Foreign direct investment attraction in Ho Chi Minh City: from leading in quantity to enhancing quality
ThS. Nguyễn Thị Hòa
Trường Đại học Thủ Dầu Một
(Quanlynhanuoc.vn) – TP. Hồ Chí Minh duy trì vị thế dẫn đầu cả nước về thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong nhiều thập kỷ. Bài viết phân tích thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Thành phố từ năm 2010 – 2025 trên hai khía cạnh số lượng và chất lượng, sử dụng khung lý thuyết OLI của Dunning. Kết quả cho thấy, mặc dù đạt quy mô lớn nhưng đầu tư trực tiếp nước ngoài vẫn thiên về góp vốn, mua cổ phần thay vì sản xuất công nghệ cao, tỷ lệ vốn thực hiện thấp, chuyển giao công nghệ và liên kết nội địa hạn chế do mất cân đối giữa các lợi thế O – L – I. Bài viết đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng đầu tư trực tiếp nước ngoài, gồm: hoàn thiện tiêu chí lựa chọn đầu tư trực tiếp nước ngoài chiến lược; tăng cường giám sát hậu kiểm; phát triển nhân lực chất lượng cao và xây dựng hệ sinh thái liên kết doanh nghiệp.
Từ khóa: Đầu tư trực tiếp nước ngoài; chất lượng đầu tư; OLI; khu công nghệ cao; chuyển giao công nghệ; TP. Hồ Chí Minh.
Abstract: Ho Chi Minh City has maintained its position as the country’s leading destination for foreign direct investment (FDI) for several decades. This article analyzes the state of FDI in the city during the period 2010-2025 from both quantitative and qualitative perspectives, using Dunning’s OLI (Ownership-Location-Internalization) framework. The findings indicate that despite achieving a large investment scale, FDI in Ho Chi Minh City remains concentrated in capital contributions and share acquisitions rather than high-technology manufacturing activities. The ratio of implemented capital remains relatively low, while technology transfer and domestic linkages are limited due to imbalances among Ownership (O), Location (L), and Internalization (I) advantages. This article proposes several solutions, including refining criteria for the selection of strategic FDI projects, strengthening ex-post monitoring and evaluation mechanisms, developing high-quality human resources, and fostering an ecosystem that promotes business linkages.
Keywords: Foreign direct investment (FDI); investment quality; OLI framework; high-tech park; technology transfer; Ho Chi Minh City.
1. Đặt vấn đề
Trong hơn ba thập kỷ kể từ khi Luật Đầu tư nước ngoài được ban hành năm 1987, TP. Hồ Chí Minh luôn giữ vị trí số 1 về thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại Việt Nam. Tỷ trọng vốn đăng ký của TP. Hồ Chí Minh dao động từ 15,37% (năm 2010) đến 17% (năm 2015) và 15,26% (năm 2020)1. Năm 2023, TP. Hồ Chí Minh tiếp tục dẫn đầu với 5,85 tỷ USD vốn đăng ký, chiếm xấp xỉ 16% tổng vốn cả nước, tăng 48,5% so với năm 20222. Đến năm 2025, vốn đăng ký là 8,37 tỷ USD3.
Tuy nhiên, phần lớn các nghiên cứu hiện nay về FDI tại TP. Hồ Chí Minh tập trung vào quy mô thu hút vốn, cơ cấu ngành hoặc tác động kinh tế vĩ mô, trong khi khía cạnh chất lượng FDI dưới góc độ quản lý nhà nước vẫn chưa được phân tích đầy đủ. Đặc biệt, sau khi Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 50-NQ/TW ngày 20/8/2019 về định hướng hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài đến năm 2030; đồng thời, TP. Hồ Chí Minh được thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển TP. Hồ Chí Minh theo Nghị quyết số 98/2023/QH15 ngày 24/6/2023 của Quốc hội. Trong bối cảnh đó, bài viết tập trung phân tích chất lượng FDI tại TP. Hồ Chí Minh, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện.
2. Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
2.1. Khung lý thuyết OLI và chất lượng đầu tư trực tiếp nước ngoài
Lý thuyết OLI (Ownership-Location-Internalisation) của Dunning (1977)4 là khung phân tích cốt lõi của bài viết này. Theo đó, doanh nghiệp đa quốc gia (MNC) quyết định đầu tư ra nước ngoài khi hội đủ ba lợi thế: lợi thế sở hữu (O) – tài sản độc quyền về công nghệ, thương hiệu, quy trình; lợi thế vị trí (L) – các điều kiện đặc thù của nước nhận đầu tư (thị trường, lao động, hạ tầng, chính sách) và lợi thế nội địa hóa (I) – lợi ích khi tự vận hành thay vì cấp phép (li-xăng) hay xuất khẩu.
Bài viết vận dụng khung OLI để lý giải cơ cấu FDI tại TP. Hồ Chí Minh theo hai chiều. Thứ nhất, lợi thế vị trí (L) của Thành phố với quy mô thị trường lớn, hệ sinh thái tài chính – dịch vụ phát triển và vai trò trung tâm kinh tế vùng đang thu hút mạnh dòng vốn FDI vào lĩnh vực dịch vụ và bất động sản hơn là sản xuất công nghệ cao. Thứ hai, lợi thế nội địa hóa (I) thể hiện qua tỷ lệ cao các dự án 100% vốn nước ngoài góp phần lý giải vì sao hiệu ứng lan tỏa công nghệ và liên kết với doanh nghiệp trong nước còn hạn chế.
Chất lượng FDI được đánh giá theo 4 tiêu chí: (1) Tỷ lệ vốn thực hiện trên vốn đăng ký; (2) Hàm lượng công nghệ trong dự án; (3) Mức độ chuyển giao công nghệ sang doanh nghiệp nội địa; (4) Cơ cấu lao động trong khu vực FDI.
2.2. Phương pháp và nguồn dữ liệu
Bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp phân tích thống kê mô tả. Ngoài thống kê mô tả, bài viết còn sử dụng phương pháp phân tích chính sách công nhằm đánh giá mức độ phù hợp giữa các công cụ quản lý nhà nước hiện hành với mục tiêu nâng cao chất lượng FDI. Cách tiếp cận này cho phép không chỉ nhận diện thực trạng mà còn đề xuất các giải pháp quản trị phù hợp với thẩm quyền của chính quyền đô thị TP. Hồ Chí Minh trong khuôn khổ các cơ chế đặc thù hiện hành.
3. Thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại TP. Hồ Chí Minh từ năm 2010 đến nay
Theo thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư (nay là Bộ Tài chính), từ năm 2010 – 2020, TP. Hồ Chí Minh liên tục giữ vị trí số 1 trong bảng xếp hạng địa phương thu hút FDI theo tỷ trọng vốn đăng ký. Đặc biệt, năm 2015, đánh dấu thời điểm TP. Hồ Chí Minh đạt tỷ trọng cao nhất (17%), gắn với tác động tích cực của Luật Đầu tư năm 2014 và sự phát triển mạnh của hoạt động M&A trong lĩnh vực dịch vụ5.
Giai đoạn 2021 – 2025, đánh dấu sự phục hồi mạnh mẽ và mở rộng quy mô thu hút FDI của TP. Hồ Chí Minh trong bối cảnh kinh tế toàn cầu nhiều biến động. Năm 2021, Thành phố thu hút khoảng 4,36 tỷ USD vốn FDI đăng ký, chiếm gần 15,3% tổng vốn đăng ký của cả nước, dù vẫn chịu ảnh hưởng nặng nề từ đại dịch Covid-19. Từ năm 2022, hoạt động đầu tư dần phục hồi với 927 dự án được cấp phép mới, tạo nền tảng cho sự tăng trưởng trong các năm tiếp theo. Đến năm 2023, TP. Hồ Chí Minh lấy lại vị trí dẫn đầu cả nước với 5,85 tỷ USD vốn đăng ký, tăng 48,5% so với năm 2022; đồng thời, có 12.300 dự án FDI còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký đạt 57,25 tỷ USD6. Kết quả này khẳng định sức hấp dẫn của Thành phố đối với các nhà đầu tư quốc tế và vai trò trung tâm kinh tế lớn nhất cả nước trong thu hút dòng vốn FDI.
Bước ngoặt quan trọng từ ngày 01/7/2025 khi TP. Hồ Chí Minh được hợp nhất với tỉnh Bình Dương và tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu theo Nghị quyết 202/2025/QH15 ngày 12/6/2025, hình thành một siêu đô thị có diện tích 6.772,59km2, quy mô dân số là 14.002.598 người7. Việc mở rộng không gian kinh tế đã góp phần nâng tổng vốn FDI đăng ký năm 2025 lên 8,37 tỷ USD, tăng 24,2% so với năm 2024, bao gồm: 1.865 dự án cấp mới, 432 dự án điều chỉnh vốn và 2.700 trường hợp góp vốn, mua cổ phần. Lũy kế đến cuối năm 2025, TP. Hồ Chí Minh có 20.310 dự án FDI còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký đạt 141,9 tỷ USD, tiếp tục dẫn đầu cả nước8. Tuy nhiên, số liệu lũy kế sau tháng 7/2025 đã bao gồm toàn bộ FDI tích lũy của tỉnh Bình Dương và tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu nên không thể so sánh trực tiếp với các năm trước. Bên cạnh đó, cơ cấu FDI vẫn bộc lộ hạn chế khi 73,3% vốn FDI năm 2023 đến từ hình thức góp vốn, mua cổ phần, tập trung chủ yếu vào bất động sản và tài chính – ngân hàng, cho thấy, dòng vốn còn thiên về chuyển nhượng tài sản và dịch vụ hơn là đầu tư sản xuất mới tạo giá trị gia tăng cho nền kinh tế9.
4. Vận dụng lý thuyết OLI để phân tích cấu trúc và chất lượng FDI
4.1. Lý giải cơ cấu đầu tư trực tiếp nước ngoài qua lăng kính OLI
Vận dụng mô hình OLI để phân tích chất lượng FDI cho thấy, lợi thế vị trí (L) hiện là yếu tố nổi trội nhất của TP. Hồ Chí Minh trong thu hút FDI. Với quy mô thị trường tiêu dùng lớn, hệ thống logistics phát triển và trung tâm tài chính – dịch vụ hàng đầu cả nước, Thành phố thu hút mạnh dòng vốn vào các lĩnh vực dịch vụ và bất động sản hơn là sản xuất công nghệ cao. Điều này được phản ánh qua cơ cấu FDI năm 2023 khi bất động sản chiếm tới 48% giá trị góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài10. Mặc dù các lợi thế này giúp TP. Hồ Chí Minh duy trì vị thế dẫn đầu về quy mô FDI, song chưa đủ sức cạnh tranh với cụm Hà Nội – Bắc Ninh trong thu hút các dự án điện tử, bán dẫn và sản xuất công nghệ cao. Do đó, để nâng cao chất lượng FDI, TP. Hồ Chí Minh cần chuyển từ lợi thế thị trường sang lợi thế công nghệ thông qua mở rộng khu công nghệ cao, phát triển hạ tầng số và các khu thương mại tự do theo định hướng của Nghị quyết số 98/2023/QH1511.
Bên cạnh hạn chế về lợi thế vị trí đối với ngành công nghệ cao, phân tích OLI cũng cho thấy, những rào cản trong chuyển giao công nghệ và liên kết với khu vực doanh nghiệp trong nước. Một bộ phận đáng kể doanh nghiệp FDI tại TP. Hồ Chí Minh là doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ đến từ Hàn Quốc, Nhật Bản và Đài Loan (Trung Quốc), không sở hữu lợi thế công nghệ vượt trội so với doanh nghiệp nội địa. Điều này góp phần lý giải vì sao, 73,3% vốn FDI năm 2023 được thực hiện dưới hình thức góp vốn, mua cổ phần thay vì đầu tư mới, qua đó, hạn chế khả năng tạo ra công nghệ và năng lực sản xuất mới cho nền kinh tế12. Đồng thời, hơn 70% dự án FDI hoạt động theo mô hình 100% vốn nước ngoài cho thấy, các nhà đầu tư có xu hướng nội địa hóa thấp và ít phụ thuộc vào đối tác trong nước. Hệ quả là hiệu ứng lan tỏa công nghệ, kỹ năng quản trị và phát triển chuỗi cung ứng nội địa còn hạn chế. Theo lý thuyết OLI, hiệu ứng lan tỏa chỉ được cải thiện khi tăng cường các hình thức liên doanh hoặc nâng cao năng lực doanh nghiệp nội địa để tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng của khu vực FDI.
4.2. Điểm sáng: khu công nghệ cao TP. Hồ Chí Minh – mô hình O mạnh thu hút L tốt
Khu Công nghệ cao TP. Hồ Chí Minh là ví dụ điển hình về cách tạo ra lợi thế L đặc thù để thu hút FDI có lợi thế O mạnh (MNCs đầu ngành công nghệ cao toàn cầu). Sau hơn 20 năm thành lập, Khu Công nghệ cao TP. Hồ Chí Minh (SHTP) có khoảng 130 dự án với tổng vốn đăng ký gần 7.000 triệu USD, bình quân khoảng 54 triệu USD/dự án, cao gấp 4,7 lần mức bình quân vốn đăng ký/dự án cả nước13. Các tập đoàn Intel, Microsoft, Nidec, Sanofi, Nipro, Samsung đều có mặt, đặc biệt Samsung đã đưa vào hoạt động trung tâm R&D với vốn hàng trăm triệu USD, phản ánh sự dịch chuyển từ lợi thế I (bảo hộ công nghệ) sang chủ động R&D tại chỗ14.
Trong bối cảnh Nghị quyết 98/2023/QH15 trao cho TP. Hồ Chí Minh quyền ban hành ưu đãi bổ sung cho “nhà đầu tư chiến lược” (Điều 7), mô hình khu công nghệ cao TP. Hồ Chí Minh là nền tảng để nhân rộng thu hút FDI công nghệ cao có chọn lọc ra toàn Thành phố. Kinh nghiệm này cho thấy, việc nâng cao chất lượng FDI không chỉ phụ thuộc vào ưu đãi đầu tư mà còn phụ thuộc vào khả năng kiến tạo các lợi thế vị trí chuyên biệt để thu hút nhà đầu tư sở hữu công nghệ nguồn và hoạt động R&D.
4.3. Hạn chế chất lượng đầu tư trực tiếp nước ngoài
Mặc dù TP. Hồ Chí Minh luôn dẫn đầu cả nước về thu hút FDI, chất lượng dòng vốn đầu tư vẫn bộc lộ nhiều hạn chế. Một trong những vấn đề nổi bật là khoảng cách giữa vốn đăng ký và vốn thực hiện còn lớn. Giai đoạn 2010 – 2021, tỷ lệ vốn thực hiện trên vốn đăng ký chỉ đạt khoảng 46%, đến năm 2021 mới tăng lên khoảng 56%, đặc biệt thấp ở các dự án bất động sản15. Thực tế này phản ánh tình trạng đăng ký vốn lớn nhưng giải ngân chậm hoặc không triển khai đầy đủ, xuất phát từ hiện tượng “vốn ảo”, đăng ký để giữ đất hoặc hưởng ưu đãi đầu tư cũng như năng lực tài chính hạn chế của một bộ phận nhà đầu tư nước ngoài. Tương tự, năm 2022, TP. Hồ Chí Minh thu hút 927 dự án FDI với tổng vốn đăng ký 7,331 tỷ USD, nhưng vốn sản xuất – kinh doanh của khu vực FDI chỉ chiếm 21,86% tổng vốn doanh nghiệp toàn Thành phố, tăng không đáng kể so với mức 13,42% năm 201016. Điều này cho thấy, quy mô vốn đăng ký tăng nhanh nhưng mức độ tích lũy vốn thực chất và đóng góp vào năng lực sản xuất của nền kinh tế chưa tương xứng.
Một hạn chế khác liên quan trực tiếp đến chất lượng công nghệ và khả năng lan tỏa của khu vực FDI. Trong năm 2020, chỉ có khoảng 5% doanh nghiệp FDI tại Việt Nam sử dụng công nghệ cao, trong khi 80% sử dụng công nghệ trung bình và 14% công nghệ thấp17. Đáng chú ý, hoạt động chuyển giao công nghệ chủ yếu diễn ra giữa công ty mẹ và công ty con trong cùng tập đoàn, hầu như chưa hình thành các hợp đồng chuyển giao công nghệ từ doanh nghiệp FDI sang doanh nghiệp Việt Nam. Nguyên nhân xuất phát từ mô hình đầu tư khép kín với tỷ lệ doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài cao, khiến liên kết chuỗi cung ứng nội địa còn yếu18. Bên cạnh đó, hiện tượng chuyển giá, vốn mỏng và đầu tư núp bóng vẫn tồn tại do cơ sở dữ liệu giữa thuế, hải quan và đầu tư chưa được kết nối hiệu quả. Chất lượng lao động cũng là điểm nghẽn khi khoảng 80% lao động trong khu vực FDI không có bằng cấp hoặc chứng chỉ nghề, tỷ lệ gần như không thay đổi trong hơn một thập niên19. Những hạn chế này cho thấy, thách thức không chỉ nằm ở việc thu hút nhiều vốn FDI hơn mà còn ở việc nâng cao hàm lượng công nghệ, năng lực liên kết và giá trị gia tăng của dòng vốn đầu tư nước ngoài.
Dưới góc độ mô hình OLI, các hạn chế về công nghệ, chuyển giao công nghệ và liên kết doanh nghiệp nội địa phản ánh sự mất cân đối giữa ba nhóm lợi thế O-L-I. Trong khi lợi thế vị trí (L) của TP. Hồ Chí Minh đủ mạnh để thu hút dòng vốn FDI quy mô lớn, đặc biệt trong lĩnh vực dịch vụ và bất động sản, thì lợi thế sở hữu (O) của nhiều nhà đầu tư chưa thực sự dựa trên công nghệ nguồn hoặc hoạt động nghiên cứu – phát triển. Đồng thời, lợi thế nội địa hóa (I) quá mạnh khiến doanh nghiệp FDI có xu hướng tổ chức sản xuất theo mô hình khép kín, hạn chế hợp tác với doanh nghiệp trong nước. Điều này lý giải vì sao TP. Hồ Chí Minh dẫn đầu về quy mô FDI nhưng hiệu ứng lan tỏa công nghệ và năng suất đối với khu vực doanh nghiệp nội địa còn tương đối hạn chế.
5. Một số giải pháp
Từ các kết quả phân tích thực trạng và vận dụng khung lý thuyết OLI, có thể thấy, các hạn chế về chất lượng FDI tại TP. Hồ Chí Minh không chỉ xuất phát từ đặc điểm của nhà đầu tư nước ngoài mà còn liên quan đến cơ chế lựa chọn dự án, hệ thống giám sát thực thi, chính sách phát triển nguồn nhân lực và năng lực kết nối doanh nghiệp nội địa. Vì vậy, nâng cao chất lượng FDI cần được tiếp cận như một nhiệm vụ quản lý nhà nước, trong đó chính quyền Thành phố đóng vai trò kiến tạo thể chế, điều phối nguồn lực và giám sát hiệu quả đầu tư.
Thứ nhất, hoàn thiện tiêu chí lựa chọn FDI chiến lược. Trọng tâm của chính sách thu hút FDI trong giai đoạn tới cần chuyển từ ưu tiên quy mô vốn sang ưu tiên chất lượng và hiệu quả lan tỏa. Trên cơ sở thẩm quyền được giao theo Nghị quyết số 98/2023/QH15, TP. Hồ Chí Minh cần xây dựng bộ tiêu chí lựa chọn nhà đầu tư chiến lược theo hướng định lượng, bao gồm các chỉ tiêu về hàm lượng công nghệ, tỷ lệ chi cho nghiên cứu và phát triển (R&D), cam kết chuyển giao công nghệ, tỷ lệ sử dụng lao động kỹ thuật cao và mức độ liên kết với doanh nghiệp trong nước. Các lĩnh vực ưu tiên nên tập trung vào bán dẫn, trí tuệ nhân tạo (AI), công nghệ sinh học, năng lượng xanh, logistics thông minh và dịch vụ tài chính quốc tế. Việc chuyển từ cơ chế ưu đãi đại trà sang ưu đãi có điều kiện sẽ giúp nâng cao chất lượng dòng vốn; đồng thời, phù hợp với mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng đổi mới sáng tạo và kinh tế tri thức.
Thứ hai, nâng cao hiệu lực giám sát và hậu kiểm dự án FDI. Bên cạnh việc lựa chọn nhà đầu tư, cần tăng cường công tác giám sát và hậu kiểm nhằm hạn chế tình trạng đăng ký vốn lớn nhưng giải ngân thấp, chuyển giá hoặc đầu tư không đúng cam kết. TP. Hồ Chí Minh cần xây dựng cơ chế chia sẻ dữ liệu giữa cơ quan thuế, hải quan, tài chính và quản lý đầu tư để theo dõi toàn bộ vòng đời của dự án FDI. Đồng thời, các chỉ tiêu, như: tỷ lệ vốn thực hiện trên vốn đăng ký, mức độ thực hiện cam kết chuyển giao công nghệ, tỷ lệ nội địa hóa và đóng góp ngân sách cần được đưa vào hệ thống đánh giá định kỳ. Đối với các dự án có dấu hiệu chuyển giá hoặc kéo dài thời gian triển khai, cần áp dụng cơ chế thanh tra chuyên đề và công khai kết quả xử lý. Giải pháp này không chỉ nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước mà còn góp phần sàng lọc các dự án FDI có chất lượng thấp.
Thứ ba, phát triển nguồn nhân lực cho các ngành công nghệ cao. Chất lượng nguồn nhân lực là yếu tố quyết định khả năng thu hút FDI công nghệ cao trong dài hạn. Trong bối cảnh chỉ khoảng 5% doanh nghiệp FDI sử dụng công nghệ cao và phần lớn lao động trong khu vực FDI chưa qua đào tạo chuyên sâu20, TP. Hồ Chí Minh cần xây dựng chương trình phát triển nhân lực gắn với nhu cầu của các ngành bán dẫn, điện tử, tự động hóa, công nghệ sinh học và AI. Thành phố cần thúc đẩy mô hình hợp tác ba bên giữa chính quyền, cơ sở đào tạo và doanh nghiệp FDI nhằm xây dựng chương trình đào tạo theo đơn đặt hàng của doanh nghiệp. Đồng thời, cần sử dụng hiệu quả các cơ chế tài chính đặc thù để hỗ trợ đào tạo nhân lực chất lượng cao, tạo nguồn cung lao động đáp ứng yêu cầu của các dự án công nghệ cao và trung tâm R&D trong tương lai.
Thứ tư, tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước. Để nâng cao hiệu ứng lan tỏa của FDI, TP. Hồ Chí Minh cần chuyển trọng tâm từ thu hút đầu tư đơn thuần sang phát triển hệ sinh thái liên kết sản xuất. Thành phố cần xây dựng cơ sở dữ liệu về doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp đổi mới sáng tạo và doanh nghiệp nhỏ và vừa có khả năng tham gia chuỗi cung ứng của khu vực FDI. Đồng thời, cần thiết kế các chính sách khuyến khích doanh nghiệp FDI tăng tỷ lệ mua sắm nội địa thông qua hỗ trợ chi phí hạ tầng, xúc tiến thương mại và kết nối cung cầu. Việc hình thành các trung tâm kết nối doanh nghiệp và nền tảng số chia sẻ thông tin giữa khu vực FDI với doanh nghiệp trong nước sẽ giúp giảm chi phí tìm kiếm đối tác và mở rộng cơ hội hợp tác. Đây là giải pháp quan trọng để gia tăng chuyển giao công nghệ, nâng cao năng lực doanh nghiệp nội địa và tạo giá trị gia tăng lớn hơn cho nền kinh tế địa phương.
6. Kết luận
Nghiên cứu đã phân tích thực trạng thu hút và sử dụng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại TP. Hồ Chí Minh giai đoạn 2010 – 2025 trên cả hai phương diện quy mô và chất lượng. Kết quả cho thấy, TP. Hồ Chí Minh tiếp tục duy trì vị thế địa phương dẫn đầu cả nước về thu hút FDI với tỷ trọng vốn đăng ký luôn ở mức cao, khẳng định vai trò trung tâm kinh tế và đầu mối thu hút đầu tư nước ngoài lớn nhất cả nước của TP. Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, lợi thế về quy mô chưa đồng nghĩa với chất lượng FDI tương xứng. Cơ cấu dòng vốn vẫn nghiêng mạnh về hình thức góp vốn, mua cổ phần; tỷ lệ vốn thực hiện trên vốn đăng ký còn thấp; mức độ chuyển giao công nghệ và liên kết với doanh nghiệp trong nước còn hạn chế; trong khi chất lượng lao động chưa đáp ứng yêu cầu của các ngành công nghệ cao. Dưới góc độ lý thuyết OLI, những hạn chế này xuất phát từ việc lợi thế vị trí (L) của TP. Hồ Chí Minh hiện chủ yếu hấp dẫn FDI trong lĩnh vực dịch vụ và bất động sản, còn lợi thế nội địa hóa (I) lại khuyến khích mô hình đầu tư khép kín, làm suy giảm hiệu ứng lan tỏa công nghệ và phát triển chuỗi cung ứng nội địa.
Từ góc độ quản lý nhà nước, kết quả nghiên cứu cho thấy, yêu cầu cấp thiết hiện nay không phải là tiếp tục gia tăng số lượng dự án hay quy mô vốn đăng ký mà là xây dựng hệ thống chính sách hướng tới chất lượng FDI. Điều này đòi hỏi TP. Hồ Chí Minh phải chuyển từ tư duy “thu hút vốn” sang “quản trị chất lượng dòng vốn”, thông qua việc hoàn thiện tiêu chí lựa chọn nhà đầu tư chiến lược, tăng cường hậu kiểm dự án, phát triển nguồn nhân lực công nghệ cao và thúc đẩy liên kết giữa khu vực FDI với doanh nghiệp trong nước. Trong bối cảnh không gian phát triển được mở rộng sau sáp nhập và cơ chế đặc thù theo Nghị quyết số 98/2023/QH15 tiếp tục được hoàn thiện, TP. Hồ Chí Minh có điều kiện thuận lợi để tái cấu trúc mô hình thu hút FDI theo hướng công nghệ cao, đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững, qua đó, chuyển dịch từ mục tiêu dẫn đầu về số lượng sang dẫn đầu về chất lượng đầu tư nước ngoài.
Chú thích:
1, 14, 17, 20. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2020). Đề án chiến lược hợp tác đầu tư nước ngoài giai đoạn 2021-2030.
2. Cục Đầu tư nước ngoài (2024). Báo cáo tình hình thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam năm 2024.
3, 8. Sở Tài chính TP. Hồ Chí Minh (2025). Báo cáo tình hình kinh tế – xã hội và thu hút FDI năm 2025.
4. Dunning, J. H. (1977). Trade, location of economic activity and the multinational enterprise: A search for an eclectic approach. In B. Ohlin, P. O. Hesselborn, & P. M. Wijkman (Eds.). The international allocation of economic activity (pp. 395-418). Macmillan.
5, 11, 13, 15. Lê Như Quỳnh (2023). Chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam đến năm 2030. Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Thương mại.
6. Cục Thống kê TP. Hồ Chí Minh (2024). Báo cáo tình hình kinh tế – xã hội Thành phố Hồ Chí Minh năm 2024.
7. TP. Hồ Chí Minh, Bình Dương và Bà Rịa-Vũng Tàu bàn phương án sắp xếp tổ chức bộ máy. https://nhandan.vn/tp-ho-chi-minh-binh-duong-va-ba-ria-vung-tau-ban-phuong-an-sap-xep-to-chuc-bo-may-post887225.html
9, 10, 12. Cục Thống kê TP. Hồ Chí Minh (2023). Niên giám thống kê TP. Hồ Chí Minh năm 2023.
16. Cục Thống kê TP. Hồ Chí Minh (2022). Niên giám thống kê TP. Hồ Chí Minh năm 2022. NXB. Thống kê.
18. Phan Hữu Thắng (2022). Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong khu vực FDI tại Việt Nam. Tạp chí Kinh tế đối ngoại, số 134, tr 45 – 58.
19. Phan Hữu Thắng (2021). Đánh giá thực trạng thu hút và sử dụng vốn FDI tại Việt Nam giai đoạn 2010 – 2021. Kỷ yếu Hội thảo quốc gia về đầu tư nước ngoài.
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Chính trị (2019). Nghị quyết số 50-NQ/TW ngày 20/8/2019 về định hướng hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài đến năm 2030.
2. Quốc hội (2023). Nghị quyết số 98/2023/QH15 ngày 24/6/2023 về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển TP. Hồ Chí Minh.
3. Quốc hội (2025). Nghị quyết số 202/2025/QH15 về sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh.



