Vai trò của quản lý nhà nước trong kiểm soát chất lượng cho vay của ngân hàng thương mại: thực tiễn tại Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam (Techcombank)

The role of state management in controlling the lending quality of commercial banks: a case study of Vietnam Technological and Commercial Joint Stock Bank (Techcombank)

ThS. Hà Thị Kim Dung
Đại học Công nghiệp Hà Nội

(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết nghiên cứu vai trò của quản lý nhà nước trong kiểm soát chất lượng cho vay của ngân hàng thương mại. Dựa trên phân tích tác động của các công cụ quản lý, như: Luật Các tổ chức tín dụng, các thông tư, nghị định nhằm định hướng hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại nói chung, Ngân hàng Techcombank nói riêng. Kết quả cho thấy, hoạt động quản lý nhà nước giữ vai trò quan trọng trong việc định hướng, kiểm soát rủi ro và nâng cao hiệu quả tín dụng, song vẫn tồn tại một số hạn chế trong quá trình thực thi. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý, góp phần nâng cao chất lượng cho vay và bảo đảm an toàn, ổn định cho hệ thống ngân hàng thương mại trong giai đoạn hiện nay.

Từ khóa: Quản lý nhà nước; chất lượng cho vay; kiểm soát; chất lượng; ngân hàng thương mại; Techcombank.

Abstract: This paper examines the role of state management in controlling the quality of commercial bank lending, using the case study of Vietnam Technological and Commercial Joint Stock Bank (Techcombank). Based on an analysis of the impact of existing management tools, including the Law on Credit Institutions and various circulars and decrees issued to guide lending activities of commercial banks in general and Techcombank in particular, the results show that state management plays a crucial role in guiding, controlling risks, and improving credit efficiency. However, some limitations still exist in the implementation process. Based on this, the paper proposes solutions to improve the management mechanism, contributing to enhanced lending quality and ensuring the safety and stability of the commercial banking system in the context of integration and digital transformation.

Keywords: State management; loan quality; control; quality; commercial banks; Techcombank.

1. Đặt vấn đề

Hoạt động cho vay là chức năng cốt lõi của ngân hàng thương mại; đồng thời, là kênh cung ứng vốn quan trọng cho nền kinh tế. Chất lượng cho vay không chỉ phản ánh hiệu quả hoạt động của ngân hàng mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến an toàn hệ thống tài chính và ổn định kinh tế vĩ mô. Thực tiễn tại Việt Nam cho thấy, mặc dù khung pháp lý ngày càng hoàn thiện, chất lượng cho vay của các ngân hàng thương mại vẫn chịu nhiều tác động từ cơ chế, chính sách và quá trình thực thi.

Bài viết phân tích vai trò của quản lý nhà nước (QLNN) trong kiểm soát chất lượng cho vay thông qua nghiên cứu trường hợp tại Techcombank, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện cơ chế quản lý trong thời gian tới.

2. Cơ sở lý thuyết

2.1. Chất lượng cho vay của ngân hàng

Từ góc độ ngân hàng thương mại, chất lượng cho vay được hiểu là mức độ đáp ứng các mục tiêu an toàn và sinh lời của hoạt động tín dụng, thể hiện qua khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn, cũng như việc kiểm soát rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng. Theo Nguyễn Văn Tiến (2015)1, chất lượng tín dụng phản ánh mức độ an toàn của các khoản cho vay, khả năng thu hồi vốn và hiệu quả sử dụng vốn của ngân hàng. Quan điểm này nhấn mạnh hai yếu tố cốt lõi là khả năng hoàn trả hiệu quả sử dụng vốn tín dụng. Bổ sung cho cách tiếp cận trên, Nguyễn Thị Mùi (2017)2 cho rằng, chất lượng cho vay không chỉ dừng lại ở khả năng thu hồi nợ mà còn thể hiện ở mức độ phù hợp của hoạt động cho vay với chiến lược kinh doanh và năng lực quản trị rủi ro của ngân hàng. Basel Committee on Banking Supervision (2000)3 nhấn mạnh rằng, chất lượng tín dụng gắn liền với hiệu quả của hệ thống quản lý rủi ro tín dụng, trong đó ngân hàng phải nhận diện, đo lường và kiểm soát rủi ro một cách toàn diện nhằm duy trì danh mục cho vay lành mạnh. Tương tự, Rose (2002)4 cũng cho rằng, chất lượng tín dụng được phản ánh thông qua khả năng sinh lời và mức độ rủi ro của danh mục cho vay, đặc biệt là tỷ lệ nợ xấu và tổn thất tín dụng.

Dưới góc độ QLNN, chất lượng cho vay không chỉ được xem xét ở phạm vi từng ngân hàng mà còn được đánh giá trong mối liên hệ với sự an toàn của hệ thống tài chính và hiệu quả phân bổ nguồn lực trong nền kinh tế. Theo Nguyễn Văn Tiến (2015)5, chất lượng tín dụng ở cấp độ hệ thống phản ánh khả năng duy trì sự ổn định của hoạt động ngân hàng, hạn chế rủi ro lan truyền và bảo đảm an toàn tài chính quốc gia. Quan điểm này cho thấy, chất lượng cho vay là một trong những yếu tố cốt lõi ảnh hưởng đến ổn định kinh tế vĩ mô. Việc kiểm soát chất lượng tín dụng cần gắn với mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ, bảo đảm tăng trưởng tín dụng hợp lý đi đôi với kiểm soát lạm phát và ổn định hệ thống ngân hàng (Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2020)6. Theo International Monetary Fund (IMF, 2019)7 cho rằng, chất lượng tín dụng cần được đánh giá thông qua mức độ lành mạnh của hệ thống tài chính, khả năng chống chịu trước các cú sốc kinh tế và mức độ tích tụ rủi ro hệ thống. Tương tự, Basel Committee on Banking Supervision (2012)8 cũng nhấn mạnh vai trò của cơ quan giám sát trong việc bảo đảm chất lượng tín dụng thông qua các chuẩn mực an toàn và cơ chế giám sát hiệu quả.

Có thể thấy, dưới góc độ QLNN, chất lượng cho vay được hiểu là mức độ an toàn, lành mạnh và hiệu quả của hoạt động tín dụng trong toàn hệ thống ngân hàng, được phản ánh thông qua khả năng kiểm soát rủi ro, hạn chế nợ xấu và bảo đảm sự ổn định tài chính – tiền tệ quốc gia. Qua đó, chất lượng cho vay trở thành đối tượng quan trọng của các chính sách điều tiết và giám sát nhằm hướng tới phát triển bền vững hệ thống ngân hàng và nền kinh tế.

2.2. Vai trò của quản lý nhà nước trong kiểm soát chất lượng cho vay của ngân hàng thương mại

QLNN đóng vai trò định hướng và kiểm soát hoạt động cho vay của các ngân hàng thương mại nhằm bảo đảm an toàn hệ thống tài chính và ổn định kinh tế vĩ mô. Trước hết, Nhà nước thiết lập khung pháp lý về hoạt động tín dụng, bao gồm: các quy định về điều kiện cấp tín dụng, giới hạn cho vay, phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro, qua đó, tạo nền tảng pháp lý để kiểm soát chất lượng cho vay. Theo Nguyễn Văn Tiến (2015)9, các quy định này góp phần chuẩn hóa hoạt động tín dụng và hạn chế rủi ro phát sinh trong hệ thống ngân hàng.      Bên cạnh đó, quản lý nhà nước thực hiện điều hành chính sách tiền tệ nhằm kiểm soát quy mô và định hướng dòng vốn tín dụng trong nền kinh tế. Thông qua các công cụ, như: lãi suất, hạn mức tăng trưởng tín dụng và tỷ lệ dự trữ bắt buộc, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có thể tác động trực tiếp đến hành vi cho vay của các ngân hàng thương mại, từ đó, ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng. Theo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2020)10, việc điều hành chính sách tiền tệ thận trọng và linh hoạt là yếu tố quan trọng trong việc kiểm soát rủi ro tín dụng và duy trì ổn định hệ thống.

Vai trò của QLNN còn thể hiện thông qua hoạt động thanh tra, giám sát nhằm phát hiện sớm và xử lý các rủi ro trong hoạt động cho vay. Basel Committee on Banking Supervision (2012)11 nhấn mạnh rằng, một hệ thống giám sát hiệu quả là điều kiện tiên quyết để bảo đảm chất lượng tín dụng và hạn chế rủi ro hệ thống. Thực tiễn cho thấy, việc tăng cường giám sát giúp nâng cao tính tuân thủ của các ngân hàng và cải thiện chất lượng danh mục cho vay. Ngoài ra, QLNN góp phần định hướng phát triển hệ thống ngân hàng theo chuẩn mực quốc tế, thông qua việc áp dụng các tiêu chuẩn như Basel II, Basel III, từ đó, nâng cao năng lực quản trị rủi ro và chất lượng cho vay của các ngân hàng thương mại. Theo IMF (2019)12, việc tuân thủ các chuẩn mực quốc tế giúp tăng khả năng chống chịu của hệ thống tài chính trước các cú sốc kinh tế.

3. Thực trạng vai trò của quản lý nhà nước trong kiểm soát chất lượng cho vay của Techcombank

3.1. Vai trò định hướng chung đối với hoạt động cho vay

Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 đã thiết lập khuôn khổ pháp lý chặt chẽ nhằm kiểm soát chất lượng cho vay của các ngân hàng thương mại thông qua việc quy định rõ nguyên tắc cấp tín dụng, kiểm soát rủi ro và yêu cầu về quản trị nội bộ. Theo đó, hoạt động cho vay phải bảo đảm khả năng thu hồi nợ, khách hàng có phương án sử dụng vốn khả thi; đồng thời, tổ chức tín dụng phải thực hiện thẩm định, giám sát khoản vay trong suốt vòng đời tín dụng. Bên cạnh đó, Luật quy định giới hạn cấp tín dụng nhằm hạn chế rủi ro tập trung; đồng thời, yêu cầu thực hiện phân loại nợ, trích lập dự phòng và tăng cường hệ thống kiểm soát nội bộ. Các quy định này tạo ra cơ chế kiểm soát chất lượng cho vay theo hướng xuyên suốt từ khâu thẩm định, giải ngân đến giám sát và xử lý rủi ro.

Trong thực tiễn, Techcombank đã cụ thể hóa các yêu cầu pháp lý này thành quy trình tín dụng chặt chẽ và mang tính vận hành cao. Cụ thể, tại khâu thẩm định trước khi cho vay, Ngân hàng áp dụng mô hình đánh giá tín dụng dựa trên dòng tiền, trong đó trọng tâm không chỉ là tài sản bảo đảm mà là khả năng tạo dòng tiền trả nợ của khách hàng. Hồ sơ tín dụng được phân tích thông qua hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ và các mô hình định lượng, phù hợp với yêu cầu của Luật về đánh giá năng lực tài chính và khả năng trả nợ.

Ở giai đoạn giải ngân và kiểm soát sử dụng vốn, Techcombank thực hiện giải ngân có điều kiện, gắn với tiến độ thực hiện phương án kinh doanh hoặc dự án vay vốn. Đồng thời, Ngân hàng tăng cường kiểm soát thông qua việc quản lý dòng tiền trên tài khoản, yêu cầu khách hàng thực hiện giao dịch qua hệ thống ngân hàng để theo dõi mục đích sử dụng vốn. Cách tiếp cận này cho thấy, sự tuân thủ thực chất quy định về sử dụng vốn đúng mục đích; đồng thời, giúp hạn chế tình trạng chuyển hướng dòng vốn sang các lĩnh vực rủi ro. Trong giai đoạn sau cho vay, Techcombank duy trì cơ chế giám sát tín dụng định kỳ và cảnh báo sớm rủi ro thông qua hệ thống quản trị rủi ro tập trung. Các khoản vay được theo dõi theo nhóm rủi ro, kết hợp với các chỉ báo cảnh báo sớm để phát hiện dấu hiệu suy giảm khả năng trả nợ. Điều này phù hợp với yêu cầu của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 về giám sát liên tục và kiểm soát chất lượng tín dụng trong suốt vòng đời khoản vay.

Về mặt kiểm soát rủi ro, Techcombank tuân thủ các quy định về giới hạn cấp tín dụng và phân tán danh mục cho vay. Ngân hàng chủ động điều chỉnh cơ cấu tín dụng theo hướng giảm tập trung vào các lĩnh vực rủi ro cao; đồng thời, mở rộng tín dụng bán lẻ và khách hàng doanh nghiệp có dòng tiền ổn định. Nhờ đó, danh mục tín dụng có mức độ phân tán tốt, hạn chế rủi ro tập trung.    

Bảng 1. Quy mô hoạt động cho vay của Techcombank

Đơn vị tính: Tỷ đồng

Chỉ tiêuNăm 2023Năm 2024Năm 2025
 Giá trịGiá trịTốc độ tăng (%)Giá trịTốc độ tăng (%)
Cho vay các tổ chức kinh tế297.161,1359.408,420,9411.429,514,5
Cho vay cá nhân204.861,3246.405,320,27312.327,926,7
Tổng cộng502.022,4605.813,720,7723.757,419,5
Nguồn: Báo cáo tài chính của Techcombank giai đoạn 2023 – 2025.

Hoạt động cho vay của Techcombank giai đoạn 2023 – 2025 tăng trưởng tích cực và ổn định về quy mô. Điều này phản ánh năng lực mở rộng cho vay hiệu quả trong bối cảnh thị trường biến động. Cho vay cá nhân tăng mạnh do Techcombank hướng đến xây dựng chiến lược ngân hàng bán lẻ, thông qua đẩy mạnh cho vay tiêu dùng, vay mua nhà, mua ô tô… trên cơ sở phát triển ngân hàng số. Đối với cho vay các tổ chức kinh tế, lĩnh vực cho vay chiếm tỷ trọng lớn nhất trong nhóm thuộc về cho vay kinh doanh bất động sản, tiếp theo là lĩnh vực bán buôn và bán lẻ, sửa chữa mô tô, ô tô, xe máy, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đứng thứ 3. Điều này bảo đảm cơ chế phân tán rủi ro trong hoạt động cho vay của Ngân hàng.

Hạn mức tăng trưởng tín dụng hay còn thường được gọi là “room tín dụng” do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phân bổ là công cụ điều tiết quan trọng, tác động trực tiếp đến khả năng mở rộng cho vay của các ngân hàng thương mại. Mặc dù cơ chế “room tín dụng” được áp dụng nhằm kiểm soát lạm phát và bảo đảm an toàn hệ thống, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam vẫn thực hiện điều chỉnh, nới hạn mức đối với các ngân hàng có năng lực tài chính vững mạnh, quản trị rủi ro tốt và chất lượng tài sản ổn định. Trong bối cảnh đó, Techcombank duy trì tăng trưởng tín dụng tích cực nhờ khả năng đáp ứng các tiêu chí an toàn, qua đó, tận dụng hiệu quả hạn mức được cấp để mở rộng cho vay ở cả phân khúc khách hàng doanh nghiệp và cá nhân. Điều này cho thấy, cơ chế phân bổ room tín dụng không chỉ mang tính kiểm soát mà còn là công cụ khuyến khích các ngân hàng nâng cao năng lực quản trị, hướng tới tăng trưởng tín dụng bền vững.

3.2. Vai trò định hướng và kiểm soát nhằm bảo đảm an toàn vốn

Nhằm kiểm soát chất lượng cho vay về mặt an toàn vốn cho các ngân hàng thương mại, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ban hành các thông tư hướng dẫn việc phân loại nợ. Hiện nay, Thông tư số 31/2024/TT-NHNN ngày 30/6/2024 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về phân loại tài sản có trong hoạt động của ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thay thế Thông tư số 11/2021/TT-NHNN đã thiết lập cơ chế phân loại nợ theo phương pháp định lượng, giúp minh bạch hóa chất lượng tín dụng và hạn chế phát sinh nợ xấu, có sự linh hoạt nhưng chặt chẽ trong việc phân loại nợ. Theo đó, nợ được chia thành 5 nhóm, từ nhóm 1 đến nhóm 5, trong đó nợ nhóm 1 – nợ đủ tiêu chuẩn, gồm: nợ trong hạn và có khả năng thu hồi đầy đủ gốc và lãi đúng hạn; nợ quá hạn dưới 10 ngày nhưng vẫn được đánh giá có khả năng thu hồi đầy đủ.

Việc phân loại nợ quá hạn dưới 10 ngày vào nhóm này là điểm mới có lợi cho khách hàng, tránh việc chỉ một sai sót nhỏ cũng khiến lịch sử tín dụng bị ảnh hưởng; nợ xấu là các khoản quá hạn từ 91 ngày trở lên  thuộc nhóm 3 – 5. Gắn với phân loại này, quy định về trích lập dự phòng yêu cầu các tổ chức tín dụng phải trích lập theo tỷ lệ tương ứng: 0% đối với nợ đủ tiêu chuẩn, 5% đối với nợ cần chú ý, 20% đối với nợ dưới tiêu chuẩn, 50% đối với nợ nghi ngờ và 100% đối với nợ có khả năng mất vốn. Cơ chế này tạo ra một ràng buộc tài chính trực tiếp, bởi khi chất lượng tín dụng suy giảm, chi phí dự phòng tăng lên sẽ làm giảm lợi nhuận của ngân hàng. Đối với Techcombank, các khoản nợ của khách hàng được phân loại như sau:

Bảng 2. Phân loại nợ của Techcombank

Chỉ tiêuNăm 2023Năm 2024Năm 2025
Giá trị (Tỷ đồng)Tỷ trọng (%)Giá trị (Tỷ đồng)Tỷ trọng (%)Giá trị (Tỷ đồng)Tỷ trọng (%)
Nợ đủ tiêu chuẩn491.584,397,93594.27298,1711.706,798,34
Nợ cần chú ý4.438,90,88%4.440,90,733.852,30,53
Nợ dưới tiêu chuẩn1.856,80,37%1.365,60,22918,10,13
Nợ nghi ngờ2.762,20,55%2.465,60,411.339,10,18
Nợ có khả năng mất vốn1.380,10,27%3.629,50,54%5.941,20,82
Tổng502.022,4100%605.813,7100%723.757,4100%
Tổng tỷ lệ nợ quá hạn 2,07% 1,9% 1,66%
Tỷ lệ nợ xấu 1,19% 1,17% 1.13%
Nguồn: Báo cáo tài chính của Techcombank giai đoạn 2023 – 2025.

Xét về bảo đảm an toàn vốn, chất lượng cho vay của Techcombank giai đoạn 2023 – 2025 được đánh giá tích cực khi tỷ lệ nợ xấu duy trì ở mức thấp và tiếp tục giảm từ 1,19% xuống 1,13%; đồng thời, tỷ lệ nợ quá hạn cũng giảm từ 2,07% xuống 1,66%, thấp hơn đáng kể so với ngưỡng kiểm soát chung của hệ thống ngân hàng. Tỷ trọng nợ đủ tiêu chuẩn trên 98% cho thấy, danh mục tín dụng có chất lượng cao và khả năng kiểm soát rủi ro tốt. Dù nợ có khả năng mất vốn tăng về quy mô tuyệt đối, điều này chủ yếu do tổng dư nợ tăng nhanh, không làm suy giảm đáng kể mức độ an toàn chung. Về dự phòng rủi ro cho vay khách hàng và hệ số an toàn vốn:

Bảng 3. Dự phòng rủi ro cho vay khách hàng của Techcombank

Chỉ tiêuNăm 2023Năm 2024Năm 2025
Giá trị
(Tỷ đồng)
Giá trị
(Tỷ đồng)
Tốc độ tăng (%)Giá trị
(Tỷ đồng)
Tốc độ tăng (%)
Tổng dự phòng rủi ro cho vay6.127,98.090,732.0310.485,629,6
Sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro cho vay2.667,92.669,60.062.072,8-22.3
Tỷ lệ bao phủ nợ xấu (%)102,1113,8127,9
Nguồn: Báo cáo tài chính của Techcombank giai đoạn 2023 – 2025.

Trong thực tiễn, Techcombank không chỉ tuân thủ các mức trích lập tối thiểu theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam mà còn chủ động duy trì mức dự phòng cao hơn nhằm tăng khả năng chống chịu rủi ro. Cụ thể, Ngân hàng duy trì tỷ lệ bao phủ nợ xấu trên 100% cho thấy, quy mô dự phòng lớn hơn tổng giá trị nợ xấu. Điều này đồng nghĩa với việc ngay cả khi toàn bộ các khoản nợ xấu phát sinh rủi ro, Ngân hàng vẫn có đủ nguồn lực tài chính để bù đắp. Trong khi đó, mức sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro lại giảm đáng kể vào năm 2025, phản ánh áp lực nợ xấu mới được kiểm soát tốt và tỷ lệ bao phủ nợ xấu ở mức cao. Xu hướng này cho thấy, Ngân hàng thực hiện chính sách trích lập thận trọng; đồng thời, chất lượng tài sản bảo đảm đã giúp hạn chế tổn thất thực tế.

Thông tư số 14/2025/TT-NHNN ngày 30/6/2025 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định tỷ lệ an toàn vốn đối với ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài quy định các ngân hàng thương mại phải duy trì tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR) không thấp hơn 8%, được xác định trên cơ sở vốn tự có so với tổng tài sản có rủi ro. Cơ chế này tạo ra mối liên hệ trực tiếp giữa hoạt động cho vay và yêu cầu vốn, qua đó, buộc các ngân hàng phải cân đối giữa mục tiêu tăng trưởng tín dụng và bảo đảm an toàn vốn. Có thể thấy, hệ số an toàn vốn (CAR) của Techcombank duy trì ở mức cao, lần lượt là 14,4%; 15,3% và 14,6% từ năm 2023 – 2025, vượt xa ngưỡng tối thiểu theo chuẩn Basel II, khẳng định nền tảng vốn vững mạnh. Tổng thể, các chỉ tiêu này cho thấy, Techcombank không chỉ tăng trưởng tín dụng mà còn củng cố an toàn vốn và nâng cao chất lượng cho vay một cách bền vững.

Bảng 4. Hệ số an toàn vốn của Techcombank giai đoạn 2023 – 2025

Chỉ tiêuNăm 2023Năm 2024Năm 2025
Hệ số an toàn vốn (CAR) (%)14,415,314,6
Nguồn: Báo cáo tài chính của Techcombank giai đoạn 2023 – 2025.

Thực tiễn tại Techcombank cho thấy, Ngân hàng không chỉ tuân thủ các ngưỡng pháp lý mà còn chủ động nâng cao mức dự phòng và kiểm soát rủi ro theo hướng thận trọng hơn, qua đó, duy trì tỷ lệ nợ xấu ở mức thấp và bảo đảm chất lượng tín dụng một cách bền vững.

3.3. Các công cụ quản lý khác nhằm bảo đảm chất lượng cho vay của ngân hàng

Hoạt động quản lý nhà nước đối với cho vay của ngân hàng thương mại tại Việt Nam hiện nay được định hướng theo nguyên tắc bảo đảm an toàn hệ thống tài chính và kiểm soát rủi ro tín dụng trên cơ sở tiệm cận các chuẩn mực Basel II và Basel III. Thông qua Thông tư số 22/2019/TT-NHNN ngày 15/11/2019 quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và Thông tư số 08/2020/TT-NHNN, Thông tư số 26/2022/TT-NHNN, Thông tư số 09/2024/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 22/2019/TT-NHNN, Nhà nước đã thiết lập hệ thống các chỉ tiêu định lượng mang tính giám sát chặt chẽ đối với hoạt động cấp tín dụng của các tổ chức tín dụng.

Theo quy định hiện hành, tỷ lệ tối đa sử dụng nguồn vốn ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn được khống chế ở mức 30%, góp phần hạn chế rủi ro mất cân đối kỳ hạn và nâng cao năng lực thanh khoản của ngân hàng thương mại. Đối với các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro cao, như: cho vay bất động sản, cơ quan quản lý áp dụng hệ số rủi ro tín dụng cao hơn trong tính toán tài sản có rủi ro, qua đó, định hướng dòng vốn vào các lĩnh vực sản xuất – kinh doanh thiết yếu. Bên cạnh đó, các yêu cầu về tỷ lệ khả năng chi trả, giới hạn cấp tín dụng và quản trị thanh khoản tiếp tục được hoàn thiện theo hướng thận trọng và minh bạch hơn. Ngoài ra, theo quy định về các giới hạn an toàn, tỷ lệ cấp tín dụng so với nguồn vốn huy động với ngân hàng thương mại cổ phần tối đa là 85%. Tại Techcombank, tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn và được thể hiện như sau:

Bảng 5. Hệ số an toàn vốn của Techcombank giai đoạn 2023 – 2025

Chỉ tiêuNăm 2023Năm 2024Năm 2025
Tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn30,5%26,5%24,6%
Tỷ lệ cho vay trên tiền gửi (LDR)77,4%77,1%76,5%
Nguồn: Báo cáo tài chính của Techcombank giai đoạn 2023-2025.

Dựa trên số liệu giai đoạn 2023 – 2025, các chỉ tiêu an toàn thanh khoản của Techcombank đều duy trì trong giới hạn quy định và xu hướng cải thiện tích cực. Cụ thể, tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn giảm liên tục từ 30,5% năm 2023 xuống 24,6% năm 2025. Mặc dù năm 2023, tiệm cận ngưỡng tối đa 30%, song các năm sau đã được điều chỉnh xuống mức an toàn hơn, phản ánh nỗ lực cơ cấu lại nguồn vốn theo hướng bền vững, qua đó, giảm thiểu rủi ro mất cân đối kỳ hạn. Đồng thời, tỷ lệ cho vay trên tiền gửi (LDR) dao động trong khoảng 76,5 – 77,4%, thấp hơn so với mức trần 85% theo quy định đối với ngân hàng thương mại cổ phần. Điều này cho thấy, Ngân hàng duy trì dư địa thanh khoản tương đối lớn, bảo đảm khả năng đáp ứng nhu cầu chi trả và hạn chế áp lực huy động vốn ngắn hạn, bảo đảm tuân thủ các quy định trong kiểm soát chất lượng cho vay của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Ngoài ra, Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010 quy định Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là cơ quan thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia và có quyền sử dụng các công cụ, như: dự trữ bắt buộc, lãi suất điều hành, tái cấp vốn và thanh tra, giám sát để điều tiết hoạt động của hệ thống ngân hàng. Mặc dù Luật không điều chỉnh trực tiếp từng khoản cho vay của ngân hàng thương mại, nhưng thông qua các công cụ này, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có thể tác động đến quy mô, chi phí và mức độ rủi ro của hoạt động tín dụng, từ đó, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cho vay. Đây chính là cơ chế điều tiết vĩ mô mang tính nền tảng đối với hoạt động cấp tín dụng trong nền kinh tế.

Thông tư số 23/2025/TT-NHNN quy định tỷ lệ dự trữ bắt buộc hiện nay là 3% đối với tiền gửi ngắn hạn và 1% đối với tiền gửi trung, dài hạn. Với tiền gửi bằng ngoại tệ, tỷ lệ dự trữ bắt buộc cao hơn, lần lượt 8% và 6% cho kỳ hạn dưới 12 tháng và 12 tháng trở lên. Tỷ lệ dự trữ bắt buộc đã giảm so với trước đó giúp các ngân hàng thương mại giải phóng được một khối lượng vốn lớn ra thị trường. Điều này thể hiện cơ chế điều hành linh hoạt của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, tạo ra nhiều cơ hội kinh doanh cho các ngân hàng thương mại nói chung và Techcombank nói riêng. Bên cạnh đó, công cụ lãi suất điều hành, bao gồm: lãi suất tái cấp vốn 4,5%/năm và lãi suất tái chiết khấu 3,0%/năm có tác động trực tiếp đến chi phí vốn của các ngân hàng thương mại. Khi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam điều chỉnh giảm lãi suất, các ngân hàng có xu hướng mở rộng tín dụng do chi phí vốn giảm.

Bảng 6. Các khoản nợ của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước của Techcombank

Chỉ tiêuNăm 2023Năm 2024Năm 2025
Giá trị (tỷ đồng)Tỷ trọng (%)Giá trị (tỷ đồng)Tỷ trọng (%)Giá trị (tỷ đồng)Tỷ trọng (%)
Các khoản nợ chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam0,1310,0000211,5310,00144.323,8670,44%
Tổng vốn huy động692.537,2806.065,2983.548,3
Nguồn: Báo cáo tài chính của Techcombank giai đoạn 2023 – 2025.

Số liệu của Techcombank cho thấy, có sự gia tăng mạnh khoản nợ Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong năm 2025 có thể được lý giải như một phản ứng hợp lý trước điều kiện vốn rẻ hơn, khi Ngân hàng chủ động tận dụng kênh tái cấp vốn và thị trường mở để tối ưu thanh khoản. Tuy nhiên, do tỷ trọng khoản mục này vẫn ở mức thấp trong tổng vốn huy động, điều này không phản ánh sự phụ thuộc mà chủ yếu cho thấy, vai trò của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam như là nguồn vốn điều tiết linh hoạt đối với các ngân hàng thương mại.

4. Đánh giá chung

Hệ thống các luật, thông tư đã thiết lập khuôn khổ pháp lý trực tiếp điều chỉnh hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng nói chung với các quy định bao quát từ điều kiện cấp tín dụng, nguyên tắc cho vay đến kiểm soát và xử lý khoản vay. Việc quy định rõ các điều kiện vay vốn, phân loại nợ và trích lập dự phòng đã góp phần nâng cao chất lượng cho vay của các ngân hàng thương mại, bảo đảm an toàn hệ thống, duy trì sự ổn định và nâng cao khả năng chống chịu của Ngân hàng trước biến động thị trường. Thêm vào đó, việc QLNN đối với hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại giúp định hướng dòng vốn vào các lĩnh vực ưu tiên và khuyến khích nâng cao năng lực quản trị. Thông qua cơ chế phân bổ hạn mức tăng trưởng tín dụng và hệ số rủi ro đối với từng lĩnh vực, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có thể điều tiết dòng vốn theo định hướng phát triển kinh tế vĩ mô.

Ngoài ra, hoạt động QLNN còn nhằm nâng cao tính linh hoạt trong điều tiết thanh khoản và hỗ trợ tăng trưởng tín dụng thông qua các công cụ, như: lãi suất điều hành, tái cấp vốn và dự trữ bắt buộc cho phép Ngân hàng Nhà nước Việt Nam can thiệp kịp thời vào thị trường tiền tệ. Điều này giúp các ngân hàng thương mại chủ động cân đối nguồn vốn, tối ưu chi phí huy động và tạo điều kiện thuận lợi cho việc mở rộng tín dụng an toàn, hiệu quả.

Tuy nhiên, QLNN đến chất lượng cho vay của Techcombank còn một số hạn chế:

Thứ nhất, việc kiểm soát chất lượng cho vay của các ngân hàng thương mại thông qua phân bổ hạn mức tín dụng có tác dụng giúp điều tiết mức tăng trưởng của thị trường nhưng lại giảm mức độ linh hoạt của các ngân hàng trong việc điều chỉnh quy mô cho vay theo tín hiệu thị trường, giảm tính chủ động trong điều hành tín dụng của ngân hàng thương mại. Thông thường, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam sẽ xem xét tăng mức giới hạn tín dụng tùy thuộc vào từng ngân hàng. Tuy vậy, trong một số trường hợp, Techcombank phải điều chỉnh cơ cấu tín dụng hoặc hạn chế cấp thêm vốn cho khách hàng do Ngân hàng đã đạt đến giới hạn tăng trưởng tín dụng, từ đó, có thể ảnh hưởng đến hiệu quả phân bổ vốn và cơ hội kinh doanh.

Thứ hai, việc kiểm soát mục đích sử dụng vốn vay vẫn gặp nhiều khó khăn trong thực tiễn. Mặc dù pháp luật yêu cầu ngân hàng giám sát chặt chẽ việc sử dụng vốn, song do đặc thù dòng tiền phức tạp của khách hàng, việc theo dõi sau giải ngân chưa thể thực hiện triệt để. Tại Techcombank, dù đã áp dụng kiểm soát dòng tiền qua tài khoản và số hóa quy trình tín dụng, rủi ro sử dụng vốn sai mục đích vẫn chưa thể được loại trừ hoàn toàn. Điều này cho thấy, mặc dù khung pháp lý đặt ra yêu cầu chung, chất lượng cho vay trên thực tế vẫn phụ thuộc vào hệ thống quản trị rủi ro và năng lực thẩm định nội bộ của từng ngân hàng.

Thứ ba, việc tuân thủ các quy định về phân loại nợ, trích lập dự phòng và duy trì các tỷ lệ an toàn làm gia tăng áp lực quản trị nội bộ đối với ngân hàng. Bên cạnh đó, các tiêu chí phân loại nợ hiện hành mang tính chuẩn hóa cao nhưng chưa phản ánh đầy đủ mức độ rủi ro thực tế của từng khoản vay. Do đó, Techcombank vẫn phải kết hợp các công cụ đánh giá nội bộ, do vậy, khung pháp lý cần tiếp tục hoàn thiện theo hướng dựa trên dữ liệu và mô hình rủi ro hiện đại.

Thứ tư, việc áp dụng các giới hạn và chỉ tiêu giám sát chung cho toàn hệ thống đôi khi chưa phản ánh đầy đủ sự khác biệt về năng lực tài chính, mức độ an toàn vốn và khả năng quản trị rủi ro giữa các tổ chức tín dụng khác nhau.

Thứ năm, cơ chế thanh tra, giám sát mặc dù đã được tăng cường nhưng vẫn mang tính phản ứng hơn là dự báo. Trong khi Techcombank đã triển khai hệ thống cảnh báo sớm rủi ro tín dụng, thì hoạt động giám sát từ phía cơ quan quản lý vẫn chủ yếu dựa trên báo cáo định kỳ, chưa khai thác đầy đủ dữ liệu thời gian thực để phát hiện sớm rủi ro.

5. Một số giải pháp

Một là, hoàn thiện cơ chế phân bổ hạn mức tín dụng theo hướng linh hoạt và dựa trên dữ liệu số. Cơ chế cấp room tín dụng cần được nâng cấp theo hướng số hóa cập nhật thường xuyên hơn trên cơ sở dữ liệu giám sát liên tục về chất lượng tài sản, thanh khoản và năng lực quản trị rủi ro của từng tổ chức tín dụng, qua đó, tăng tính chủ động cho ngân hàng nhưng vẫn bảo đảm mục tiêu kiểm soát hệ thống.

Hai là, phát triển hạ tầng dữ liệu liên thông phục vụ giám sát dòng tiền sau giải ngân. Việc kết nối đồng bộ dữ liệu giữa hệ thống ngân hàng, cơ quan thuế và nền tảng thanh toán quốc gia cần được đẩy mạnh nhằm hình thành cơ chế giám sát dòng tiền số theo thời gian thực. Đồng thời, cần mở rộng ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong phát hiện giao dịch bất thường để nâng cao hiệu quả kiểm soát mục đích sử dụng vốn vay sau giải ngân.

Ba là, đổi mới phương pháp phân loại nợ theo hướng dự báo rủi ro. Khung phân loại nợ cần được điều chỉnh theo hướng tích hợp các chỉ báo cảnh báo sớm và mô hình xác suất suy giảm tín dụng, từng bước giảm sự phụ thuộc vào tiêu chí quá hạn. Điều này sẽ giúp phản ánh sát hơn chất lượng tín dụng thực chất và tiệm cận các chuẩn mực quản trị quốc tế.

Bốn là, chuẩn hóa cơ chế giám sát phân tầng đối với các tổ chức tín dụng.
Cần xây dựng bộ tiêu chí đánh giá rủi ro thống nhất, làm cơ sở áp dụng mức độ giám sát phù hợp với năng lực tài chính, mức độ tuân thủ và hiệu quả quản trị của từng ngân hàng. Cách tiếp cận này sẽ góp phần tối ưu hóa nguồn lực giám sát và tạo động lực nâng cao năng lực quản trị nội tại của từng ngân hàng.

Năm là, hiện đại hóa hoạt động thanh tra, giám sát trên nền tảng công nghệ số. Cần đẩy nhanh việc hình thành hệ thống giám sát tập trung tích hợp dữ liệu lớn và AI nhằm nâng cao khả năng cảnh báo sớm, tăng tính dự báo và rút ngắn độ trễ trong phản ứng chính sách trước các rủi ro tín dụng phát sinh trong hệ thống ngân hàng.

Chú thích:
1, 5, 9. Nguyễn Văn Tiến (2015). Quản trị ngân hàng thương mại. H. NXB Thống kê.
2. Nguyễn Thị Mùi (2017). Nghiệp vụ ngân hàng thương mại. H. NXB Tài chính.
3. Basel Committee on Banking Supervision (2000). Principles for the Management of Credit Risk.
4. Peter S. Rose (2002). Commercial Bank Management. McGraw-Hill.
6, 10. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2020). Báo cáo thường niên.
7, 12. International Monetary Fund (2019). Global Financial Stability Report.
8, 11. Basel Committee on Banking Supervision (2012). Core Principles for Effective Banking Supervision.
Tài liệu tham khảo:
1. Ngân hàng Thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam. Báo cáo tài chính các năm 2023, 2024, 2025.
2. Techcombank. Báo cáo thường niên các năm 2023, 2024, 2025.
3. Rủi ro pháp lý trong cấp tín dụng đối với khách hàng cá nhân thông qua thế chấp quyền sử dụng đất tại ngân hàng thương mại Việt Nam. https://www.quanlynhanuoc.vn/2026/03/09/rui-ro-phap-ly-trong-cap-tin-dung-doi-voi-khach-hang-ca-nhan-thong-qua-the-chap-quyen-su-dung-dat-tai-ngan-hang-thuong-mai-viet-nam/
4. Mô hình ba tuyến phòng thủ trong quản trị rủi ro tại các ngân hàng thương mại ở Việt Nam hiện nay. https://www.quanlynhanuoc.vn/2025/12/11/mo-hinh-ba-tuyen-phong-thu-trong-quan-tri-rui-ro-tai-cac-ngan-hang-thuong-mai-o-viet-nam-hien-nay/