biểu hiện suy thoái ngay từ sớm. Đây là yếu tố quan trọng để xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh.
Thứ tư, phát huy sức mạnh của Nhân dân và xây dựng vững chắc “thế trận lòng dân”.
Tiếp tục khẳng định và phát huy vai trò của nhân dân là chủ thể trung tâm trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Cần tạo điều kiện để người dân tham gia tích cực vào việc phát hiện, phản ánh và đấu tranh với các thông tin sai trái; đồng thời nâng cao nhận thức, bản lĩnh chính trị và khả năng “miễn dịch” trước các luận điệu xuyên tạc. Việc củng cố niềm tin của Nhân dân thông qua giải quyết hiệu quả các vấn đề thực tiễn, bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của người dân, chính là giải pháp căn bản, lâu dài để làm thất bại mọi âm mưu chống phá.
Tăng cường đối thoại, lắng nghe ý kiến và kịp thời giải quyết những kiến nghị, nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Khi người dân được tham gia đóng góp ý kiến và thấy rõ vai trò của mình trong quá trình phát triển đất nước, niềm tin xã hội sẽ được củng cố bền vững. Thực tế cho thấy, mọi âm mưu xuyên tạc chỉ có thể phát huy tác động khi tồn tại khoảng cách giữa Đảng với nhân dân. Vì vậy, xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc chính là nền tảng quan trọng của sức mạnh chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Thứ năm, nâng cao hiệu quả đấu tranh trên không gian mạng và ứng dụng công nghệ số.
Trong bối cảnh không gian mạng trở thành “mặt trận” chủ yếu, cần xây dựng lực lượng chuyên trách có khả năng phản ứng nhanh, chủ động phát hiện và xử lý thông tin sai trái, thù địch. Đồng thời, hoàn thiện hệ thống pháp luật và giải pháp kỹ thuật trong quản lý internet, mạng xã hội; đẩy nhanh quá trình số hóa dữ liệu chính thống nhằm hạn chế “khoảng trống thông tin” bị lợi dụng. Cần phát triển các nền tảng truyền thông chính thống, mở rộng các kênh thông tin có sức lan tỏa cao; đồng thời, tận dụng vai trò của các cá nhân có ảnh hưởng trên mạng xã hội để định hướng dư luận tích cực.
Nâng cao năng lực số và kỹ năng nhận diện thông tin cho người dân, đặc biệt là giới trẻ, nhóm đối tượng tiếp cận mạng xã hội với tần suất cao. Việc xây dựng “lá chắn nhận thức” thông qua giáo dục kỹ năng số sẽ giúp hạn chế tác động tiêu cực từ thông tin xấu, độc. Đồng thời, cần đẩy mạnh hợp tác giữa cơ quan quản lý, doanh nghiệp công nghệ và các nền tảng mạng xã hội nhằm xử lý nhanh các nội dung vi phạm. Công nghệ chỉ phát huy hiệu quả khi đi cùng với yếu tố con người và cơ chế quản lý phù hợp.
Thứ sáu, tăng cường sự phối hợp đồng bộ giữa các lực lượng và các cấp, các ngành.
Công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị. Cần khắc phục tình trạng rời rạc, thiếu liên kết; xây dựng cơ chế phối hợp hiệu quả, thống nhất từ Trung ương đến địa phương, giữa lực lượng chuyên trách với các tổ chức chính trị – xã hội và cộng đồng. Xác định rõ trách nhiệm, phạm vi và cơ chế phối hợp của từng chủ thể để tránh chồng chéo hoặc bỏ sót nhiệm vụ. Việc thiết lập hệ thống chia sẻ thông tin và phối hợp xử lý tình huống theo hướng liên thông sẽ giúp nâng cao hiệu quả hoạt động. Mỗi lực lượng có chức năng riêng nhưng cần thống nhất mục tiêu, phương thức và định hướng hành động. Khi tạo được sức mạnh tổng hợp và sự đồng thuận cao, hiệu quả bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng sẽ được nâng lên rõ rệt và bền vững hơn.
Đồng thời, tăng cường cơ chế phối hợp thường xuyên, bảo đảm sự kết nối chặt chẽ giữa các lực lượng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Việc chia sẻ thông tin kịp thời, thống nhất phương thức xử lý và ứng dụng công nghệ trong liên thông dữ liệu sẽ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động. Sự phối hợp đồng bộ, thống nhất sẽ tạo nên sức mạnh tổng hợp, đáp ứng yêu cầu bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
5. Kết luận
Trong bối cảnh mới, công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự ổn định và phát triển của đất nước. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, công tác này đã đạt nhiều kết quả tích cực, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân và tăng cường “thế trận lòng dân”. Tuy nhiên, trước những thách thức ngày càng phức tạp, để bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, cần kiên định về mục tiêu, linh hoạt về phương thức, chủ động trong triển khai và phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, gắn với ứng dụng hiệu quả công nghệ số. Đây không chỉ là nhiệm vụ trước mắt mà còn là yêu cầu lâu dài nhằm giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và định hướng sự phát triển bền vững của đất nước trong kỷ nguyên mới.
Chú thích:
1. Báo cáo Digital Việt Nam 2025. https://datareportal.com/reports/digital-2025-vietnam.
2. Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong bối cảnh mới. https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/dau-tranh-phan-bac-cac-luan-dieu-sai-trai-thu-dich/chi-tiet/-/asset_publisher/YqSB2JpnYto9/content/bao-ve-nen-tang-tu-tuong-cua-dang-dau-tranh-phan-bac-cac-quan-diem-sai-trai-thu-dich-trong-boi-canh-moi
3. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2016). Nghị quyết số 04-NQ/TW ngày 30/10/2016 Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.
4. Bộ Chính trị (2018). Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới.
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập II. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 259.
6. Nhìn lại vụ việc khủng bố tại Đắk Lắk: Vạch trần âm mưu chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc (Bài 1). https://dantocphattrien.vietnamnet.vn/nhin-lai-vu-viec-khung-bo-tai-dak-lak-vach-tran-am-muu-chia-re-khoi-dai-doan-ket-dan-toc-bai-1-1689553177006.htm
7. Chuyển đổi số với công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. https://doanthanhnien.vn/chi-tiet/chuyen-doi-so-voi-cong-tac-bao-ve-nen-tang-tu-tuong-cua-dang-51513
Tài liệu tham khảo:
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Tập I, II. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
2. Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong cải cách hành chính, xây dựng nền hành chính phục vụ, liêm chính, hiện đại. https://www.quanlynhanuoc.vn/2026/05/13/bao-ve-nen-tang-tu-tuong-cua-dang-trong-cai-cach-hanh-chinh-xay-dung-nen-hanh-chinh-phuc-vu-liem-chinh-hien-dai/



