Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng: quan điểm và định hướng chiến lược

Developing high – quality human resources in the documents of the 14th National Congress of the Communist Party of Vietnam: perspectives and strategic orientations

TS. Đỗ Thị Thu Hương
Trường Đại học Hùng Vương

(Quanlynhanuoc.vn) – Trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 với sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo (AI), kinh tế số và công nghệ chiến lược, nguồn nhân lực chất lượng cao đã trở thành nhân tố quyết định vị thế cạnh tranh quốc gia. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đã xác lập hệ thống quan điểm mới mang tính đột phá: lấy con người làm trung tâm và mục tiêu phát triển; đồng thời, nâng tầm nhân lực chất lượng cao thành một trong ba đột phá chiến lược quốc gia. Bài viết phân tích các quan điểm chủ đạo, nội hàm mới về nhân lực chất lượng cao và hệ thống định hướng chiến lược được xác lập trong Văn kiện Đại hội XIV, nhằm cung cấp luận cứ khoa học phục vụ hoạch định chính sách phát triển nguồn nhân lực trong kỷ nguyên mới.

Từ khóa: Nguồn nhân lực chất lượng cao; Đại hội XIV; đột phá chiến lược; phát triển.

Abstract: In the context of the Fourth Industrial Revolution (Industry 4.0), characterized by the rapid expansion of artificial intelligence (AI), the digital economy, and strategic technologies, high-quality human resources have become a decisive factor in national competitiveness. The documents of the 14th National Congress of the Communist Party of Vietnam established a new system of breakthrough perspectives, placing people at the center and as the ultimate goal of development, while elevating high-quality human resources to one of the country’s three strategic breakthroughs. This article analyzes the key viewpoints, the new conceptualization of high-quality human resources, and the strategic orientations set forth in the documents of the 14th National Congress, with the aim of providing a scientific basis for formulating human resource development policies in the new era.

Keywords: High-quality human resources; 14th National Congress; strategic breakthrough; development.

1. Đặt vấn đề

Trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, khi mô hình tăng trưởng dựa trên lao động giá rẻ và tài nguyên thiên nhiên đã đạt tới giới hạn, “vốn con người” – bao hàm trí tuệ, kỹ năng và năng lực đổi mới sáng tạo – nổi lên như nhân tố cốt lõi quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia. Đối với Việt Nam, trong giai đoạn phát triển mới, yêu cầu xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao đã được nâng lên tầm chiến lược phát triển quốc gia, không còn chỉ là vấn đề kỹ thuật hay giáo dục đơn thuần.

Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đã kế thừa và nâng tầm tư duy chiến lược về nhân lực, đặt nội dung này ở vị trí trung tâm, ngang hàng với hoàn thiện thể chế và phát triển hạ tầng. Điểm mới nổi bật là sự cụ thể hóa nội hàm nhân lực chất lượng cao gắn liền với khả năng làm chủ các ngành công nghệ mũi nhọn, như: chip bán dẫn, AI và kinh tế dữ liệu. Quan điểm chỉ đạo cốt lõi của Đảng là: “đột phá về nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao gắn với khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo”1.

Bài viết phân tích sâu các quan điểm chủ đạo, nội hàm mới và hệ thống định hướng chiến lược trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, từ đó, cung cấp luận cứ khoa học phục vụ hoạch định chính sách và thúc đẩy công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong bối cảnh mới.

2. Quan điểm của Đảng về nguồn nhân lực chất lượng cao trong Văn kiện Đại hội XIV

Một là, con người là trung tâm, chủ thể và mục tiêu của sự phát triển.

Trong hệ thống tư duy chiến lược tại Đại hội XIV, Đảng tiếp tục khẳng định và nâng tầm quan điểm lấy con người là trung tâm, chủ thể, nguồn lực quan trọng nhất và là mục tiêu của sự phát triển. Đây không chỉ là sự kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh mà còn là bước phát triển lý luận phù hợp với yêu cầu xây dựng lực lượng sản xuất mới trong kỷ nguyên số.

Coi con người là trung tâm nghĩa là mọi đường lối, chính sách đều phải xoay quanh việc phục vụ và nâng cao đời sống Nhân dân – sự phát triển không đo lường đơn thuần bằng GDP mà phải quy về hạnh phúc và sự tiến bộ của mỗi cá nhân. Với tư cách là chủ thể, con người được xác định là lực lượng sáng tạo nòng cốt, đóng góp ý chí và sáng kiến để làm chủ công nghệ và dẫn dắt công cuộc đổi mới. Đặc biệt, trong bối cảnh kinh tế tri thức, con người được nhìn nhận là nguồn lực quan trọng nhất – lợi thế cạnh tranh cốt lõi giúp quốc gia thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình. Cuối cùng, con người là mục tiêu của phát triển; mọi thành quả kinh tế – xã hội phải hướng tới xây dựng xã hội dân giàu, nước mạnh, công bằng, văn minh.

Để biến quan điểm này thành động lực thực tiễn, Văn kiện Đại hội XIV của Đảng xác định đột phá chiến lược: “Tập trung chuyển đổi cơ cấu và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, trình độ cao; đẩy mạnh thu hút và trọng dụng nhân tài; khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung”2.

Hai là, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, trình độ cao.

Trong hệ thống ba đột phá chiến lược của nhiệm kỳ XIV, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao được xác định là nhân tố quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia, là chủ thể vận hành thể chế hiện đại và khai thác hiệu quả hệ thống hạ tầng chiến lược. Nếu không có đội ngũ nhân tài đủ tầm, mọi nguồn lực vật chất khác đều không thể phát huy tối đa giá trị. Điểm đột phá căn bản trong nhiệm kỳ này là sự chuyển dịch tư duy từ phát triển nhân lực theo số lượng sang chất lượng thực chất và hiệu quả cao. Nhân lực chất lượng cao trong giai đoạn mới không chỉ dừng lại ở bằng cấp hàn lâm mà phải là đội ngũ có khả năng thích ứng nhanh, làm chủ các công nghệ lõi và dẫn dắt các ngành công nghiệp mũi nhọn như chip bán dẫn, AI và kinh tế số.

Ba là, gắn kết nhân lực với khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Tại Đại hội XIV của Đảng nêu rõ nguồn nhân lực chất lượng cao đóng vai trò chủ thể nòng cốt để vận hành và hiện thực hóa các giá trị trí tuệ. Điểm mới nổi bật là quan điểm nhân lực không chỉ đứng ở vị trí thụ hưởng hay sử dụng công nghệ mà phải vươn lên làm chủ công nghệ lõi và dẫn dắt các ngành công nghiệp chiến lược. Đảng định hướng xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia, nơi nhà trường và viện nghiên cứu gắn kết hữu cơ với thực tiễn sản xuất của doanh nghiệp. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng chỉ rõ nhiệm vụ: “phát triển hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia; hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo, trong đó doanh nghiệp là trung tâm, viện nghiên cứu và trường đại học là chủ thể nghiên cứu mạnh, Nhà nước đóng vai trò kiến tạo”4. Sự gắn kết này tạo điều kiện để tri thức được chuyển hóa thành giá trị kinh tế thực chất, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Bốn là, phát triển toàn diện về trí tuệ, đạo đức, thể chất và văn hóa.

Đại hội XIV của Đảng đặc biệt xác định: “Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện về trí tuệ, đạo đức, thể chất, thẩm mỹ, năng lực sáng tạo, kỹ năng sống, kỹ năng nghề nghiệp, ý thức công dân, tuân thủ pháp luật, gắn với gìn giữ, phát huy hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hoá, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam”5. Trong đó, về trí tuệ, Đảng định hướng chuyển mạnh từ giáo dục hàn lâm sang đào tạo hướng năng lực, tập trung bồi dưỡng tư duy phản biện, kỹ năng số và khả năng nghiên cứu các công nghệ cốt lõi; về đạo đức, nhân lực phải thấm nhuần lý tưởng cách mạng, tinh thần yêu nước và đạo đức nghề nghiệp liêm chính; thể chất tốt là điều kiện để duy trì năng suất lao động và cống hiến lâu dài, trong khi văn hóa đóng vai trò định hướng giá trị giúp mỗi cá nhân giữ vững bản sắc dân tộc trong hội nhập quốc tế.

Năm là, bảo đảm tính công bằng, bao trùm và phân bổ nhân lực hợp lý.

Đảng xác định phát triển nguồn nhân lực không chỉ tập trung vào tầng lớp tinh hoa hay các đô thị lớn mà phải bảo đảm tính công bằng, bao trùm và phân bổ hợp lý theo vùng miền và ngành nghề. Mọi người dân không phân biệt địa vị xã hội hay địa lý đều có quyền bình đẳng trong tiếp cận cơ hội giáo dục, đào tạo chất lượng cao, đảm bảo “không ai bị bỏ lại phía sau” trong tiến trình vươn mình của dân tộc.

Văn kiện Đại hội XIV của Đảng xác định nhiệm vụ: “Chính sách xã hội phải hướng tới bao trùm, công bằng, hiệu quả, bền vững; bảo đảm an sinh xã hội; đột phá phát triển giáo dục và đào tạo; phát triển y tế, chú trọng chăm sóc sức khỏe của Nhân dân; giảm nghèo bền vững; nâng cao chất lượng đời sống”6. Việc thực hiện đồng bộ quan điểm này sẽ kiến tạo một xã hội hài hòa, nơi tăng trưởng kinh tế gắn kết chặt chẽ với công bằng xã hội là nền tảng để củng cố niềm tin của Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng.

3. Phát triển nhân lực chất lượng cao trong chuyển đổi số

Thứ nhất, đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chiến lược.

Trong hệ thống chính trị, đội ngũ cán bộ cấp chiến lược được xác định là lực lượng dẫn dắt, quyết định sự thành bại của công cuộc đổi mới. Nội hàm mới yêu cầu nhóm này không chỉ có bản lĩnh chính trị vững vàng mà phải sở hữu tầm nhìn quản trị quốc gia hiện đại, có khả năng thích ứng với môi trường quốc tế đầy biến động và tinh thần dấn thân vì lợi ích chung. Đại hội XIV của Đảng xác định xây dựng đội ngũ cán bộ này là nhiệm vụ trọng tâm để bảo đảm hệ thống vận hành thông suốt và hiệu quả. Điểm đột phá chính là cơ chế bảo vệ những người dám nghĩ, dám làm để tháo gỡ các “điểm nghẽn” thể chế. Đảng khẳng định: “Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp của hệ thống chính trị, nhất là cán bộ cấp chiến lược và cấp cơ sở thật sự tiêu biểu, có tư duy, năng lực quản trị tiên tiến, phù hợp với mô hình tổ chức mới và yêu cầu phát triển bứt phá của đất nước”7. Hiệu quả phục vụ Nhân dân và đóng góp vào sự phát triển của quốc gia là thước đo năng lực lãnh đạo của đội ngũ cán bộ cấp chiến lược trong giai đoạn mới.

Thứ hai, đội ngũ trí thức, chuyên gia và công nhân kỹ thuật cao.

Bước vào kỷ nguyên số và chuyển đổi xanh, Việt Nam cần một lực lượng lao động đủ năng lực tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Nội hàm mới tập trung dồn lực vào những ngành “mũi nhọn của mũi nhọn” như chip bán dẫn, AI, kinh tế dữ liệu và năng lượng mới. Đây không còn là viễn cảnh mà là yêu cầu cấp bách để thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình.

Đảng xác định phải đào tạo đội ngũ này theo các tiêu chuẩn khắt khe nhất của thế giới để có thể làm chủ công nghệ lõi, thay vì chỉ dừng lại ở lắp ráp hay gia công. Văn kiện nhấn mạnh: “Có cơ chế, chính sách đặc biệt để phát hiện, thu hút, đào tạo, bồi dưỡng, trọng dụng nhân tài; chú trọng thu hút các nhà khoa học giỏi, chuyên gia đầu ngành trong và ngoài nước, nhất là các ngành khoa học cơ bản và các lĩnh vực đặc biệt quan trọng”8. Sự kết hợp giữa trí thức tinh hoa và công nhân kỹ thuật lành nghề sẽ tạo ra một lực lượng sản xuất mới hiện đại, giúp Việt Nam tự chủ về công nghệ và tăng cường năng lực tự chủ chiến lược của nền kinh tế.

Thứ ba, nhân lực đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp.

Đây là lực lượng nghiên cứu tại các viện, trường và các trí thức trẻ trong hệ sinh thái khởi nghiệp, giữ vai trò biến tri thức thành các sản phẩm thương mại hóa có giá trị gia tăng cao, giúp Việt Nam “đi tắt, đón đầu” và không bị bỏ lại phía sau trong cuộc đua công nghệ toàn cầu. Để khơi thông sức sáng tạo này, Đảng yêu cầu xây dựng một hệ sinh thái đồng bộ, gắn kết chặt chẽ giữa đào tạo và thực tiễn sản xuất. Đảng định hướng: “Phát triển hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia, hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo, trong đó doanh nghiệp là trung tâm, viện nghiên cứu và trường đại học là chủ thể nghiên cứu mạnh, Nhà nước đóng vai trò kiến tạo phát triển”9.

Sự hình thành mạng lưới trung tâm đổi mới sáng tạo gắn với các chương trình đào tạo nhân lực số sẽ tạo nền tảng thể chế để chuyển hóa tri thức thành năng suất kinh tế, qua đó, nâng cao vị thế cạnh tranh quốc gia trong chuỗi giá trị toàn cầu. Như vậy, nội hàm mới về nhân lực chất lượng cao tại Đại hội XIV của Đảng thể hiện bước phát triển tư duy chiến lược quan trọng, lấy con người là trung tâm và là mục tiêu của mọi chính sách phát triển. Ba trụ cột – cán bộ lãnh đạo chiến lược, đội ngũ trí thức và chuyên gia kỹ thuật cao, lực lượng đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp – không tồn tại độc lập mà tích hợp thành một chiến lược phát triển nhân lực thống nhất, đồng bộ phục vụ mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

4. Định hướng chiến lược phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao

Một là, hoàn thiện đồng bộ thể chế – “đột phá của đột phá”.

Tại Đại hội XIV, Đảng xác định hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển là “đột phá của đột phá”, bởi thể chế được nhận diện vừa là “điểm nghẽn của điểm nghẽn” nhưng đồng thời cũng là động lực mạnh mẽ nhất “để khơi thông, giải phóng và phát huy mọi nguồn lực”10. Ưu tiên hàng đầu trong giai đoạn này là xây dựng hành lang pháp lý vượt trội nhằm tháo gỡ các nút thắt trong việc phát hiện, thu hút và sử dụng nhân tài; đồng thời, tạo môi trường thể chế thuận lợi để giải phóng và phát huy năng lực sáng tạo của con người.

Về cơ chế phát hiện và tuyển chọn, Đảng yêu cầu: “Đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ, bảo đảm khách quan, dân chủ, thực chất, hiệu quả, nhất là công tác thẩm định, đánh giá cán bộ theo đúng chủ trương “có vào, có ra”, “có lên, có xuống”11 và “…đánh giá cán bộ thường xuyên, liên tục, đa chiều, theo kết quả, sản phẩm cụ thể”12. Đặc biệt, phải “thực hiện nghiêm kết luận của Bộ Chính trị về một số giải pháp đột phá trong tuyển dụng bố trí sử dụng đãi ngộ cán bộ”13.  Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để xây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến lược có tư duy quản trị tiên tiến, phù hợp với yêu cầu phát triển bứt phá của đất nước.

Về chính sách đãi ngộ, Văn kiện Đại hội XIV của Đảng khẳng định, cần ban hành các quy định đặc thù về tiền lương, nhà ở và điều kiện làm việc vượt trội, đặc biệt chú trọng đến các nhà khoa học giỏi và chuyên gia đầu ngành. Đi kèm với đó là việc trao quyền tự chủ tối đa trong nghiên cứu và bảo hộ nghiêm ngặt quyền sở hữu trí tuệ để các trí thức tinh hoa an tâm sáng tạo công nghệ lõi. Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh yêu cầu “thu hút, trọng dụng nhân tài” và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, tạo cơ sở để hoàn thiện các cơ chế huy động, sử dụng và phát huy nguồn nhân lực trong cả khu vực công và khu vực tư. Đảng chủ trương vận hành hiệu quả các đề án như Đề án đào tạo nguồn nhân lực phục vụ phát triển công nghệ cao giai đoạn 2025 – 2035, định hướng đến 2045 (Quyết định số 1002/QĐ-TTg ngày 24/5/2025 của Thủ tướng Chính phủ). Đây là một trong những văn bản chính thức và quan trọng nhất liên quan đến đào tạo nhân lực công nghệ cao. Quy định này tạo cơ sở pháp lý để xây dựng văn hóa đổi mới sáng tạo trong bộ máy công vụ, khuyến khích cán bộ chủ động, năng động trong triển khai nhiệm vụ.

Hai là, đổi mới căn bản giáo dục và đào tạo theo chuẩn quốc tế.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng xác lập một tư duy mới: “giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là tương lai của dân tộc, là động lực then chốt để phát triển đất nước, là yếu tố mang tính quyết định để nâng cao năng lực nội sinh quốc gia, là “đột phá chiến lược” để phát triển nhanh và bền vững đất nước”14. Việc thực hiện nhiệm vụ này tập trung vào bốn nội dung hạt nhân sau:

(1) Chuyển mạnh từ giáo dục truyền thống sang phát triển toàn diện năng lực. Đảng yêu cầu đoạn tuyệt với tư duy trang bị kiến thức đơn thuần để chuyển sang: “phát triển toàn diện năng lực, thể lực và phẩm chất người học, chuẩn hoá chất lượng và kiểm soát chặt chẽ đầu ra”15. Định hướng này nhằm gắn kết chặt chẽ giữa học lý thuyết với thực tiễn, giúp người học sớm hình thành tư duy phản biện và khả năng thích ứng linh hoạt với thị trường lao động biến động.

(2) Chuẩn hóa quốc tế về ngôn ngữ và kỹ năng số. Đây là giải pháp đột phá để hình thành thế hệ “công dân toàn cầu”. Đại hội XIV của Đảng đưa ra chủ trương mang tính bước ngoặt: từng bước đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học và xác lập lộ trình: “Đưa giáo dục kỹ năng số, trí tuệ nhân tạo vào hệ thống giáo dục quốc dân ngay từ chương trình giáo dục mầm non”16.

(3) Hiện đại hóa giáo dục đại học ngang tầm khu vực, từ đó để tạo ra đội ngũ chuyên gia làm chủ công nghệ lõi, trong đó Đảng định hướng: “phát triển một số cơ sở giáo dục đại học định hướng nghiên cứu trở thành các trung tâm khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia ngang tầm các nước tiên tiến”17. Đây sẽ là “cỗ máy cái” đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho các ngành công nghiệp, công nghệ chiến lược như chip bán dẫn và AI.

(4) Thiết lập mô hình đồng hành Nhà nước – Nhà trường – Doanh nghiệp. Đồng thời, yêu cầu nâng cao năng lực hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia, cơ cấu lại các chương trình nghiên cứu khoa học và công nghệ theo hướng lấy doanh nghiệp làm trung tâm, đồng thời, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ các ngành công nghệ chiến lược như AI và chip bán dẫn. Sự gắn kết này là yếu tố quyết định để xoá bỏ tình trạng lãng phí nguồn lực xã hội và đưa tri thức đi thẳng vào sản xuất. Việc thực hiện quyết liệt bốn định hướng này sẽ xây dựng nên một nền giáo dục quốc dân hiện đại, công bằng, theo đúng phương châm: “chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế” mà Đại hội XIV của Đảng đã đề ra.

Ba là, ưu tiên phát triển nhân lực cho các ngành công nghệ và công nghiệp chiến lược

Trong hệ thống tư duy chiến lược tại Đại hội XIV, việc tăng cường nhân lực cho các ngành công nghệ và công nghiệp chiến lược được xác định là nhiệm vụ trọng tâm để tạo ra lực lượng sản xuất mới hiện đại, giúp đất nước bứt phá trong kỷ nguyên mới. Trọng tâm ưu tiên được đặt vào các lĩnh vực then chốt, các ngành công nghiệp chip bán dẫn, công nghiệp rôbốt và tự động hóa, AI, vật liệu tiên tiến, công nghiệp sinh học, công nghiệp môi trường, năng lượng tái tạo, năng lượng mới, công nghiệp không gian vũ trụ, công nghiệp lượng tử. Đảng định hướng không chỉ đào tạo nhân lực để vận hành mà phải hướng tới đội ngũ đủ trình độ nghiên cứu khoa học cơ bản để làm chủ công nghệ lõi; đồng thời, yêu cầu: “Chú trọng nghiên cứu cơ bản, gắn với định hướng ứng dụng, làm chủ về công nghệ, khẳng định chủ quyền ở những lĩnh vực then chốt mà Việt Nam có nhu cầu, tiềm năng và lợi thế”18. Theo đó, tập trung đào tạo nhân lực chất lượng cao theo chuẩn quốc tế, nhất là các ngành khoa học cơ bản và các lĩnh vực đặc biệt quan trọng.

Một trong những nhiệm vụ cụ thể, mang tính đột phá được xác lập trong Quyết định số 1017/QĐ-TTg ngày 21/9/2024 phê duyệt Chương trình phát triển nguồn nhân lực ngành công nghiệp bán dẫn đến năm 2030, định hướng đến năm 2050 với mục tiêu đào tạo ít nhất 50.000 nhân sự trình độ đại học trở lên cho ngành công nghiệp bán dẫn đến năm 2030, gồm khoảng 42.000 kỹ sư, 7.500 thạc sỹ và 500 tiến sỹ. Việc xác định các mục tiêu định lượng cụ thể này cho thấy, quyết tâm chính trị cao nhất của Đảng và Nhà nước trong việc chuẩn bị một lực lượng lao động tinh hoa, sẵn sàng đưa Việt Nam tham gia sòng phẳng vào chuỗi giá trị toàn cầu và thực hiện thắng lợi mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Bốn là, xây dựng cơ chế vượt trội thu hút, trọng dụng nhân tài và chất xám quốc tế

Trong tư duy chiến lược tại Đại hội XIV của Đảng, nhân tài tiếp tục được khẳng định là “nguyên khí quốc gia”, là yếu tố hạt nhân quyết định sự thành bại của công cuộc đổi mới. Đảng xác định cần thực hiện một bước chuyển từ các chính sách hỗ trợ đơn thuần sang thiết lập các “cơ chế, chính sách đặc biệt” mang tính bứt phá và cạnh tranh quốc tế.

Về cơ chế phát hiện và tuyển chọn, nhiệm vụ cốt lõi là thể chế hóa quy trình phát hiện, bồi dưỡng và sử dụng nhân tài dựa trên năng lực và kết quả thực tế thay vì bằng cấp đơn thuần. Đảng yêu cầu đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ theo hướng thực chất, thực hiện phương châm: “đánh giá cán bộ bằng sản phẩm, bằng hiệu quả, bằng uy tín trong Nhân dân”. Nhà nước chủ trương xây dựng cơ chế đãi ngộ vượt trội đối với các nhà khoa học, chuyên gia đầu ngành và nhân tài trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, bao gồm chính sách tiền lương, tiền thưởng và điều kiện làm việc đặc thù nhằm khuyến khích sáng tạo và cống hiến lâu dài. Đi đôi với đó là việc tạo dựng môi trường làm việc liêm chính, quyền tự chủ tối đa trong nghiên cứu và bảo hộ nghiêm ngặt quyền sở hữu trí tuệ.

Điểm đột phá mới là chiến lược thu hút “chất xám quốc tế”. Đảng chủ trương huy động tối đa nguồn lực trí tuệ toàn cầu, đặc biệt là cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài tham gia đóng góp cho sự nghiệp phát triển đất nước. Điều này gắn liền với nhiệm vụ phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia; gắn kết chặt giữa đào tạo, nghiên cứu và sản xuất; phát huy vai trò doanh nghiệp trong đào tạo nhân lực. Để kiến tạo một hệ sinh thái sáng tạo bền vững, Đảng cam kết phá bỏ các “điểm nghẽn” về thủ tục và thực hiện nhất quán chủ trương: “khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung”19. Cơ chế bảo vệ này có ý nghĩa thực tiễn quan trọng trong việc xây dựng môi trường làm việc khuyến khích sáng tạo, tạo điều kiện để đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học yên tâm nghiên cứu và đề xuất giải pháp công nghệ trong các lĩnh vực chiến lược.

Năm là, gắn kết phát triển nhân lực với xây dựng văn hóa và con người Việt Nam.

Đảng xác định rõ: xây dựng, phát triển văn hoá, con người là nền tảng, nguồn lực nội sinh, động lực quan trọng cho sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước.

Về phát triển toàn diện, Đảng định hướng xây dựng con người Việt Nam thời đại mới hài hòa giữa “Đức – Trí – Thể – Mỹ”, không chỉ có trình độ chuyên môn vượt trội mà còn sở hữu đầy đủ các phẩm chất công dân. Đồng thời, Văn kiện yêu cầu: “…gắn với gìn giữ, phát huy hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hoá, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam”20. Đây chính là nội hàm cốt lõi của nguồn nhân lực chất lượng cao, nơi tài năng phải đi đôi với bản sắc văn hóa dân tộc.

Về vị thế của văn hóa, Đại hội XIV của Đảng yêu cầu: “ “văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội”21. Văn hóa không đứng bên ngoài mà cần thấm sâu vào quá trình đào tạo và sử dụng nhân lực, trở thành yếu tố định hướng giá trị, góp phần bảo đảm sự phát triển bền vững và liêm chính nghề nghiệp trong môi trường số hóa. Theo đó, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong bối cảnh hiện nay không chỉ chú trọng năng lực kỹ thuật mà còn yêu cầu cao về phẩm chất liêm chính, trách nhiệm xã hội và tinh thần phục vụ Nhân dân – những phẩm chất nền tảng của đạo đức công vụ trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Sáu là, bảo đảm phát triển nhân lực công bằng, bao trùm và phân bổ hợp lý theo vùng miền

Đại hội XIV của Đảng xác lập quan điểm phát triển nguồn nhân lực không chỉ tập trung vào các cực tăng trưởng mà phải hướng tới sự bao trùm và công bằng xã hội, coi đây là nền tảng để xây dựng “thế trận lòng dân” và khơi thông sức sáng tạo của toàn dân tộc. Đảng định hướng ưu tiên đầu tư phát triển nguồn nhân lực ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và biên giới. Văn kiện nêu rõ: “Chính sách xã hội phải hướng tới bao trùm, công bằng, hiệu quả, bền vững… đột phá phát triển giáo dục và đào tạo; phát triển y tế, chú trọng chăm sóc sức khoẻ của Nhân dân; giảm nghèo bền vững; nâng cao chất lượng đời sống”22. Để hiện thực hóa điều này, cần áp dụng các chính sách đặc thù như hỗ trợ học bổng, điều động cán bộ trẻ về cơ sở và cơ chế đãi ngộ vượt trội nhằm thu hút nhân lực trình độ cao về địa bàn khó khăn. Mục tiêu cốt lõi là xóa bỏ định kiến về địa lý, chuyển hóa lợi thế dân số tại các khu vực này thành sức mạnh trí tuệ thực chất.

Bên cạnh đó, yêu cầu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đẩy mạnh thu hút và trọng dụng nhân tài; đồng thời nâng cao năng lực hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia theo hướng lấy doanh nghiệp làm trung tâm và thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân. Điều này tạo cơ sở để huy động sự tham gia của khu vực tư nhân trong đào tạo, sử dụng và phát huy nguồn nhân lực chất lượng cao.

5. Kết luận

Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng không chỉ là sự kế thừa tinh hoa lý luận qua các thời kỳ mà còn là sự nâng tầm tư duy phù hợp với xu thế kinh tế tri thức và xã hội số. Hệ thống quan điểm mới từ việc lấy con người là trung tâm, gắn kết nhân lực với khoa học, công nghệ, phát triển toàn diện nhân cách đến đảm bảo tính công bằng bao trùm đã thể hiện tầm nhìn chiến lược toàn diện, nhất quán và có tính khả thi cao.

Để hiện thực hóa khát vọng trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045, Việt Nam cần thực hiện đồng bộ và quyết liệt các nhiệm vụ trọng tâm: hoàn thiện thể chế “đột phá của đột phá”; đổi mới căn bản giáo dục theo chuẩn quốc tế; dồn lực đào tạo nhân tài cho các ngành công nghệ chiến lược như chip bán dẫn và AI; xây dựng cơ chế vượt trội thu hút và trọng dụng nhân tài; gắn kết phát triển nhân lực với văn hóa và con người; đồng thời bảo đảm tính công bằng, bao trùm trong phân bổ nguồn nhân lực. Sự hình thành một hệ sinh thái đào tạo bền vững với mô hình “Nhà nước – Nhà trường – Doanh nghiệp” sẽ là bệ phóng để biến lợi thế dân số vàng thành sức mạnh trí tuệ quốc gia, đưa Việt Nam vững bước và khẳng định vị thế trên trường quốc tế trong kỷ nguyên mới.

Chú thích:
1, 4, 6, 7, 8, 9, 10, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 21, 22. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập I. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 37 – 38, 107, 33, 147, 103, 107, 146, 268, 269, 60, 101, 101, 101, 106, 147, 271, 33.
2, 3, 5, 11, 20. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập II. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 388, 385, 270, 388, 270.
Tài liệu tham khảo:
1. Nguyễn Đức Tiến (2026). Người lao động – yếu tố cốt lõi trong phát triển lực lượng sản xuất ở Việt Nam. Tạp chí Tổ chức nhà nước và Lao động, kỳ 1 (02/2026), tr. 51 – 54.
2. Lê Thị Thục (2025). Đẩy mạnh thực hiện đột phá chiến lược về phát triển nguồn nhân lực. Tạp chí Lý luận chính trị số 570 (8/2025), tr. 81 – 87.
3. Phan Mạnh Toàn (2023). Nguồn nhân lực Việt Nam hiện nay – Thực trạng và giải pháp. Tạp chí Triết học và Đời sống số 2 (12/2023), tr. 73 – 79.
4. Nguồn nhân lực chất lượng cao – nền tảng hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước. https://dangcongsan.org.vn/tphochiminh/tin-tuc-hoat-dong/nguon-nhan-luc-chat-luong-cao-nen-tang-hien-thuc-hoa-khat-vong-phat-trien-dat-nuoc.html
5. Thúc đẩy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo thực sự trở thành động lực chính của mô hình tăng trưởng mới theo tinh thần Đại hội XIV của Đảng. https://www.quanlynhanuoc.vn/2026/05/12/thuc-day-khoa-hoc-cong-nghe-doi-moi-sang-tao-thuc-su-tro-thanh-dong-luc-chinh-cua-mo-hinh-tang-truong-moi-theo-tinh-than-dai-hoi-xiv-cua-dang/